MỞ ĐẦU Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á có diện tích khoảng 330.541km2, là nƣớc có tính đa dạng sinh học rất cao. Theo thống kê có khoảng 80% số loài côn trùng ăn cây xanh và bản thân chúng lại là thức ăn của nhiều loài động vật khác nhƣ chim, cá, nhện. Ngay từ khi biết trồng trọt và chăn nuôi, con ngƣời đã tiếp xúc với côn trùng. Côn trùng là nhóm động vật có rất nhiều bí ẩn, phong phú đa dạng nên nó trở thành đối tƣợng nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học cũng nhƣ những ngƣời yêu thích thiên nhiên.
Trong giới động vật, côn trùng là lớp phong phú nhất, theo các nhà khoa học, hiện nay con ngƣời đã biết hơn 1 triệu loài động vật, trong đó côn trùng chiếm khoảng 75%. Số loài côn trùng thực tế còn lớn hơn rất nhiều do nhiều loài còn chƣa đƣợc phát hiện. Côn trùng là những loài nhỏ bé trong giới động vật nhƣng lại đóng vai trò quan trọng trong tự nhiên và đời sống con ngƣời. Chúng phân bố ở mọi vùng và trong mọi sinh cảnh lục địa, tham gia tích cực vào quá trình sinh học trong các hệ sinh thái.
Khoảng 1/3 loài cây có hoa đƣợc thụ phấn nhờ côn trùng. Chúng thƣờng xuyên tham gia vào quá trình mùn hoá, khoáng hóa tàn dƣ thực vật và phân giải xác động vật, đào xới lớp đất mặt thải ra các viên phân giữ ẩm tạo ra môi trƣờng hoạt động tốt cho vi sinh vật góp phần hình thành lớp đất màu. Côn trùng là thức ăn của các loài động vật ăn côn trùng hoặc ăn tạp thuộc nhiều nhóm nhƣ thú, chim, bò sát, ếch nhái, cá. Ngày nay, nhiều hoạt động khai thác quá mức của con ngƣời đã làm suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây cho hệ sinh thái biến đổi theo chiều hƣớng xấu đi và làm giảm tính đa dạng sinh học.
Có thể thấy hậu quả nhƣ mất rừng tự nhiên đe dọa trực tiếp đến đa dạng sinh học của Việt Nam, nơi cƣ trú của nhiều loài động vật bị thu hẹp, đặt chúng đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng. Đặc biệt, do các hoạt động phun thuốc trừ sâu một cách tràn lan, thiếu khoa học làm nhiều loài bị tiệt chủng và mất dần đa dạng sinh học. Bộ cánh cứng (Coleoptera) là nhóm côn trùng có mức độ đa dạng cao với số lƣợng loài lớn nhất đƣợc biết đến trong lớp côn trùng (Insecta). Các loài 1 thuộc bộ Coleoptera có kích thƣớc cơ thể dao động rất lớn, từ nhỏ hơn một vài mm đến trên 75 mm, thậm chí một số loài thuộc vùng nhiệt đới có chiều dài cơ thể đạt đến 125 mm.
Không chỉ đa dạng về hình thái kích thƣớc, chúng còn có phổ phân bố rất rộng, hầu nhƣ hiện diện khắp nơi trên thế giới. Nhận thấy vai trò và giá trị của nhóm côn trùng này, trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học của Coleoptera trên thế giới và ở Việt Nam đã đƣợc quan tâm, nhiều công trình nghiên cứu đƣợc triển khai theo hƣớng thống kê, đánh giá tài nguyên, đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tuy vậy, các nghiên cứu mới chỉ tập trung điều tra chủ yếu ở vùng lõi của các Khu bảo tồn và vƣờn Quốc gia mà chƣa quan tâm nhiều đến các vùng đệm. Vƣờn Quốc gia Ba Bể đƣợc đánh giá là nơi có mức độ đa dạng cao, nhiều năm qua lãnh đạo Vƣờn quốc gia và địa phƣơng đã thực hiện nhiều biện pháp để duy trì và bảo tồn nguồn tài nguyên quý giá đó.
Bên cạnh đó, việc xây dựng và quản lý các vùng đệm hợp lý nhằm giảm áp lực đối với đa dạng sinh học của vƣờn Quốc gia cũng đang đƣợc quan tâm. Sự thay đổi của các thảm thực vật ở vùng đệm cũng sẽ làm thay đổi thành phần các loài côn trùng nói chung và côn trùng Cánh cứng (Coleoptera) nói riêng, những năm gần đây đã có môt số đợt khảo sát về đa dạng sinh học côn trùng đƣợc triển khai ở đây, tuy nhiên những nghiên cứu này còn lẻ tẻ, chƣa mang tính hệ thống. Để hiểu biết đầy đủ về đa dạng côn trùng nói chung và côn trùng thuộc bộ Cánh cứng nói riêng ở khu vực có giá trị quan trọng này chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn côn trùng cánh cứng (Coleoptera) tại VQG Ba Bể, huyện Ba bể, tỉnh Bắc”. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Khái quát chung về côn trùng Côn trùng là động vật không xƣơng sống. Lớp côn trùng có tên khoa học là Insecta hay Hexapoda, thuộc ngành Tiết túc – Arthropoda. Côn trùng có những đặc điểm chung sau đây: Cơ thể chia làm 3 phần rõ rệt là đầu, ngực và bụng. Đầu có một đôi râu đầu, miệng và một đôi mắt kép và 2-3 mắt đơn (một số loài không có mắt đơn).
Ngực có 3 đốt, mỗi đốt có một đôi chân ngực và pha trƣởng thành có thể có 2 đôi cánh. Lỗ sinh dục và lỗ hậu môn nằm ở cuối bụng. Da làm chức năng của bộ xƣơng ngoài. Hô hấp bằng hệ thống khí quản.
Chúng lớn lên bằng cách lột xác. Trong quá trình sinh trƣởng phát triển có biến thái bên trong và bên ngoài. Một số loài côn trùng ăn thực vật gây hại cho cây trồng nông nghiệp, ảnh hƣởng tới năng suất, phẩn chất nông sản, gây thiệt hại cho ngƣời nông dân. Những loại này gọi là sâu hại cây trồng.
Sâu hại thƣờng làm giảm 5-10% năng suất, sản lƣợng cây trồng. Thiệt hại ƣớc tính là 25 tỷ USD mỗi năm. Khi phát sinh với với số lƣợng lớn, sâu hại có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng, do vậy việc phòng chống chúng là cần thiết, trong đó có biện pháp hóa học. Nhƣng việc làm này bên cạnh sự tốn kém là vấn đề gây ô nhiễm môi trƣờng sống, để lại dƣ lƣợng chất độc trong nông sản và làm mất cân bằng sinh học tự nhiên.
Đặc điểm của Bộ cánh cứng Các loại bọ cánh cứng thuộc nhóm biến thái hoàn toàn. Ấu trùng có nhiều dạng hình khác biệt nhau, nhƣng đa số có dạng chân chạy hoặc dạng bọ hung. Nhộng đa số là nhộng trần. Có nhiều loài làm nhộng trong đất và đƣợc bao bọc bằng kén đất hoặc tàn dƣ thực vật.
Có một số loài nhƣ xén tóc, nhộng đƣợc bao bọc bằng một lớp kén mỏng. Côn trùng thuộc bọ cánh cứng thƣờng đẻ trứng trong đất, trong vỏ thân cây, trong mô lá, trong nƣớc. Trứng có hình cầu hoặc hình bầu dục. Tính ăn của côn trùng cánh cứng rất phức tạp, đa số ăn thực vật, nhƣng cũng có nhiều loài ăn động vật, chuyên tấn công các loại côn trùng nhỏ khác, có 3 loài lại chuyên ăn các chất hữu cơ mục nát và những di thể động thực vật, bộ nầy còn gồm cả những loài côn trùng chuyên ăn các bào tử nấm, và một số ít loài thuộc nhóm ký sinh hoặc sống cộng sinh trong ổ những côn trùng sống thành xã hội.
Đối với những loài ăn thực vật, thì tính ăn cũng đa dạng, nhiều loài ăn phá lá, đục thân, cành, trái, một số loài khác đục lòn trong lá, tấn công rễ, bông. Hầu nhƣ côn trùng thuộc bộ nầy có thể tấn công tất cả các bộ phận khác của cây. Chu kỳ sinh trƣởng của bộ này có thể kéo dài từ 3-4 thế hệ trong một năm đến nhiều năm để hoàn thành một thế hệ. Tình hình nghiên cứu côn trùng thuộc bộ Cánh cứng trên thế giới Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng khá đa dạng, tập trung vào các vấn đề phân loại học, sinh học, sinh thái, quản lý… Nhà Triết học cổ Hy Lạp Aristoteles (384 – 322 TCN) đã hệ thống hóa đƣợc hơn 60 loài côn trùng, ông gọi tất cả những loài côn trùng ấy là những loài chân có đốt.
Nhà tự nhiên học vĩ đại ngƣời Thủy Điện Carlvon Linne đƣợc coi là ngƣời đầu tiên đƣa ra đơn vị phân loại và đã tập hợp xây dựng đƣợc bảng phân loại về động vật trong đó có côn trùng. Năm 1745, hội Côn trùng học trên thế giới đƣợc thành lập ở nƣớc Anh. Năm 1859, hội Côn trùng ở Nga đƣợc thành lập. Nhà Côn trùng học Nga Keppen (1882 – 1883 ) đã xuất bản cuốn sách gồm 3 tập côn trùng lâm nghiệp trong đó đề cập khá nhiều tới côn trùng bộ cánh cứng.
Những cuộc du hành của các nhà nghiên cứu Nga nhƣ Potarin ( 1899 – 1976 ), Provorovski ( 1895 – 1979 ), Kozlov ( 1883 – 1921 ), đã xuất bản những tài liệu về côn trùng ở trung tâm châu Á, Mông Cổ và miền Tây Trung Quốc. các tác giả Lamarch ( thế kỷ XIX ), Handrich ( thế kỷ XX ), Krepton (1904 )… đã liên tiếp đƣa ra các bảng phân loại côn trùng liên quan tới côn trùng bộ cánh cứng chủ yếu là Mọt, Xén tóc và các loài cánh cứng khác. Ở Nga trƣớc Cách mạng tháng Mƣời vĩ đại đã xuất hiện nhiều nhà côn trùng nổi tiếng. Họ đã xuất bản những tác phẩm có giá trị về những loài nhƣ: Sâu róm thông, sâu đo ăn lá, ong ăn lá, các loài thuộc bộ cánh cứng ăn lá thuộc họ Chrysomelidae, mọt, vòi voi, xén tóc đục thân… Về phân loại, năm 1910 – 1940, Volka và Sonkling đã xuất bản tài liệu về 4 côn trùng thuộc bộ cánh cứng ( coleoptera ) gồm 240.000 loài, đƣợc in trong 31 tập với hàng nghìn loài thuộc bộ cánh cứng thuộc họ bọ cánh cứng ăn lá ( Chrysomelidae ).I Ilinski đã xuất hiện bản cuốn “ phân loại côn trùng bằng trứng, sâu non và nhộng của sâu hại rừng ” trong đó đè cập đến phân loại một số loài thuộc họ Bọ lá Ở Rumani năm 1962, M.A Ionescu đã xuất hiện bản cuốn “Côn trùng học” trong đó đề cập đến phân loại họ Bọ lá và tác giả mô tả cụ thể đƣợc 14 loài.
Năm 1965, Viện hàn lâm khoa học Nga đã xuất bản 11 tập phân loại côn trùng thuộc châu Âu, trong đó có tập thứ 5 về bộ cánh cứng (Coleoptera ). Năm 1996, Bey – Bienko đã phát hiện và mô tả đƣợc 300.000 loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng.N Boronxop viết giáo trình “Côn trùng rừng” đề cập nhiều tới côn trùng bộ Cánh nhƣ Bọt, Xén tóc, Sâu định và Bọ lá… Năm 1966, Bey – Bienko đã pháp hiện và mô tả đƣợc 300.000 loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng.