Luận án nghiên cứu đa dạng loài và thành phần hóa học tinh dầu họ Sim tại tỉnh Hà Tĩnh

Nghiên cứu đa dạng loài và thành phần hóa học tinh dầu họ sim Myrtaceae tại tỉnh Hà Tĩnh, góp phần bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Trường đại học

Trường Đại học Vinh

Chuyên ngành

Thực vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

252
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục tiêu chung

0.3. Mục tiêu cụ thể

0.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

0.4.1. Ý nghĩa khoa học

0.4.2. Ý nghĩa thực tiễn

0.5. Đóng góp mới của Luận án

0.6. Bố cục của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình nghiên cứu họ Sim (Myrtaceae)

1.1.1. Trên thế giới

1.1.2. Ở Việt Nam

1.2. Khái niệm về tinh dầu

1.3. Trạng thái tinh dầu trong tự nhiên

1.4. Giá trị sử dụng của các loài trong họ Sim (Myrtaceae)

1.5. Đặc điểm sinh học của các loài trong họ Sim (Myrtaceae)

1.6. Đặc điểm hình thái của các loài trong họ Sim (Myrtaceae)

1.7. Đặc điểm sinh thái, mùa hoa, mùa quả của các loài trong họ Sim (Myrtaceae)

1.8. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ở khu vực nghiên cứu

1.8.1. Điều kiện tự nhiên

1.8.2. Các nguồn tài nguyên

1.8.3. Điều kiện kinh tế và xã hội

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp nghiên cứu thực vật

2.3.2. Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu

2.3.3. Phương pháp thử hoạt tính sinh học

2.3.4. Phương pháp xử lí số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đa dạng họ Sim (Myrtaceae) ở tỉnh Hà Tĩnh

3.2. Các loài trong họ Sim (Myrtaceae) được bổ sung thêm vùng phân bố ở Hà Tĩnh

3.3. Đa dạng về dạng thân

3.4. Đa dạng về giá trị sử dụng

3.5. Đặc điểm của các loài trong họ Sim (Myrtaceae) ở tỉnh Hà Tĩnh

3.5.1. Chi Chổi xuể (Baeckea L.)

3.5.2. Chi Tràm bông đỏ (Callistemon R.)

3.5.3. Chi Trâm vối (Cleistocalyx Blume, 1826)

3.5.4. Chi Thập tử (Decaspermum Forst.)

3.5.5. Chi Bạch đàn (Eucalyptus L’Her.)

3.5.6. Chi Trâm sơ ri (Eugenia L.)

3.5.7. Chi Feijoa (Feijoa O.)

3.5.8. Chi Tràm (Melaleuca L.)

3.5.9. Chi Myrciaria (Myrciaria O.)

3.5.10. Chi Ổi (Psidium L.)

3.5.11. Chi Sim rừng (Rhodamnia Jack, 1882)

3.5.12. Chi Sim (Rhodomyrtus (DC.))

3.5.13. Chi Trâm (Syzygium Gaertn.)

3.6. Thành phần hóa học trong tinh dầu của một số loài thuộc họ Sim (Myrtaceae) ở tỉnh Hà Tĩnh

3.6.1. Chi Trâm vối (Cleistocalyx Blume 1826)

3.6.2. Chi Thập tử (Decaspermum Forst.)

3.6.3. Chi Tràm (Melaleuca L.)

3.6.4. Chi Sim rừng (Rhodamnia Jack 1882)

3.6.5. Chi Trâm (Syzygium Gaertn.)

3.7. Bước đầu thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của tinh dầu lá một số loài trong họ Sim (Myrtaceae)

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu đa dạng loài và tinh dầu họ Sim ở Hà Tĩnh

Nghiên cứu đa dạng loài và tinh dầu họ Sim (Myrtaceae) ở Hà Tĩnh là một lĩnh vực quan trọng trong sinh học và bảo tồn. Họ Sim là một trong những họ thực vật lớn, với nhiều loài có giá trị kinh tế và sinh thái. Tại Hà Tĩnh, khu vực này có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài thực vật, trong đó có họ Sim. Việc nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sự đa dạng sinh học mà còn góp phần vào công tác bảo tồn và phát triển bền vững.

1.1. Đặc điểm sinh học và phân bố của họ Sim ở Hà Tĩnh

Họ Sim (Myrtaceae) bao gồm nhiều chi và loài khác nhau, với đặc điểm sinh học phong phú. Tại Hà Tĩnh, các loài trong họ Sim thường phân bố ở các khu rừng nhiệt đới và á nhiệt đới. Nghiên cứu cho thấy có ít nhất 63 loài thuộc 13 chi được ghi nhận, trong đó nhiều loài có giá trị sử dụng cao như làm thuốc, cung cấp tinh dầu và gỗ.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu đa dạng sinh học

Nghiên cứu đa dạng sinh học không chỉ giúp bảo tồn các loài thực vật mà còn cung cấp thông tin quý giá cho việc phát triển kinh tế địa phương. Việc hiểu rõ về các loài trong họ Sim sẽ giúp chính quyền địa phương có cơ sở để xây dựng các chính sách bảo tồn và khai thác hợp lý.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu họ Sim ở Hà Tĩnh

Mặc dù có nhiều giá trị, nhưng nghiên cứu về họ Sim ở Hà Tĩnh vẫn gặp phải nhiều thách thức. Một trong những vấn đề chính là thiếu thông tin về đa dạng loài và thành phần hóa học của tinh dầu. Điều này ảnh hưởng đến khả năng bảo tồn và phát triển bền vững các loài thực vật này.

2.1. Thiếu thông tin về đa dạng loài

Nhiều loài trong họ Sim chưa được nghiên cứu đầy đủ về đặc điểm sinh học và phân bố. Việc này dẫn đến khó khăn trong công tác bảo tồn và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thực vật.

2.2. Nguy cơ mất đa dạng sinh học

Sự phát triển kinh tế và đô thị hóa có thể dẫn đến mất môi trường sống tự nhiên của các loài trong họ Sim. Điều này đặt ra thách thức lớn cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững.

III. Phương pháp nghiên cứu đa dạng loài và tinh dầu họ Sim

Để nghiên cứu đa dạng loài và thành phần hóa học của tinh dầu họ Sim, nhiều phương pháp đã được áp dụng. Các phương pháp này bao gồm khảo sát thực địa, thu thập mẫu, phân tích hóa học và thử nghiệm hoạt tính sinh học.

3.1. Khảo sát thực địa và thu thập mẫu

Khảo sát thực địa là bước đầu tiên trong nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành thu thập mẫu từ nhiều khu vực khác nhau ở Hà Tĩnh để đảm bảo tính đại diện cho sự đa dạng loài.

3.2. Phân tích thành phần hóa học của tinh dầu

Phân tích thành phần hóa học của tinh dầu được thực hiện bằng các phương pháp sắc ký khí và khối phổ. Điều này giúp xác định các hợp chất chính có trong tinh dầu và đánh giá giá trị sử dụng của chúng.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy họ Sim ở Hà Tĩnh có sự đa dạng cao với nhiều loài có giá trị kinh tế. Các thành phần hóa học trong tinh dầu cũng được xác định rõ ràng, mở ra nhiều cơ hội ứng dụng trong y học và công nghiệp.

4.1. Đa dạng loài và giá trị sử dụng

Nghiên cứu đã ghi nhận 63 loài thuộc 13 chi trong họ Sim, nhiều loài có giá trị sử dụng cao như làm thuốc và cung cấp tinh dầu. Điều này cho thấy tiềm năng lớn trong việc phát triển kinh tế địa phương.

4.2. Hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu

Nghiên cứu cũng đã thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu từ một số loài trong họ Sim. Kết quả cho thấy tinh dầu có khả năng kháng nhiều chủng vi khuẩn, mở ra hướng đi mới trong việc phát triển sản phẩm từ thiên nhiên.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu họ Sim

Nghiên cứu đa dạng loài và tinh dầu họ Sim ở Hà Tĩnh đã cung cấp nhiều thông tin quý giá. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn để bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên này.

5.1. Tầm quan trọng của bảo tồn đa dạng sinh học

Bảo tồn đa dạng sinh học là cần thiết để duy trì hệ sinh thái và phát triển bền vững. Các chính sách bảo tồn cần được xây dựng dựa trên các nghiên cứu khoa học.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loài trong họ Sim. Điều này sẽ giúp phát triển các sản phẩm từ thiên nhiên và nâng cao giá trị kinh tế cho địa phương.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu họ Sim (Myrtaceae) 1. Trên thế giới Họ Sim được nghiên cứu từ giữa thế kỷ XVIII. Năm 1753, nhà thực vật học C.

Linnaeus đã thống kê họ Sim có 3 chi với 13 loài, trong đó chi Psidium có 1 loài, Eugenia 5 loài và Myrtus 7 loài [142]. Jussieu đã đặt tên họ Sim là Myrtaceae với typus là Myrta L. [135], về sau các chi trong họ này đã có nhiều thay đổi, đặc biệt chi Eugenia L. được tác giả Gaertner (1732 - 1791) chuyển đa số thành chi Syzygium, ông cho rằng Eugenia đặc trưng cho vùng phân bố châu Mỹ với đặc điểm cánh đài không dựng đứng cao trên bầu và quả buông thõng xuống, có múi, hạt không dính liền vào nội quả bì.

Trong khi đó, các loài phân bố ở các châu lục còn lại được xếp vào chi mới là Syzygium Gaertn. Sau này, Blume (1826) cũng tách từ chi Eugenia ra khỏi Syzygium để xây dựng 1 chi mới là Cleistocalyx Blume với lý do cánh đài dính nhau từ trong nụ và rơi trọn, hạt dính vào nội quả bì. Trong khi đó chi Syzygium có cánh đài rời nhau hay chỉ dính nhau ở gốc, dựng trên noãn sào và luôn còn lại trên quả chín, hạt dính vào nội quả bì [139]. Blume cũng đã chia họ Sim thành 11 chi với 53 loài [139].

Các thay đổi này không được cập nhật trong các Bộ thực vật chí của các nước châu Á nhiệt đới. Craven (2007), họ Sim trên thế giới có khoảng 130 chi và 4. Gần đây, tác giả P. Wilson (2011) cho rằng họ Sim bao gồm Psiloxylaceae và Heteropyxidaceae, tổng cộng có khoảng 142 chi và trên 5.

Họ Sim ở vùng châu Mỹ nhiệt đới gồm 50 chi và 2. Bên cạnh đó, tác giả P. Wilson & cs đã thống kê được 133 chi và 3.800 loài, các loài chủ yếu tập trung ở châu Úc, Đông Nam châu Á và vùng Nhiệt đới đến Nam ôn đới, còn có một số ít ở châu Phi [99]. Perry đã xây dựng khóa 5 định loại họ Sim ở vùng New Guinea cho 6 chi và 139 loài [92].

Humbert trong cuốn “Flore de Madagascar et des Comores”, Vol. 152, đã xây dựng khóa định loại cho 3 chi và 58 loài thuộc vùng Madagascar và Comores [137]. Chi Syzygium được ghi nhận 80 loài ở Ja Va, 105 loài ở Sulawesi và 65 loài ở Moluccas [140]. Gagnepain trong Bộ thực vật chí đại cương Đông dương, tập 2 (1908) đã chia họ Sim thành 11 chi và 80 loài.

Ông cũng sử dụng chi Eugenia L. cho tất cả các loài thuộc chi Syzygium và chi Cleistocalyx, đồng thời còn xếp cả các chi Careya Roxb. và chi Barringtonia Forster thuộc họ Lecythidaceae cùng chi Suringaria Pierre [136], với cách sắp xếp này đã không được R. Ngoài các công trình nghiên cứu tổng thể về họ Sim (Myrtaceae) trên toàn thế giới, còn có nhiều công trình nghiên cứu riêng lẻ cho từng taxon hoặc từng nhóm taxon hay các công trình thực vật chí của các nước, cụ thể: G.

Bộ thực vật chí Ấn Độ “Flora of British India” (1879) do J. Hooker chủ biên, tác giả J. Duthie vẫn sử dụng chi Eugenia cho toàn bộ chi Syzygium và Cleistocalyx, đồng thời chia họ này làm 3 Tông, phân biệt bằng quả nang và quả thịt, bên cạnh đó ông đã xây dựng khóa định loại cho 12 chi với 158 loài [77]. Ở Srilanka, họ Sim được ghi nhận 8 chi và 88 loài [49].

Ở Trung Quốc, tác giả J. Lào ghi nhận 14 chi và 118 loài [91]. Thái Lan có 14 chi và 204 loài [56]. Campuchia đã ghi nhận 27 loài thuộc chi Syzygium [130].

Malaysia đã ghi nhận 12 chi với 241 loài [123]. Sumatra ghi nhận 8 chi, 55 loài, Borneo 4 chi, 29 loài [140]. Ở Úc đã ghi nhận 75 chi và 1.500 loài, trong đó có 55 loài đặc hữu [58]. Ở quần đảo Fiji, tác giả Smith đã xây dựng khóa định loại cho 14 chi với 70 loài và 5 thứ [58].

Năm 2010, tác giả Neil Snow & L. Craven đã công bố thêm 5 loài mới từ New Guinea [95]. Từ năm 2008 - 2016, họ Sim trên thế gới đã được thống kê và công bố gồm 132 chi và 5. Năm 2017, nhóm tác giả gồm Fabian Brambach, W.

James và Heike Culmsee đã công bố 5 loài mới từ đảo Sulawesi, Indonesia [69]. Shuichiro và cs đã công bố thêm 5 loài mới thuộc chi Syzygium từ Đông Dương và Thái Lan [111]. Như vậy, họ Sim hiện tại có thể có trên 5. Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu về họ Sim ở nhiều khu vực khác trên toàn thế giới.

Ở Việt Nam Tác giả J. Loureiro người Pháp, là người đầu tiên nghiên cứu về họ Sim ở Việt Nam. Ông đã mô tả 03 chi với 15 loài thuộc họ Sim trong cuốn “FIora Cochinchinensis” (1788) [144]. Tiếp theo công trình nghiên cứu của H.

Lecomte là công trình “Cây cỏ miền nam Việt Nam” của tác giả Phạm Hoàng Hộ xuất bản năm 1960. Ông đã thống kê và mô tả 10 chi với 28 loài và 1 thứ [16]. Năm 1965, tác giả Pócs Tamás trong công trình “Analyse aire-géographique et écologique de la flore du Vietnam Nord” đã ghi nhận 7 chi và 28 loài thuộc họ Sim ở Việt Nam [138]. Tác giả Lê Khã Kế & cs (1969) đã xây dựng khóa định loại họ Sim ở Việt Nam cho 9 chi với 15 loài [20].

Năm 1993, tác giả Phạm Hoàng Hộ đã cho xuất bản tác phẩm “Cây cỏ Việt Nam” tại Canada trên cơ sở kế thừa công trình “Cây cỏ miền nam Việt Nam”, tác giả đã xây dựng khóa định loại cho họ Sim ở Việt Nam với 14 chi và 101 loài và thứ, tác phẩm này được tái bản lần 1 năm 1999 và lần 2 năm 2003 [17]. Năm 2003, trong cuốn “Danh lục các loài thực vật Việt Nam do tác giả Nguyễn Kim Đào đã mô tả 15 chi với 107 loài và thứ [14]. Ngoài những công trình đã được công bố theo dạng khóa định loại, dạng danh lục, dạng sách tra cứu, các loài thực vật thuộc họ Sim còn được công bố theo hướng các loài có giá trị như: Giá trị làm thuốc, giá trị làm cây cảnh, giá trị trong xây dựng,… Điển hình là công trình do Trần Đình Lý và cs biên soạn năm 1993 “1.900 loài cây có ích ở Việt Nam”, đã ghi nhận họ Sim có 10 chi và 31 loài [29]. Năm 1997, lương y Lê Trần Đức đã giới thiệu và mô tả 5 chi với 9 loài được sử dụng làm thuốc [15].

Năm 1999, Đỗ Tất Lợi đã thống kê và mô tả chi tiết 11 loài thuộc 9 chi được sử dụng làm thuốc trị bệnh [27]. Trong cuốn “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tác giả Đỗ Huy Bích & cs (2004) đã giới thiệu 9 chi và 30 loài [3]. Công trình của Võ Văn Chi (2012) đã mô tả 11 chi và 32 loài được sử dụng làm thuốc [8]. Gần đây nhất có công trình của Viện Dược Liệu (2016) đã lập danh lục và mô tả 10 chi với 27 loài thuộc họ Sim được sử dụng làm thuốc ở Việt Nam [43].

Ngoài ra, họ Sim còn được công bố trong các công trình nghiên cứu về tính đa dạng của hệ thực vật ở các khu vực khác nhau trong cả nước, đặc biệt là các công trình nghiên cứu đa dạng hệ thực vật ở các VQG và khu BTTN. Năm 1978, Thái Văn Trừng đã ghi nhận một số loài họ Sim trong cuốn “Thảm thực vật rừng Việt Nam” [41]. Năm 1999, tác giả Lê Trần 7 Chấn & cs trong tác phẩm “Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam” đã ghi nhận 14 chi và 94 loài [7]. Năm 2000, trong cuốn sách “Tên cây rừng Việt Nam” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn biên soạn đã thống kê họ Sim có 9 chi với 59 loài [4].

Năm 1996, tác giả Phùng Ngọc Lan và cs đã nghiên cứu “Tính đa dạng thực vật ở vườn Quốc gia Cúc Phương” và đã ghi nhận họ Sim có 5 chi với 22 loài [21]. Phạm Hồng Ban (2000) khi “Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái sau nương rẫy ở vùng Tây Nam Nghệ An” đã ghi nhận 7 loài thuộc họ Sim [2]. Lê Mạnh Thạnh, Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô (2003) khi nghiên cứu “Đa dạng sinh học hệ nấm và thực vật ở Vườn Quốc gia Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế" đã ghi nhận 8 chi với 26 loài [36]. Nguyễn Thị Yến (2015), “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật trong các hệ sinh thái rừng ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ làm cơ sở cho công tác quy hoạch và bảo tồn” đã lập danh lục ghi nhận 9 loài thuộc 5 chi của họ Sim [44].

Năm 2016, nhóm tác giả Đậu Bá Thìn, Đỗ Ngọc Đài, Phạm Hồng Ban trong cuốn “Đa dạng hệ thực vật bậc cao có mạch ở khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông, Thanh Hóa” đã thống kê họ Sim gồm 4 chi với 10 loài [40]. Nguyễn Thanh Nhàn (2017), khi “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật bậc cao có mạch tại Vườn Quốc gia Pù Mát - Nghệ An, nguyên nhân gây suy giảm và các giải pháp bảo tồn bền vững” đã ghi nhận 25 loài thuộc chi Syzygium [34]. Năm 2019, Đỗ Công Ba đã ghi nhận 5 chi với 9 loài thuộc họ Sim ở Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang [1]. Năm 2020, tác giả Nguyễn Danh Hùng khi nghiên cứu đa dạng thực vật bậc cao có mạch và đề xuất các giải pháp bảo tồn ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An đã ghi nhận 18 loài thuộc chi Syzygium [19],….

Ở Hà Tĩnh Giai đoạn từ năm 1993 - 1998, Viện điều tra quy hoạch rừng (FIPI), Cục Kiểm lâm và tổ chức WWF đã khảo sát, điều tra về thực vật ở Vườn Quốc gia Vũ Quang, Hà Tĩnh và đã công bố 5 chi với 17 loài thuộc họ Sim [107], [131]. Lê Trọng Trải và cs (1996) đã công bố 6 loài thuộc 5 chi ở Khu BTTN Kẻ Gỗ, tỉnh Hà Tĩnh [88]. Gần đây nhất (năm 2020), tác giả Lê Duy Linh trong luận án tiến sĩ “Nghiên cứu thành phần loài thực vật có chứa tinh dầu ở VQG Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh” đã thống kế họ Sim gồm 5 chi với 14 loài [23]. Như vậy, ta thấy họ Sim ở tỉnh Hà Tĩnh chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ về thành phần loài và đặc điểm sinh học của chúng, hiện nay chỉ có các công trình nghiên cứu mang tính đa dạng chung được công bố rải rác.

Nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu họ Sim (Myrtaceae) 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ