ĐẶT VẤN ĐỀ Trước thực trạng ngày càng gia tăng tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường, việc nghiên cứu các thuốc có nguồn gốc từ tự nhiên ngày càng được quan tâm với mục đích đảm bảo hiệu quả điều trị đồng thời hạn chế tác dụng không mong muốn và giảm thiểu chi phí trong quá trình điều trị bệnh mạn tính kéo dài [1]. Trong số các loài cây có tiềm năng lớn trong việc điều trị bệnh đái tháo đường, Dây thìa canh lá to (Gymnema latifolium Wall. ex Wight) đang dần thu hút sự chú ý của cộng đồng khoa học. Công trình nghiên cứu do Phạm Văn Hải thực hiện vào năm 2010 đã chứng minh rằng Dây thìa canh lá to có khả năng sinh trưởng tốt và sinh khối vượt trội hơn so với Dây thìa canh (Gymnema sylvestre) [2].
Các nghiên cứu sau đó cũng đã chứng minh tác dụng hạ đường huyết cao hơn có ý nghĩa so với Dây thìa canh (Gymnema sylvestre) trên mô hình gây tăng đường huyết chuột bằng Streptozocin (STZ) [3]. Trong bối cảnh nước ta hiện nay đang không ngừng đầu tư vào các dự án bảo tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc, đồng thời đôn đốc triển khai các chính sách khuyến khích tiến hành nghiên cứu, chọn lọc và phát triển các giống dược liệu mới, có hiệu suất và chất lượng cao, phù hợp với điều kiện sinh thái đa dạng của từng khu vực [4][5], tại Việt Nam đã có những nghiên cứu mở ra hướng mới cho việc chọn lọc giống G. Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn sơ khai và còn nhiều nhược điểm cần được cải thiện. Xuất phát những vấn đề trên, đề tài “Nghiên cứu đa dạng dưới loài của Dây thìa canh lá to (Gymnema latifolium Wall.
ex Wight) trồng tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và lựa chọn mẫu giống có hàm lượng gymnemagenin cao” đã khắc phục các vấn đề còn tồn tại ở những nghiên cứu trước, được thực hiện với các mục tiêu: Xác định tính đa dạng dưới loài của Dây thìa canh lá to (Gymnema latifolium Wall.) trồng tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên dựa trên các chỉ tiêu hình thái và chỉ thị di truyền. 1 Tuyển chọn được giống Dây thìa canh lá to (G.latifolium) dựa trên hàm lượng gymnemagenin. Tổng quan về loài Gymnema latifolium Wall. Đặc điểm thực vật 1.
Vị trí phân loại Lịch sử phân loại của chi Gymnema R. gắn liền với lịch sử quan điểm phân loại của hai họ Thiên lý (Asclepiadaceae) và họ Trúc đào (Apocynaceae). Trong đa số các tài liệu phân loại thực vật kinh điển, chi Gymnema R. được xếp trong họ Thiên lý (Asclepiadaceae) [7][8].
Tuy nhiên, theo hệ thống phân loại cuối cùng của mình công bố năm 2009, Takhtajan đã theo quan điểm của Hallier (1905, 1912), Stebbins (1974), Thorne (2006), Endress & Bruyns (2000) và Endress & Stevins (2001) để nhóm Apocynaceae và Asclepiadaceae thành một họ duy nhất là Apocynaceae, và theo đó Gymnema R. trở thành một chi trong phân họ Asclepiadoideae của một họ lớn là Apocynaceae (Hình 1. Quan điểm gộp này dựa trên giả thuyết của Cronquist về sự tiến hóa thẳng trong cấu tạo hoa của Apocynaceae và Asclepiadaceae, cụ thể từ phân họ Plumerioideae đến lần lượt các phân họ Apocynoideae, Periplocoideae, Secamoneae và cuối cùng là phân họ Asclepiadoideae [9]. Cho đến nay quan điểm thứ 2 được thừa nhận rộng rãi trong các hệ thống phân loại quốc tế [10].
Vị trí phân loại của chi Gymnema R. Bậc phân loại Theo thực vật chí Trung Hệ thống của Takhtajan (2009) Quốc [7][11] [9] Ngành Magnoliophyta Magnoliophyta Lớp Magnoliopsida Magnoliopsida Phân lớp Lamiidae Lamiidae Bộ Gentianales Gentianales Họ Asclepiadaceae Apocynaceae Phân họ Asclepiadoideae Chi Gymnema R. Giả thuyết về sự tiến hóa thẳng trong cấu tạo hoa của các phân họ trong Apocynaceae và Asclepiadaceae [12] Dây thìa canh lá to (Gymnema latifolium Wall.) là một loài trong chi Gymnema R. Cây có tên đồng nghĩa là Bidaria latifolia (Wall.
Cây còn được biết với các tên đồng nghĩa khác là Gymnema khandalense và G. Phân bố: Đảo Andaman và Nicobar, Bangladesh, Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam), Ấn Độ (Arunachal Pradesh, Assam, Kerala, Maharashtra, Tamil Nadu), Myanmar, Thailand [13], Việt Nam (Cúc Phương, Hoà Bình, Thái Nguyên) [14]. Đặc điểm thực vật [14] Thân leo tới 6m. Thân có lỗ vỏ, các nhánh có nhiều lông tơ.
Cuống lá 1,5- 4 cm, có lông tơ dày đặc; phiến lá 8-13 × 5-8 cm, lông dày đặc, càng xa trục càng dày đặc, gốc tròn, ngọn nhọn, gân bên 6-7 cặp. Đặc điểm hình thái Gymnema latifolium Wall. ex Wight [14] 5 Cụm hoa xim dạng đầu thành từng đôi ở mấu, có lông dày đặc. Một cụm mang rất nhiều hoa, mùi thơm.
Cuống cụm hoa 1-1,5 cm, cuống hoa 3-8 mm. Đài hình trứng, phủ lông măng. Tràng hoa vàng, hình chuông, nhẵn ở mặt ngoài. Ống hoa có 5 cặp gờ mang lông ở họng tràng, các thùy hình trứng, khoảng 1,2 × 1,2 mm, phủ lông dày đặc hướng trục.
ngắn hơn so với ống tràng. Khối nhị nhụy dạng hình trụ, phần phụ nhị dạng màng ngắn hơn so với đầu núm nhụy. Khối phấn hình thuôn. Đầu núm nhụy hình nón, đỉnh phân đôi.
Quả đại hình mác nhọn, mũi cong, 4,5-5,5 × 1,5-2 cm, có lông dày đặc. Hạt hình trứng thuôn, dài khoảng 1,1 cm × 5 mm, mép dạng màng; mào lông dài 3 cm. Số cặp nhiễm sắc thể: 2n = 22 [15]. Tính đa dạng di truyền Các nghiên cứu đa dạng di truyền trong chi Gymnema R.
hiện được tập trung nghiên cứu trên loài Gymnema sylvestre (Retz. Sử dụng các chỉ thị phân tử khác nhau như isozyme [16], RAPD [16][17], ISSR [17] và AFLP [18]. Trình tự ADN của một số loài Gymnema sylvestre (Retz. Trên cơ sở dữ liệu của ngân hàng gen thế giới (Genbank), loài G.
latifolium cũng đã được công bố trình tự của 3 vùng gen: rbcL, rps16, trnL-F. (2013) đã công bố trình tự vùng gen rbcL dài 1266 bp với mã số truy cập trình tự là EU232692. và Liede- Schumann S. Tại Việt Nam, đã có những nghiên cứu trong giải mã trình tự ADN của loài G.
latifolium có ý nghĩa phân biệt với các loài khác cùng chi và bước đầu trong phân biệt dưới loài. 6 Trong nghiên cứu được thực hiện năm 2012, Phạm Hà Thanh Tùng đã xác định sự khác biệt di truyền sử dụng chỉ thị phân tử RAPD của 26 mẫu thuộc 5 loài trong chi Gymnema R. Kết quả cho thấy, 3 mẫu ở miền Bắc Việt Nam (Hoà Bình, Thái Nguyên và Tuyên Quang) cùng nằm trong cùng một nhóm di truyền, trong khi đó 1 mẫu ở gần khu vực miền Trung Việt Nam không cùng nhóm này. Kết quả cho thấy sự khác biệt của các mẫu theo sự phân bố địa lý [14].
Trong một nghiên cứu khác thực hiện trong năm 2013, nhóm nghiên cứu đã giải trình tự thành công đoạn gen ITS của 8 mẫu trong chi Gymnema R. Kết quả đã xác định sự tương đồng di truyền của 2 mẫu G.latifolium là 0,99 và đã phát hiện đoạn trình tự CGGCCCAAA ở vị trí nucleotid 56 trên vùng khảo sát ITS1+5,8S+ITS2 hoàn toàn khác biệt và là đặc trưng cho loài Gymnema latifolium Wall. so với trình tự gen đã công bố trên ngân hàng gen thế giới Genbank [22]. Năm 2014, Nguyễn Thị Thu Hiền đã giải trình tự đoạn ITS (613 nucleotid) của 5 mẫu Dây thìa canh lá to G.
latifolium và xây dựng được cây phát sinh loài của 5 mẫu này so với G. latifolium thuộc cùng một nhóm, tách biệt hẳn với G. latifolium có hệ số tương đồng di truyền 98% - 99% [6]. Các kết quả trên cho thấy sự đa dạng di truyền của các mẫu sử dụng đoạn trình tự gen ITS và là cơ sở của việc công bố trình tự gen của các mẫu nghiên cứu trên ngân hàng gen thế giới, tuy nhiên trình tự ITS khá bảo thủ nên chưa thể khẳng định về sự khác nhau dưới loài [6].
Để ứng dụng trong chọn giống cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn với chỉ thị phân tử thông lượng cao hơn. Tác dụng sinh học Cho đến nay các nghiên cứu về tác dụng sinh học của Dây thìa canh lá to (G. latifolium) trong nước và trên thế giới còn rất hạn chế. Trong nghiên cứu sàng lọc các cây thuốc điều trị đái tháo đường, Trần Văn Ơn và Phùng Thanh Hương thử nghiệm tác dụng hạ đường huyết của 1 mẫu 7 Dây thìa canh lá to (Gymnema latifolium Wall.) trên mô hình gây tăng đường huyết bằng Streptozotocin (STZ).
Kết quả cho thấy lô chứng có đường huyết ổn định trong suốt thời gian thử nghiệm (5 giờ). Với liều thử nghiệm, dịch chiết Dây thìa canh lá to làm hạ đường huyết với mức đường huyết khác biệt có ý nghĩa thống kê so với thời điểm 0 giờ, tác dụng hạ đường huyết mạnh nhất sau 4 giờ, kéo dài tới 5 giờ. Trong khi đường huyết ở lô chứng tiếp tục tăng lên theo thời gian thì ở lô thử, đường huyết giảm đáng kể, mức giảm đường huyết ở lô thử và lô chứng khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,01) [5]. Thành phần hóa học Năm 2010, một thử nghiệm ban đầu đã xác định các nhóm chất có trong Dây thìa canh lá to (Gymnema latifolium Wall.
ex Wight) có thành phần chính gồm: saponin, flavonoid, tanin, sterol, chất béo, acid amin, đường khử và coumarin [4]. Trong đó, một số thành phần hóa học được tìm thấy có tác dụng sinh học chủ yếu thuộc nhóm saponin. Saponin glycosid chính được tìm thấy trong lá trong chi Gymnema là acid gymnemic.[23] Năm 2020, Dương Thị Hải Yến cùng nhóm nghiên cứu đã phân lập được các hợp chất từ cây Gymnema latifolium là gymlatifosides (pregnane glycosides) verticilloside cho tác dụng ức chế α-glucosidase và α-amylase nhưng hoạt tính vừa phải, thấp hơn so với tham chiếu. Cũng trong năm 2020, Phạm Hà Thanh Tùng và cộng sự chiết xuất được một số hợp chất từ cây G.
Các hợp chất này bao gồm bốn oleanane hemiacet glycosid và ba oleanane glycosid. Trong đó có hợp chất có khả năng ức chế PTP1B mạnh [25]. Gần đây nhất, năm 2022, Phạm Hà Thanh Tùng cùng nhóm nghiên cứu tiếp tục phân lập bảy loại triterpenoid 23-glycosyl oleanane chưa được xác định, gymlatinosid GLF1-GLF7 và hai hợp chất đã biết là gymnemosid D và E. Cấu trúc của các hợp chất phân lập được làm xác định bằng các phương pháp quang phổ khác nhau.
Trong số đó, gymlatinosid GLF2 và gymlatinosid GLF4 cho thấy tác dụng kích thích đặc biệt mạnh mẽ đối với sự hấp thu glucose phụ thuộc vào 8 liều lượng. Nghiên cứu sâu hơn cho thấy rằng gymlatinosid GLF2 ở mức 20 μM đã điều chỉnh tăng sự biểu hiện của AMPK bị phosphoryl hóa (p-AMPK) [26]. Tổng quan về phương pháp nghiên cứu 1. Phương pháp đa dạng di truyền dựa vào chỉ thị EBAP 1.
Chỉ thị EBAP là gì? Phân tích đa dạng di truyền là một lĩnh vực quan trọng trong nghiên cứu sinh học, giúp khám phá sự khác biệt giữa các cá thể thông qua việc phân tích cấu trúc ADN.