Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam có diện tích tự nhiên khoảng 330.541 $\text{km}^2$, nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á với mức độ đa dạng sinh học cao. Trong giới động vật, lớp Côn trùng (Insecta) chiếm khoảng 75% trong tổng số hơn 1 triệu loài động vật đã được biết đến trên thế giới. Ước tính khoảng 80% số loài côn trùng sử dụng thức ăn là thực vật và bản thân chúng là nguồn thức ăn mắt xích quan trọng cho nhiều loài chim, thú, bò sát, ếch nhái, cá và nhện. Côn trùng giữ vai trò thiết yếu trong việc duy trì cân bằng sinh thái: thụ phấn cho khoảng 1/3 các loài thực vật có hoa, tham gia vào quá trình khoáng hóa tàn dư thực vật, phân giải xác động vật, đào xới đất tạo độ thông thoáng và hình thành lớp đất mùn. Tuy nhiên, các hoạt động khai thác quá mức, tình trạng mất rừng tự nhiên và việc lạm dụng thuốc trừ sâu hóa học tràn lan đã làm suy thoái môi trường sống, thu hẹp sinh cảnh và làm suy giảm nghiêm trọng tính đa dạng sinh học của côn trùng.

Bộ Cánh cứng (Coleoptera) là bộ có số lượng loài lớn nhất trong lớp Côn trùng, với kích thước cơ thể dao động từ dưới 1 mm đến trên 75 mm (thậm chí đạt tới 125 mm ở một số loài nhiệt đới) và có phổ phân bố rộng khắp các hệ sinh thái lục địa. Mặc dù nhiều công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng đã được tiến hành trên thế giới và tại Việt Nam, phần lớn các điều tra trong nước trước đây chỉ tập trung ở vùng lõi của các Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên, chưa chú trọng đúng mức đến các khu vực vùng đệm chịu tác động nhân sinh. Tại Vườn Quốc gia Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) – khu vực rừng nguyên sinh trên núi đá vôi có giá trị bảo tồn cao – các khảo sát về côn trùng cánh cứng trước đây còn mang tính chất lẻ tẻ, chưa có tính hệ thống. Việc thực hiện đề tài "Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn côn trùng thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại Vườn Quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn" nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa phục vụ công tác quản lý tài nguyên rừng tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  • Mục tiêu chung: Góp phần quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học côn trùng thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại Vườn Quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định được thành phần loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại khu vực nghiên cứu.
    2. Đánh giá được hiện trạng đa dạng sinh học và đặc điểm phân bố của côn trùng thuộc bộ Cánh cứng theo các dạng sinh cảnh.
    3. Đưa ra các giải pháp quản lý côn trùng gây hại và bảo tồn côn trùng có ích thuộc bộ Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu.

Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm 4 nội dung chính: (1) Xác định thành phần loài côn trùng cánh cứng; (2) Đánh giá đặc điểm phân bố và tính đa dạng loài; (3) Cung cấp dẫn liệu về đặc điểm sinh thái, sinh học của một số loài thường gặp; (4) Đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn phù hợp.

  • Đối tượng nghiên cứu: Côn trùng thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera).
  • Phạm vi không gian: Vườn Quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (tập trung vào các sinh cảnh vùng đệm và vùng chuyển tiếp ven hồ).
  • Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra, thu thập và xử lý số liệu được thực hiện từ tháng 02/2019 đến tháng 05/2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và văn bản quy phạm

Khóa luận vận dụng các khái niệm nền tảng về đa dạng sinh học theo quy định của Luật Đa dạng sinh học (2008), tiếp cận đa dạng sinh học ở 3 cấp độ: đa dạng di truyền (gen), đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng khung lý thuyết phân chia mức độ đa dạng sinh học của Whittaker (1972), bao gồm: đa dạng alpha ($\alpha$ - đánh giá mức độ đa dạng trong một quần xã nhất định), đa dạng beta ($\beta$ - đánh giá sự thay thế loài khi chuyển giữa các quần xã sinh cảnh khác nhau) và đa dạng gamma ($\gamma$ - đánh giá sự phong phú loài trên toàn bộ cảnh quan khu vực).

Phương pháp nghiên cứu thực địa và thu thập dữ liệu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập kết hợp giữa phương pháp kế thừa tài liệu lưu trữ, phỏng vấn cán bộ quản lý VQG Ba Bể/người dân địa phương và phương pháp điều tra thực địa theo tuyến kết hợp điểm/ô tiêu chuẩn (ÔTC). Tác giả thiết lập 3 tuyến điều tra chính cắt qua các dạng địa hình và sinh cảnh đặc trưng:

  • Tuyến 1: Bờ hồ Bó Lù - đập tràn - ruộng ngô Động Nà Phòng (chiều dài 1,8 km; bố trí 3 điểm điều tra/ÔTC1 - ÔTC3 tại vị trí chân đồi, hướng dốc Tây Nam, độ dốc 5°, thảm thực bì cỏ dại, mần trầu, độ tàn che 20%, độ che phủ 80%).
  • Tuyến 2: Bờ hồ Bó Lù - đồn Trộc Théc (chiều dài 2,5 km; bố trí 3 điểm điều tra/ÔTC4 - ÔTC6 tại vị trí sườn đồi, hướng Tây, độ dốc 25°, sinh cảnh rừng hỗn giao tự nhiên, thực bì dương xỉ, trinh nữ, xuyến chi, độ tàn che 60%, độ che phủ 70%).
  • Tuyến 3: Bờ hồ Bó Lù - sau nhà dân Còi Trang (chiều dài 1,9 km; bố trí 3 điểm điều tra/ÔTC7 - ÔTC9 tại chân đồi, sinh cảnh cây vườn ăn quả và đất nông nghiệp, độ che phủ 65%).

Phương pháp thu mẫu chuyên biệt theo từng tầng sinh cảnh:

  • Điều tra cây đứng: Trong ÔTC diện tích 500 $\text{m}^2$, chọn 5 mốc theo phương pháp 5 mốc; mỗi mốc chọn 2 cây gỗ lớn tiêu chuẩn đại diện; trên mỗi cây chọn 5 cành theo phương pháp chuẩn để quan sát, đếm và thu bắt cá thể.
  • Điều tra cây đổ: Mỗi ÔTC điều tra tối thiểu 1 cây đổ; trên mỗi cây bố trí tối đa 9 ô dạng bản (diện tích 1.000 $\text{cm}^2$/ô với các kích thước $50 \times 20\text{ cm}$, $40 \times 25\text{ cm}$ hoặc $100 \times 10\text{ cm}$) chia đều ở gốc, thân và ngọn. Tiến hành bóc vỏ đếm số lỗ mọt, đường đục đơn thê/đa thê của mọt và đường đục của xén tóc, sâu đinh.
  • Điều tra gốc chặt: Dùng dao bóc lớp vỏ ngoài của các gốc cây chặt để kiểm tra vết sâu hại, lỗ mọt và đường đục.
  • Điều tra thảm mục và đất: Thực hiện trên các ô dạng bản (ODB) diện tích 1 $\text{m}^2$ ($1 \times 1\text{ m}$), bới thảm mục và dùng cuốc đào từng lớp đất sâu 10 cm đến độ sâu 35 - 45 cm để thu thập ấu trùng, nhộng và sâu trưởng thành.
  • Thu mẫu bằng vợt bắt: Sử dụng vợt vải màn miệng tròn khung sắt đường kính 30 cm có cán nhôm, dừng lại 20 - 30 phút tại mỗi điểm dừng trên tuyến để vợt bắt các loài bay lượn.
  • Thời gian điều tra thực địa: Thực hiện qua 3 đợt tập trung vào tháng 3/2019: Đợt 1 (13/3 - 14/3/2019), Đợt 2 (17/3 - 18/3/2019), Đợt 3 (20/3 - 21/3/2019). Toàn bộ dữ liệu được ghi nhận theo hệ thống 8 mẫu biểu chuẩn (từ Mẫu biểu 01 đến Biểu 08).

Phương pháp xử lý, bảo quản, giám định mẫu và xử lý số liệu

Mẫu vật thu được được ngâm bảo quản trong dung dịch cồn nồng độ $>70%$. Mẫu được làm tiêu bản bằng cách cắm kim côn trùng vuông góc qua vai trước hoặc dán keo lên tấm giấy tam giác nhọn gắn kim đối với mẫu kích thước nhỏ. Giám định hình thái dựa trên bộ mẫu chuẩn của Bộ môn Bảo vệ Thực vật Rừng (Trường Đại học Lâm nghiệp) và các tài liệu chuyên khảo: "Chinese Insects Illustrated" và "Bộ mẫu ảnh sinh thái 600 loài côn trùng Trung Quốc" (Triệu Mai Quân, 2004).

Số liệu được xử lý bằng các công thức sinh thái học:

  • Tỷ lệ bắt gặp ($P%$): $P% = \left(\frac{n}{N}\right) \times 100$ (với $n$ là số điểm điều tra bắt gặp loài, $N$ là tổng số điểm điều tra, $N = 21$). Tiêu chuẩn phân hạng độ thường gặp:
    • Loài thường gặp: $P% > 50%$
    • Loài ít gặp: $25% \le P% \le 50%$
    • Loài ngẫu nhiên gặp: $P% < 25%$
  • Mật độ cá thể ($M$): $M = \frac{\sum S_i}{n}$ (với $S_i$ là số lượng sâu tại đơn vị điều tra thứ $i$, $n$ là tổng số đơn vị điều tra trong ÔTC).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về lớp Côn trùng (Insecta/Hexapoda) và bộ Cánh cứng (Coleoptera). Côn trùng cánh cứng có chu trình sinh thái với biến thái hoàn toàn; ấu trùng có dạng chân chạy hoặc dạng bọ hung; nhộng đa số là nhộng trần hoặc nhộng trong kén đất; tập tính dinh dưỡng bao gồm ăn thực vật, ăn thịt/bắt mồi, ăn mùn bã hữu cơ mục nát, ăn bào tử nấm hoặc sống cộng sinh/ký sinh. Về tác hại, côn trùng gây hại ước tính làm giảm từ 5% đến 10% sản lượng cây trồng nông lâm nghiệp toàn cầu với thiệt hại khoảng 25 tỷ USD mỗi năm.

Về lịch sử nghiên cứu, chương phân tích tiến trình nghiên cứu bộ Cánh cứng trên thế giới từ thời Aristoteles (384 - 322 TCN), Carl von Linné, sự thành lập Hội Côn trùng học Anh (1745) và Nga (1859), các công trình phân loại của Keppen (1882 - 1883), Volka & Sonkling (1910 - 1940 với 240.000 loài trong 31 tập), Bey-Bienko (1966, 1996 với 300.000 loài), Trương Chấp Trung (1959), đến các công bố giải mã gen tại Mỹ (2003) và phát hiện 101 loài mới tại Papua New Guinea (2013). Tại Việt Nam, tác giả điểm lại các mốc điều tra từ đoàn Parie (1897 - 1904: 541 loài cánh cứng), Vitalis de Salvaza (1921), các đợt điều tra của Bộ Nông nghiệp (1961 - 1968: 2.962 loài côn trùng thuộc 223 họ), các công trình của Đặng Vũ Cẩn (1973), Hoàng Đức Nhuận (1982), Đặng Thị Đáp (2004, 2007), Bùi Trung Hiếu (2008), và Lê Thị Diên cùng cộng sự (2012 tại VQG Bạch Mã: 178 loài thuộc 128 giống, 17 họ). Tác giả nhận định phần lớn các nghiên cứu trong nước tập trung vào các họ gây hại nông lâm nghiệp (Xén tóc, Bọ lá, Bọ hung, Vòi voi), ít chú trọng đến các nhóm phân họ khác và thiếu các giải pháp bảo tồn đồng bộ cho côn trùng có ích.

Chương 2: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết về khung nghiên cứu thực địa, đối tượng, địa điểm tại VQG Ba Bể và thời gian thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5/2019. Nội dung chương mô tả cụ thể 5 phương pháp điều tra thực tế (điều tra cây đứng theo 5 mốc, điều tra cây đổ theo 9 ô dạng bản $1.000\text{ cm}^2$, điều tra bóc vỏ gốc chặt, điều tra thảm mục và đào đất sâu 35 - 45 cm trên ô $1\text{ m}^2$, phương pháp dùng vợt côn trùng đường kính 30 cm) cùng các công thức tính tỷ lệ bắt gặp $P%$, mật độ $M$ và hệ số phân hạng thường gặp/ít gặp/ngẫu nhiên.

Chương 3: Đặc điểm khu vực nghiên cứu

Chương 3 khái quát toàn diện điều kiện tự nhiên, tài nguyên và kinh tế - xã hội của khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn:

  • Địa chất, địa hình: Nằm trong vùng karst Chợ Rã - Ba Bể - Chợ Đồn, cấu tạo bởi khối đá vôi Givet (kỷ Devon giữa) nằm trên phiến đá Proterozoic cạnh 2 khối đá hoa cương, có tuổi địa chất lục địa khoảng 200 triệu năm. Địa hình núi đá vôi có độ cao trung bình 800 - 1.000 m (độ cao toàn huyện dao động từ 400 - 1.200 m), độ dốc $>35^\circ$, nhiều hang động karst lớn như Động Puông, Động Tiên, Động Nả Phòng, Động Ba Cửa, Hang Sơn Dương.
  • Thủy văn, khí hậu: Hồ Ba Bể có diện tích mặt nước gần 500 ha, nằm kẹp giữa cánh cung Sông Gâm và cánh cung Ngân Sơn, chia cắt thành 3 hồ nhỏ (Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng), kết nối với sông Năng. Khí hậu chia 2 mùa: mùa mưa (tháng 4 - 10, chiếm 91% lượng mưa năm), mùa khô (tháng 11 - 3 năm sau); nhiệt độ trung bình năm $22^\circ\text{C}$ (tối thấp $0^\circ\text{C}$, tối cao $<40^\circ\text{C}$), độ ẩm trung bình $>80%$.
  • Tài nguyên sinh vật: VQG Ba Bể có hệ sinh thái rừng nguyên sinh trên núi đá vôi rộng 7.610 ha (theo số liệu văn bản) với 417 loài thực vật, 299 loài động vật có xương sống (nhiều loài quý hiếm như voọc mũi hếch, phượng hoàng đất, gà lôi), 49 loài cá nước ngọt (cá chép kính, cá rầm xanh, cá chiên). Đất đai canh tác nông lâm nghiệp phát triển hơn 1.000 ha mận, mơ, dứa cùng các cây trồng ngắn ngày như ngô, lúa, đậu tương.
  • Kinh tế - xã hội: Năm 2019, huyện Ba Bể thực hiện mục tiêu giảm nghèo 4% (tương đương 458 hộ), đã giải ngân vốn đạt hơn 121 tỷ đồng (78,2% kế hoạch); cấp 58.589 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (85,8% chỉ tiêu); phát hiện và xử lý 6 vụ khai thác cát trái phép (tịch thu 31,7 $\text{m}^3$ cát).

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 trình bày các phát hiện thực địa về thành phần loài, tính đa dạng, phân bố sinh cảnh, vai trò sinh thái, mô tả hình thái - sinh học của các loài tiêu biểu và đề xuất giải pháp quản lý:

1. Thành phần loài và mức độ phong phú

Khảo sát đã ghi nhận được 9 loài côn trùng thuộc 5 họ trong bộ Cánh cứng tại VQG Ba Bể:

STT Tên khoa học Tên Việt Nam Họ Tỷ lệ bắt gặp ($P%$) Mức độ thường gặp Vai trò sinh thái
1 Aristobia approximator - Cerambycidae (Xén tóc) 43,75% Ít gặp Hại thân cành
2 Plocaederus ruficornis - Cerambycidae (Xén tóc) 62,50% Thường gặp Hại thân cành
3 Chlorophorus annularis Xén tóc da hổ Cerambycidae (Xén tóc) 62,50% Thường gặp Hại thân cành
4 Paraphrus granulosus Xén tóc hung Cerambycidae (Xén tóc) 37,50% Ít gặp Hại thân cành
5 Clytra laeviuscula Bọ lá Chrysomelidae (Bọ lá) 37,50% Ít gặp Hại lá
6 Cyrtotrachelus longimanus Vòi voi chân dài Curculionidae (Vòi voi) 50,00% Thường gặp Hại thân (măng)
7 Holotrichia sauteri Bọ hung nâu lớn Scarabaeidae (Bọ hung) 75,00% Thường gặp Hại thân, rễ, lá
8 Maladera sp. Bọ hung nâu nhỏ Scarabaeidae (Bọ hung) 37,50% Ít gặp Hại thân, rễ
9 Melanotus crassicoliss Bổ củi nâu đen Elateridae (Bổ củi) 56,25% Thường gặp Hại thân lá, mầm non

Trong 9 loài thu thập được:

  • Nhóm thường gặp ($P% > 50%$) chiếm 5 loài (tương đương 56%): Holotrichia sauteri ($75%$), Plocaederus ruficornis ($62,5%$), Chlorophorus annularis ($62,5%$), Melanotus crassicoliss ($56,25%$), Cyrtotrachelus longimanus ($50%$).
  • Nhóm ít gặp ($25% \le P% \le 50%$) chiếm 4 loài (tương đương 44%): Aristobia approximator ($43,75%$), Paraphrus granulosus ($37,5%$), Clytra laeviuscula ($37,5%$), Maladera sp. ($37,5%$).
  • Nhóm ngẫu nhiên gặp ($P% < 25%$): 0 loài (0%).

2. Cấu trúc họ và phân bố sinh cảnh

Về cấu trúc họ:

  • Họ Xén tóc (Cerambycidae): 4 loài (chiếm 44,5% tổng số loài).
  • Họ Bọ hung (Scarabaeidae): 2 loài (chiếm 22,2%).
  • Họ Bọ lá (Chrysomelidae): 1 loài (chiếm 11,1%).
  • Họ Vòi voi (Curculionidae): 1 loài (chiếm 11,1%).
  • Họ Bổ củi (Elateridae): 1 loài (chiếm 11,1%).

Về phân bố theo 5 dạng sinh cảnh điều tra:

  • Sinh cảnh Rừng tự nhiên: 3 loài (chiếm 33,4%).
  • Sinh cảnh Rừng tre nứa: 2 loài (chiếm 22,2%).
  • Sinh cảnh Trồng cây nông nghiệp: 2 loài (chiếm 22,2%).
  • Sinh cảnh Thảm cỏ cây bụi (Ib, Ic): 1 loài (chiếm 11,1%).
  • Sinh cảnh Khu vực dân cư sinh sống: 1 loài (chiếm 11,1%).

3. Vai trò sinh thái và đặc điểm sinh học

Về vai trò chức năng trong hệ sinh thái:

  • Nhóm gây hại (ăn lá, vỏ cây, đục thân cành, hại mầm rễ): 7 loài (chiếm 77,8% / 78%).
  • Nhóm có ích (phân hủy xác động - thực vật, cải tạo làm tơi xốp đất): 2 loài thuộc họ Bọ hung (chiếm 22,2% / 22%).

Đặc điểm hình thái và sinh thái học của một số loài tiêu biểu được mô tả trong khóa luận:

  • Bọ hung nâu lớn (Holotrichia sauteri): Thân dài 30 - 35 mm, màu nâu hoặc nâu sẫm, râu đầu hình đầu gối lá lợp, cánh cứng không che hết đốt bụng cuối; sâu non cong chữ C màu trắng sữa, sống ở độ sâu đất 20 - 25 cm ăn phân mục và cắn rễ cây con; sâu trưởng thành bay lên ăn lá cây vào chập tối đến gần sáng, thích mùi phân trâu bò tươi.
  • Bọ hung nâu nhỏ (Maladera sp.): Thân dài khoảng 10 mm, rộng 6 mm, màu nâu đỏ hoặc nâu sẫm; sâu trưởng thành xuất hiện nhiều vào các đêm ấm, nhiều mây, mưa lất phất vào cuối tháng 3 đầu tháng 4.
  • Xén tóc (Plocaederus ruficornis): Thân phủ lông tơ màu vàng nâu đến xám; râu đầu con đực dài gần gấp đôi thân; con cái đẻ trứng (10 - 30 quả/ổ) vào kẽ nứt của gỗ khô có độ ẩm 12 - 20%; vòng đời kéo dài 2 - 3 năm/thế hệ; sâu non đục gỗ làm mất ứng lực chịu lực của gỗ.
  • Vòi voi chân dài (Cyrtotrachelus longimanus): Thân dài 21 - 33 mm màu nâu đỏ, mảnh lưng ngực trước có vân đen tứ giác, mỗi cánh cứng có 9 dải chấm nhỏ; mỗi năm có 1 thế hệ; sâu trưởng thành qua đông trong đất, xuất hiện từ tháng 5 và rộ vào tháng 7 - 8; con cái đẻ 25 - 30 trứng vào đỉnh măng tre nứa; sâu non đục phá mô măng non trong 15 ngày làm thối chết măng, sau đó chui xuống đất hóa nhộng 14 ngày.
  • Bổ củi nâu đen (Melanotus crassicoliss): Kích thước 12 - 30 mm màu nâu đen, mảnh lưng ngực trước kéo dài 2 góc thành 2 răng nhọn, mảnh bụng ngực trước có kim dài khớp vào khe ngực giữa; chân có công thức đốt bàn 5-5-5; ấu trùng (sâu thép) thân cứng bóng láng hại rễ, hạt giống và cây con.

Kết quả và đóng góp nghiên cứu

Kết quả chính

  1. Khóa luận đã lập danh lục bước đầu gồm 9 loài côn trùng cánh cứng thuộc 5 họ tại khu vực điều tra Vườn Quốc gia Ba Bể, trong đó họ Xén tóc (Cerambycidae) chiếm tỷ lệ cao nhất (44,5%), tiếp đến là họ Bọ hung (Scarabaeidae - 22,2%).
  2. Xác định được tỷ lệ bắt gặp của các loài: 5 loài thuộc nhóm thường gặp ($P% > 50%$, chiếm 56%), 4 loài thuộc nhóm ít gặp ($25% \le P% \le 50%$, chiếm 44%), không ghi nhận loài ngẫu nhiên.
  3. Đánh giá tính phân bố theo sinh cảnh: Mức độ phong phú loài cao nhất ở sinh cảnh rừng tự nhiên (33,4%), tiếp theo là rừng tre nứa (22,2%) và đất canh tác nông nghiệp (22,2%); thấp nhất tại khu dân cư (11,1%) và trảng cỏ cây bụi (11,1%).
  4. Đánh giá tỷ lệ vai trò sinh thái: Nhóm sâu hại thực vật chiếm ưu thế tuyệt đối (77,8%), trong khi nhóm phân giải chất hữu cơ và cải tạo đất chiếm 22,2%.

Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất

Tác giả đề xuất 2 nhóm giải pháp quản lý và bảo tồn:

  • Giải pháp chung:
    • Pháp lý: Xây dựng quy chế ràng buộc trách nhiệm của chủ rừng và cộng đồng; ban hành quy định nghiêm ngặt về quản lý, kiểm soát và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học.
    • Tổ chức quản lý & tuyên truyền: Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ kiểm lâm và quản lý VQG; lắp đặt biển báo tuyên truyền; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về bảo vệ rừng và côn trùng có ích.
    • Phát triển kinh tế cộng đồng: Triển khai mô hình nông lâm kết hợp, ưu tiên cây lương thực ngắn ngày (lúa, ngô), chăn nuôi gia súc có kiểm soát bãi chăn thả và phát triển du lịch sinh thái nhằm giảm áp lực khai thác tài nguyên rừng vùng đệm.
  • Giải pháp cụ thể:
    • Quản lý côn trùng gây hại: Sử dụng giống cây có khả năng chống chịu sâu hại; định kỳ điều tra dự tính dự báo quy luật phát dịch. Đối với họ Bọ hung và Bọ lá ăn lá: dùng chất dẫn dụ sinh học làm bẫy bắt trưởng thành, chặt tỉa cây bị hại và dọn đốt thực bì tiêu diệt mầm bệnh. Đối với họ Vòi voi hại tre nứa: cuốc đất lật gốc bán kính 1 m quanh bụi tre để diệt nhộng, dùng túi ni lông bọc măng non mới nhú, dùng thuốc Bi 58 nồng độ 0,005% phun/quét lên măng từ tháng 6, kết hợp bảo vệ các loài bọ ngựa, bọ xít ăn sâu. Đối với họ Xén tóc: dùng chất dẫn dụ sinh học và chặt cây tươi làm bẫy thu bắt sâu trưởng thành.
    • Bảo tồn và phát triển thiên địch: Bảo vệ tầng thảm tươi, cây bụi làm nơi cư trú cho côn trùng có ích; bổ sung thức ăn và làm tổ nhân tạo khi mật độ sâu hại thấp, ngắt nguồn thức ăn nhân tạo khi có dịch để thiên địch tập trung săn bắt sâu hại; sử dụng các loài họ Đom đóm (Lampyridae) và Hành trùng (Carabidae) để khống chế sâu non bọ hung, sâu thép; thu gom ổ trứng và gây nuôi nhân tạo các loài họ Bọ rùa (Coccinellidae) để chủ động thả vào các ổ dịch sâu hại.

Đóng góp nghiên cứu

Khóa luận bổ sung các dẫn liệu thực địa cụ thể về thành phần loài, đặc điểm phân bố theo sinh cảnh và tập tính gây hại của các loài cánh cứng tại khu vực vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Bể. Nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn để định hướng các biện pháp lâm sinh và sinh học trong phòng trừ sâu hại rừng trồng (đặc biệt là sâu hại măng tre nứa và gỗ khô), đồng thời đề xuất giải pháp bảo vệ các loài côn trùng thiên địch trong hệ sinh thái rừng.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra các tồn tại và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp như sau:

Hạn chế (Tồn tại)

  • Điều kiện thời tiết trong các tháng 4 và tháng 5/2019 mưa nhiều, gây cản trở trực tiếp cho hoạt động điều tra và thu thập mẫu ngoài hiện trường, dẫn đến số lượng loài ghi nhận chưa phản ánh hết tính đa dạng thực tế.
  • Khóa luận thu thập được một số mẫu côn trùng có kích thước nhỏ nhưng do giới hạn về thời gian nghiên cứu và tài liệu tra cứu chuyên sâu nên chưa thể định loại và giám định hết toàn bộ mẫu vật.
  • Nghiên cứu mới chỉ tập trung mô tả đặc điểm sinh học của một số loài thường gặp, chưa thể điều tra chi tiết đầy đủ tất cả các pha phát triển (trứng, sâu non, nhộng, trưởng thành) của từng loài ngoài tự nhiên.
  • Tác giả tự đánh giá kinh nghiệm thực tiễn trong kỹ thuật thu bắt và bảo quản mẫu tiêu bản côn trùng còn những hạn chế nhất định.

Hướng nghiên cứu tiếp (Kiến nghị)

  • Cần bố trí thời gian điều tra thực địa dài hơn và tiến hành vào đúng các tháng cao điểm hoạt động của bộ Cánh cứng trong năm để thu thập được bộ mẫu đầy đủ, chuẩn xác hơn.
  • Mở rộng phạm vi và thời gian nghiên cứu để theo dõi chuyên sâu các pha phát triển vòng đời và đặc tính sinh học của các loài cánh cứng đặc hữu tại VQG Ba Bể.
  • Tiếp tục thực hiện các đợt điều tra định kỳ nhằm hoàn thiện danh lục phân bố côn trùng bộ Cánh cứng, phục vụ xây dựng kế hoạch quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học dài hạn cho Vườn Quốc gia.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng và nội dung sau:

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các ngành Quản lý Tài nguyên Rừng, Lâm học, Bảo vệ Thực vật, Sinh thái học và Quản lý Môi trường; cán bộ kỹ thuật của Ban quản lý Vườn Quốc gia Ba Bể và các Chi cục Kiểm lâm địa phương.
  • Nội dung tham khảo giá trị:
    • Phương pháp luận điều tra: Hệ thống 8 mẫu biểu điều tra thực địa (từ Mẫu biểu 01 đến Biểu 08) và quy trình điều tra côn trùng phân tầng hoàn chỉnh: từ điều tra tán cây đứng (phương pháp 5 mốc), thân cây đổ (ô dạng bản 1.000 $\text{cm}^2$), bóc vỏ gốc chặt, điều tra thảm mục/đào đất sâu 35 - 45 cm (ô dạng bản 1 $\text{m}^2$) đến kỹ thuật vợt bắt.
    • Dữ liệu sinh học thực nghiệm: Các mô tả hình thái, tập tính gây hại của loài vòi voi chân dài (Cyrtotrachelus longimanus) hại măng tre nứa, xén tóc (Plocaederus ruficornis) hại gỗ khô, bọ hung nâu lớn (Holotrichia sauteri) hại rễ và lá.
    • Quy trình bảo vệ thực vật tích hợp: Hướng dẫn phối hợp giữa biện pháp kỹ thuật lâm sinh (chọn giống, vệ sinh rừng, cuốc lật đất), biện pháp hóa học cục bộ (sử dụng Bi 58 nồng độ 0,005% cho măng) và cơ chế kích hoạt thiên địch sinh học (Carabidae, Lampyridae, Coccinellidae).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đã ghi nhận được bao nhiêu loài côn trùng bộ Cánh cứng tại VQG Ba Bể và họ nào chiếm ưu thế nhất?

Khảo sát thực địa đã ghi nhận được 9 loài thuộc 5 họ của bộ Cánh cứng (Coleoptera). Trong đó, họ Xén tóc (Cerambycidae) chiếm ưu thế lớn nhất về số lượng với 4 loài (chiếm 44,5% tổng số loài), tiếp theo là họ Bọ hung (Scarabaeidae) với 2 loài (22,2%), các họ Bọ lá (Chrysomelidae), Vòi voi (Curculionidae) và Bổ củi (Elateridae) mỗi họ ghi nhận 1 loài (chiếm 11,1%/họ).

2. Sự phân bố của các loài côn trùng Cánh cứng theo các dạng sinh cảnh tại khu vực nghiên cứu có đặc điểm gì?

Các loài côn trùng cánh cứng phân bố không đồng đều qua 5 dạng sinh cảnh: tập trung nhiều nhất ở sinh cảnh Rừng tự nhiên với 3 loài (chiếm 33,4%); tiếp đến là sinh cảnh Rừng tre nứa và sinh cảnh Trồng cây nông nghiệp, mỗi sinh cảnh ghi nhận 2 loài (chiếm 22,2%); thấp nhất là sinh cảnh Thảm cỏ cây bụi và Khu vực dân cư sinh sống, mỗi sinh cảnh chỉ ghi nhận 1 loài (chiếm 11,1%).

3. Loài vòi voi chân dài (Cyrtotrachelus longimanus) gây hại đối tượng cây trồng nào và có chu kỳ phát triển ra sao?

Cyrtotrachelus longimanus là loài chuyên gây hại nghiêm trọng trên măng của các loài tre nứa mọc thành bụi. Mỗi năm loài này có 1 thế hệ; sâu trưởng thành qua đông trong đất, bắt đầu xuất hiện từ tháng 5 và rộ vào tháng 7 - 8; con cái đẻ 25 - 30 trứng vào đỉnh măng non; sâu non đục khoét mô bên trong măng trong khoảng 15 ngày làm măng chết thối, sau đó cắn thủng đỉnh măng chui xuống đất hóa nhộng trong 14 ngày trước khi vũ hóa.

4. Khóa luận đề xuất biện pháp kỹ thuật cụ thể nào để phòng trừ loài vòi voi hại măng và xén tóc hại gỗ?

  • Đối với vòi voi hại măng tre nứa: Kết hợp chăm sóc rừng trồng với việc cuốc đất lật xung quanh gốc bán kính 1 m để diệt nhộng; bọc măng non mới nhú khỏi mặt đất bằng túi ni lông; dùng thuốc Bi 58 nồng độ 0,005% phun hoặc quét lên măng từ tháng 6; kết hợp bảo tồn bọ ngựa và bọ xít ăn sâu.
  • Đối với xén tóc hại gỗ (Plocaederus ruficornis): Sử dụng chất dẫn dụ sinh học và chặt các cành cây tươi đặt rải rác làm bẫy thu bắt sâu trưởng thành; kiểm soát độ ẩm gỗ thành phẩm.

5. Tỷ lệ giữa nhóm côn trùng gây hại và nhóm côn trùng có ích tại khu vực điều tra được ghi nhận như thế nào?

Trong tổng số 9 loài điều tra được, nhóm côn trùng có tập tính gây hại (ăn lá, cắn vỏ cây, đục thân cành, hại mầm rễ) chiếm tỷ lệ vượt trội với 7 loài (chiếm 77,8% / 78%). Nhóm côn trùng có ích tham gia phân hủy xác động thực vật, mùn bã và cải tạo đất chỉ có 2 loài (chiếm 22,2% / 22%), đều thuộc họ Bọ hung (Scarabaeidae).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Triệu Văn Bằng đã thực hiện điều tra có hệ thống và ghi nhận được 9 loài côn trùng thuộc 5 họ của bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại các sinh cảnh đặc trưng thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Nghiên cứu đã làm rõ cấu trúc thành phần loài với ưu thế thuộc về họ Xén tóc (44,5%), phân tích đặc điểm phân bố ưu tiên ở sinh cảnh rừng tự nhiên (33,4%), đồng thời chỉ ra nhóm gây hại chiếm tới 77,8% tổng số loài bắt gặp. Trên cơ sở dẫn liệu thực nghiệm về hình thái và sinh thái học của các loài chủ yếu, đề tài đã xây dựng hệ thống giải pháp quản lý dịch hại bằng kỹ thuật lâm sinh - sinh học kết hợp bảo tồn côn trùng thiên địch, đóng góp nguồn dữ liệu thực địa hữu ích cho công tác quản lý tài nguyên rừng tại địa phương.