Tổng quan nghiên cứu

Trên quy mô toàn cầu, thế giới hiện ghi nhận 7.788 loài lưỡng cư, trong đó gần 33% số loài đang đứng trước nguy cơ suy giảm quần thể và đe dọa tuyệt chủng nghiêm trọng do áp lực mất sinh cảnh sống. Tại Việt Nam, sự phong phú của lớp lưỡng cư tăng trưởng liên tục trong các thập kỷ qua, từ 82 loài vào năm 1996 lên 162 loài vào năm 2005 và đạt khoảng 245 loài vào năm 2019. Vườn Quốc gia Ba Vì được thành lập từ năm 1991 với quy mô quản lý trải rộng trên 5 huyện thuộc địa bàn thành phố Hà Nội và tỉnh Hòa Bình, nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 60 km. Mặc dù sở hữu địa hình núi trung bình đặc thù với đỉnh Vua cao 1.296 m và đỉnh Tản Viên cao 1.227 m, khu hệ lưỡng cư tại đây trước năm 2019 chỉ mới ghi nhận sơ bộ 9 loài và thiếu vắng các nghiên cứu chuyên sâu, đồng bộ.

Mục tiêu cốt lõi của luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng là xác định thành phần loài, phân tích quy luật phân bố theo sinh cảnh và nơi ở, đồng thời nhận diện các tác động tiêu cực đến môi trường sống tự nhiên. Khảo sát thực địa được triển khai trong thời gian từ tháng 9/2018 đến tháng 3/2019 tại các đai cao từ cốt 400 m đến cốt 1.100 m. Đề tài mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi bổ sung 12 loài ghi nhận mới cho thành phố Hà Nội, nâng tổng số loài ghi nhận tại khu vực lên 21 loài, tăng 133,3% so với các công bố trước đó. Kết quả này cung cấp luận cứ khoa học chính xác để Ban Quản lý Vườn Quốc gia Ba Vì tối ưu hóa quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và kiểm soát 100% các xung đột giữa phát triển du lịch với bảo vệ sinh cảnh nhạy cảm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết hệ thống phân loại học hình thái học so sánh kết hợp với lý thuyết sinh thái học quần xã động vật có xương sống biến nhiệt. Đề tài áp dụng mô hình phân tầng sinh thái theo đai cao để lý giải sự phân hóa của thảm thực vật và quần xã lưỡng cư dưới tác động của độ dốc trung bình từ 25 độ đến 35 độ cùng sự thay đổi nhiệt độ từ 23,4 độ C ở vùng thấp xuống dưới 16 độ C tại độ cao trên 1.000 m.

Khung phân tích của đề tài xoay quanh 4 khái niệm then chốt:

  1. Đa dạng sinh học khu hệ lưỡng cư: Mức độ phong phú về thành phần taxon bậc bộ, họ, giống, loài và cấu trúc tỷ lệ của từng nhóm trong một sinh cảnh xác định.
  2. Diễn thế sinh thái sinh cảnh: Sự chuyển dịch trạng thái từ rừng thứ sinh đang phục hồi sau khai thác đến rừng kín thường xanh ít chịu tác động nhân vi sinh.
  3. Phân tách ổ sinh thái: Sự chuyên hóa vi môi trường sống của từng loài theo 3 không gian chính gồm môi trường nước, bề mặt đất ẩm và tầng cây gỗ bụi.
  4. Giá trị bảo tồn loài: Tiêu chuẩn đánh giá mức độ nguy cấp dựa trên Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và Danh lục Đỏ thế giới IUCN năm 2019.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được xây dựng từ 63 mẫu vật thu thập qua 28 ngày điều tra thực địa, phân bổ thành 3 đợt nghiên cứu chuyên sâu: đợt 1 gồm 10 ngày trong tháng 9-10/2018, đợt 2 gồm 10 ngày trong tháng 2/2019 và đợt 3 gồm 8 ngày trong tháng 3/2019.

Phương pháp chọn mẫu dựa trên hình thức điều tra theo tuyến cố định kết hợp thu mẫu chủ động vào ban đêm từ 18h00 đến 24h00 tại 8 điểm khảo sát thuộc 4 tuyến trọng điểm (khu vực Suối Ngọc Hoa cốt 400 m, khu nghỉ dưỡng cốt 600 m, tuyến khe nước từ cốt 600 m lên Nhà thờ Đổ cốt 800 m, và khu vực trạm kiểm lâm cốt 1.100 m lên đỉnh Vua). Việc lựa chọn khung giờ này là bắt buộc do đặc tính sinh học của phần lớn loài ếch nhái chỉ kiếm ăn và ghép đôi khi bóng tối buông xuống. Phương pháp phân tích sử dụng kỹ thuật đo đếm 24 chỉ tiêu hình thái bằng thước kẹp điện tử Alpha-Tool có độ chính xác 0,1 mm, sau đó đối chiếu trực tiếp với bộ mẫu chuẩn lưu trữ tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật cùng Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam. Cách tiếp cận này giúp triệt tiêu sai số nhận diện hình thái ở các giống phức tạp như Leptobrachella, Odorrana hay Microhyla.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã mang lại 4 phát hiện khoa học quan trọng về khu hệ lưỡng cư tại Vườn Quốc gia Ba Vì:

Thứ nhất, tổng hợp thành phần loài ghi nhận 21 loài thuộc 18 giống, 7 họ và 2 bộ. Bộ Không đuôi chiếm ưu thế vượt trội với 6 họ, 17 giống, 20 loài (chiếm 95,2% tổng số loài), trong khi bộ Không chân chỉ có 1 họ, 1 giống, 1 loài (chiếm 4,8%). Hai họ có độ đa dạng cao nhất là họ Ếch nhái chính thức và họ Ếch cây, mỗi họ sở hữu 5 giống (chiếm 27,8% tổng số giống) và 5 loài (chiếm 23,8% tổng số loài).

Thứ hai, nghiên cứu xác lập ghi nhận mới 12 loài lưỡng cư cho Vườn Quốc gia Ba Vì và thành phố Hà Nội, bao gồm: Cóc mày đá, Cóc núi miệng nhỏ, Nhái bầu bút-lơ, Nhái bầu hây-môn, Nhái bầu hoa cương, Ếch trần kiên, Chàng mẫu sơn, Nhái cây tay-lo, Ếch cây sần đốm trắng, Nhái cây tí hon, Ếch cây oóc-lốp và Ếch giun.

Thứ ba, xác định 2 loài có giá trị bảo tồn nguy cấp gồm: loài Ếch giun được ghi danh trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 ở thứ hạng Sẽ nguy cấp, và loài Cóc mày đá xếp ở thứ hạng Sẽ nguy cấp theo Danh lục Đỏ IUCN năm 2019, đồng thời là loài đặc hữu của Việt Nam.

Thứ tư, về mặt phân bố sinh thái, sinh cảnh rừng thứ sinh đang phục hồi ghi nhận số loài phong phú nhất với 15 loài (chiếm 71,4%), tiếp theo là rừng thường xanh ít bị tác động với 14 loài (chiếm 66,7%), và khu dân cư, đất nông nghiệp ghi nhận 11 loài (chiếm 52,4%). Có 65,0% tổng số loài tập trung phân bố ở các đai độ cao trên 400 m. Phân bố theo nơi ở cho thấy 16 loài sống trên mặt đất (chiếm 76,2%), 14 loài sống dưới nước (chiếm 66,7%) và 7 loài thích nghi sống trên cây (chiếm 33,3%).

Thảo luận kết quả

Sự phân bố của 12 loài ghi nhận mới phản ánh sự phong phú về nơi cư trú tại các sườn núi cao có độ che phủ tốt và hệ thống khe suối ngầm dồi dào. Việc phát hiện loài đặc hữu Cóc mày đá tại độ cao 484-620 m và Ếch cây sần đốm trắng tại đỉnh Vua ở độ cao 1.287 m minh chứng cho tính chất bắc cầu sinh thái quan trọng của khối núi Ba Vì đối với các luồng di cư sinh vật từ vùng núi Tây Bắc sang Đông Bắc.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ phân bố giữa các sinh cảnh, kết hợp bảng ma trận sinh thái thể hiện sự chồng lấn ổ sinh thái giữa các nhóm loài. Kết quả thảo luận cũng cảnh báo áp lực suy giảm sinh cảnh do hoạt động du lịch tập trung tại cốt 400 m đến cốt 1.100 m. Việc xây dựng cơ sở lưu trú và xả rác thải, nước thải trực tiếp xuống các dòng chảy tự nhiên đang đe dọa trực tiếp môi trường sinh sản của 14 loài lưỡng cư sống dưới nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn bền vững khu hệ lưỡng cư tại Vườn Quốc gia Ba Vì, 4 giải pháp trọng tâm cần được thực thi:

Thứ nhất, phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt hệ thống khe suối tự nhiên tại cốt 400 m đến cốt 800 m, đặc biệt là khu vực Suối Ngọc Hoa và các thung lũng ẩm ẩm ướt, nhằm đảm bảo diện tích cư trú không bị thu hẹp cho 100% quần thể lưỡng cư đặc hữu trước năm 2021; cơ quan thực hiện là Ban Quản lý Vườn Quốc gia Ba Vì phối hợp với Hạt Kiểm lâm địa bàn.

Thứ hai, kiểm soát và xử lý triệt để 100% nguồn nước thải và chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở du lịch nghỉ dưỡng tại cốt 400 m và cốt 600 m trong giai đoạn 2020 - 2022; cơ quan chủ trì là Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội kết hợp với các doanh nghiệp hoạt động du lịch tại Vườn.

Thứ ba, thiết lập chương trình giám sát sinh thái định kỳ với tần suất 6 tháng một lần đối với 2 loài nguy cấp ưu tiên là Ếch giun và Cóc mày đá từ năm 2020 đến năm 2025; đơn vị thực hiện là Trung tâm Giáo dục Môi trường và Dịch vụ Vườn Quốc gia Ba Vì liên kết cùng các trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành.

Thứ tư, triển khai tối thiểu 12 khóa tập huấn và hội thảo tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng hàng năm cho người dân vùng đệm tại 5 huyện thuộc Hà Nội và Hòa Bình nhằm ngăn chặn hoàn toàn các hoạt động săn bắt động vật hoang dã; đơn vị chịu trách nhiệm là Ủy ban nhân dân các xã vùng đệm cùng lực lượng kiểm lâm phụ trách khu vực.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tài liệu hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Ban quản trị khu bảo tồn và lực lượng kiểm lâm: Cung cấp bản đồ phân bố và danh lục 21 loài để thiết lập các tuyến tuần tra chuyên trách, hỗ trợ quản lý hiệu quả các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.
  2. Giảng viên và nhà nghiên cứu sinh học, lâm nghiệp: Cung cấp bộ dẫn liệu đo đạc chuẩn xác với 24 chỉ tiêu hình thái của 63 mẫu vật thực địa, làm tư liệu phục vụ giảng dạy phân loại học động vật rừng.
  3. Học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý tài nguyên rừng: Cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về điều tra thực địa 28 ngày và kỹ thuật xử lý mẫu vật ngâm cồn theo chuẩn bảo tàng để ứng dụng vào các đề tài nghiên cứu tiếp theo.
  4. Chuyên gia tư vấn đánh giá tác động môi trường và du lịch sinh thái: Cung cấp cơ sở dữ liệu hiện trạng đa dạng sinh học để xây dựng báo cáo đánh giá tác động môi trường cho các dự án phát triển hạ tầng du lịch nghỉ dưỡng bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đã ghi nhận bao nhiêu loài lưỡng cư tại Vườn Quốc gia Ba Vì? Nghiên cứu đã ghi nhận tổng cộng 21 loài lưỡng cư thuộc 18 giống, 7 họ và 2 bộ dựa trên việc thu thập và phân tích 63 mẫu vật. Trong đó, bộ Không đuôi chiếm đa số với 20 loài và bộ Không chân có 1 loài.

Có bao nhiêu loài mới được ghi nhận bổ sung cho khu hệ thành phố Hà Nội? Đề tài đã phát hiện và ghi nhận mới 12 loài lưỡng cư cho Vườn Quốc gia Ba Vì và thành phố Hà Nội, tiêu biểu như Cóc mày đá, Ếch trần kiên, Nhái cây tí hon và Ếch giun, giúp mở rộng vùng phân bố khoa học của các loài này.

Loài lưỡng cư nào tại khu vực nghiên cứu có giá trị bảo tồn cao nhất? Khu vực có 2 loài quý hiếm gồm: Ếch giun được xếp ở bậc Sẽ nguy cấp trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007; Cóc mày đá xếp ở bậc Sẽ nguy cấp trong Danh lục Đỏ IUCN năm 2019 và là loài đặc hữu của Việt Nam.

Đai độ cao nào tại Vườn Quốc gia Ba Vì sở hữu độ đa dạng loài lớn nhất? Khu vực đai cao trên 400 m tập trung tới 65,0% tổng số loài lưỡng cư của Vườn. Trong đó, sinh cảnh rừng thứ sinh phục hồi ở cốt 400 - 600 m có 15 loài (chiếm 71,4%) và rừng thường xanh ở cốt 600 - 1.100 m có 14 loài (chiếm 66,7%).

Kỹ thuật định loại mẫu vật trong nghiên cứu được tiến hành như thế nào? Tác giả đã đo đạc 24 chỉ số hình thái bằng thước kẹp điện tử Alpha-Tool độ chính xác 0,1 mm, sau đó so sánh đối chiếu với các mẫu chuẩn lưu giữ tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật cùng Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam.

Kết luận

  • Thống kê toàn diện khu hệ lưỡng cư Vườn Quốc gia Ba Vì với 21 loài thuộc 18 giống, 7 họ, 2 bộ từ 63 mẫu vật thu thập.
  • Đóng góp phát hiện mới nổi bật với 12 loài ghi nhận lần đầu tiên tại thành phố Hà Nội và Vườn Quốc gia Ba Vì.
  • Xác lập cơ sở bảo tồn cho 2 loài nguy cấp quý hiếm là Ếch giun (Sách Đỏ Việt Nam 2007) và Cóc mày đá (IUCN 2019, đặc hữu Việt Nam).
  • Phân tích chi tiết quy luật phân bố sinh thái với 65,0% loài tập trung ở độ cao trên 400 m và 76,2% loài cư trú mặt đất ẩm.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi nhằm cân bằng giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái bền vững.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là hoàn thiện cơ sở dữ liệu định danh hình thái học chuẩn xác cho khu hệ lưỡng cư Ba Vì. Trong giai đoạn 2021 - 2025, hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung mở rộng phân tích di truyền phân tử DNA barcoding để làm sáng tỏ nguồn gốc tiến hóa quần thể. Hãy ứng dụng ngay các kết quả nghiên cứu và khuyến nghị này vào công tác hoạch định quản lý rừng để bảo tồn trọn vẹn di sản thiên nhiên quý giá của thủ đô.