Luận văn thạc sĩ về nghiên cứu đa dạng cây thuốc ở làng Khua Sung, huyện Nặm Thà, tỉnh Luông Nặm Thà

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đa dạng cây thuốc tại làng Khua Sung, huyện Nặm Thà, tỉnh Luông Nặm Thà, Lào. Khám phá giá trị và ứng dụng.

Chuyên ngành

Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

137
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Những nghiên cứu về thảm thực vật và hệ thực vật

1.2. Những nghiên cứu về cây thuốc và vị thuốc trên thế giới, Việt Nam và Lào

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn (OTC)

2.4.2. Phương pháp thu mẫu thực vật

2.4.3. Phương pháp phân tích mẫu vật

2.4.4. Phương pháp điều tra trong nhân dân

2.4.5. Phương pháp nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.2. Vị trí địa lý

3.3. Địa chất, thổ nhưỡng

3.4. Khí hậu, thủy văn

3.5. Điều kiện kinh tế, xã hội

3.5.1. Điều kiện kinh tế

3.5.2. Điều kiện xã hội

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đa dạng các bậc taxon thực vật làm thuốc ở KVNC

4.1.1. Đa dạng ở mức độ ngành

4.1.2. Đa dạng ở mức độ họ

4.1.3. Đa dạng ở mức độ chi

4.2. Đa dạng của các loài cây thuốc trong các kiểu thảm thực vật

4.2.1. Đa dạng của các loài cây thuốc trong thảm cỏ

4.2.2. Đa dạng của các loài cây thuốc trong thảm cây bụi

4.2.3. Đa dạng của các loài cây thuốc trong rừng thứ sinh

4.2.4. Đa dạng của các loài cây thuốc trong rừng nguyên sinh bị tác động

4.3. Đa dạng thành phần dạng sống của các loài cây thuốc

4.4. Đa dạng các bộ phận làm thuốc

4.5. Tình hình sử dụng cây thuốc ở địa phương và một số bài thuốc thu thập được

4.6. Danh sách các loài cây thuốc quý hiếm ở khu vực nghiên cứu

4.7. Đặc điểm hình thái và hoạt tính kháng khuẩn của cây Thanh ngâm (Picria fel-terrae)

4.7.1. Đặc điểm hình thái của cây Thanh ngâm (Picria fel-terrae)

4.7.2. Hoạt tính kháng khuẩn của cây Thanh ngâm (Picria fel-terrae)

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu đa dạng cây thuốc tại làng Khua Sung

Làng Khua Sung, huyện Nặm Thà, tỉnh Luông Nặm Thà, nổi bật với sự đa dạng sinh học phong phú, đặc biệt là các loài cây thuốc. Nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá và ghi nhận các loài cây thuốc có giá trị tại khu vực này. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của các loài cây thuốc không chỉ có ý nghĩa về mặt sinh thái mà còn góp phần vào sức khỏe cộng đồng.

1.1. Đặc điểm địa lý và sinh thái của làng Khua Sung

Làng Khua Sung nằm trong khu vực rừng tự nhiên, với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài thực vật. Địa hình đa dạng tạo điều kiện cho sự hình thành các kiểu thảm thực vật khác nhau, từ rừng nguyên sinh đến rừng thứ sinh.

1.2. Vai trò của cây thuốc trong đời sống người dân

Người dân tộc Khamu tại làng Khua Sung sử dụng cây thuốc như một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Các loài cây thuốc không chỉ được dùng để chữa bệnh mà còn có giá trị dinh dưỡng và văn hóa.

II. Thách thức trong việc bảo tồn cây thuốc tại huyện Nặm Thà

Mặc dù có sự đa dạng phong phú, nhưng cây thuốc tại huyện Nặm Thà đang đối mặt với nhiều thách thức. Sự phát triển kinh tế, khai thác rừng và biến đổi khí hậu đang đe dọa đến sự tồn tại của nhiều loài cây thuốc quý hiếm.

2.1. Tác động của khai thác rừng đến cây thuốc

Khai thác rừng không bền vững đã dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng và chất lượng của các loài cây thuốc. Việc này không chỉ ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên thực vật mà còn tác động đến sức khỏe cộng đồng.

2.2. Biến đổi khí hậu và ảnh hưởng đến đa dạng sinh học

Biến đổi khí hậu đang làm thay đổi điều kiện sinh thái, ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố của các loài cây thuốc. Nhiệt độ tăng cao và lượng mưa không ổn định có thể làm giảm khả năng sinh trưởng của nhiều loài thực vật.

III. Phương pháp nghiên cứu đa dạng cây thuốc tại Khua Sung

Nghiên cứu được thực hiện thông qua các phương pháp điều tra thực địa và phỏng vấn người dân địa phương. Các mẫu cây thuốc được thu thập và phân tích để xác định thành phần loài và công dụng của chúng.

3.1. Phương pháp điều tra thực địa

Phương pháp điều tra thực địa bao gồm việc khảo sát các khu vực rừng và thu thập mẫu cây thuốc. Các thông tin về đặc điểm hình thái và môi trường sống của cây thuốc cũng được ghi nhận.

3.2. Phỏng vấn người dân địa phương

Phỏng vấn người dân địa phương giúp thu thập thông tin về kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong chữa bệnh. Đây là nguồn tư liệu quý giá cho việc ghi nhận tri thức bản địa.

IV. Kết quả nghiên cứu về đa dạng cây thuốc tại làng Khua Sung

Kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều loài cây thuốc quý hiếm được ghi nhận tại làng Khua Sung. Những loài này không chỉ có giá trị trong y học mà còn có tiềm năng trong nghiên cứu dược liệu.

4.1. Danh sách các loài cây thuốc quý hiếm

Nghiên cứu đã thống kê được danh sách các loài cây thuốc quý hiếm, trong đó có nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng. Việc bảo tồn các loài này là rất cần thiết để duy trì đa dạng sinh học.

4.2. Tác dụng của cây thuốc trong y học

Nhiều loài cây thuốc được sử dụng để chữa trị các bệnh phổ biến như cảm cúm, đau bụng và các bệnh về da. Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học của chúng đang được tiến hành để xác định hiệu quả điều trị.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho nghiên cứu cây thuốc

Nghiên cứu đa dạng cây thuốc tại làng Khua Sung không chỉ góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên thực vật mà còn nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của cây thuốc. Cần có các biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững để đảm bảo sự tồn tại của các loài cây thuốc quý.

5.1. Đề xuất biện pháp bảo tồn cây thuốc

Cần xây dựng các chương trình bảo tồn cây thuốc, bao gồm việc giáo dục cộng đồng về giá trị của cây thuốc và khuyến khích việc sử dụng bền vững.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu cần tiếp tục mở rộng để khám phá thêm nhiều loài cây thuốc mới và đánh giá hiệu quả của chúng trong y học hiện đại. Việc kết hợp giữa tri thức bản địa và khoa học hiện đại sẽ mang lại nhiều giá trị.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu đa dạng cây thuốc ở làng khua sung huyện nặm thà tỉnh luông nặm thà nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho một giai đoạn tìm tòi, nghiên cứu sâu về lĩnh vực này. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thầy thuốc người Hy Lạp Dioscorides năm 60 - 20 (TCN) giới thiệu 600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh. Đồng thời, ông cũng là người đặt nền móng cho nền y dược học. Năm 79 - 24 (TCN), nhà tự nhiên học người La Mã Plinus soạn thảo bộ sách "Vạn vật học" gồm 37 tập giới thiệu 1000 loài cây có ích.

Syvan SAYSOUK, Soutthi MALINHONG (2008) khi nghiên cứu đa dạng thuộc ở làng Bản Pông, huyện Ngao, tỉnh Lăm Pang, Thái Lan đã dùng phương pháp phỏng vấn người dân để nghiên cứu cây thuốc ở khu vực nghiên cứu. Bước đầu đã thống kê được 177 loài có giá trị làm thuốc [64] A. Syvan SAYSOUK, Phayoungsuck SAYSOUK (2012) khi nghiên cứu thành phần loài cây thuốc trong trường Đại học Ra Chạ Phắt Chiêng Rai, Thái Lan đã thống kê được 160 loài cây thuốc, thuộc 46 họ kèm theo công dụng của chúng [63]. Lanida PINGMEUNG, Thatsaniviet YASO (2010) khi nghiên cứu thành phần loài thực vật thuộc khu vực sông Cốc, tỉnh Chiêng Rai, Thái Lan (2010) đã thống kê được 476 loài cây thuốc [51].

Nopphamat SOUNTHONCHAREUNNON, Visouda SUVITHAYAVAN (2013) đã biên soạn cuốn sách về cách sử dụng cây thuốc cho người dân thủ đô Băng Cốc, Thái Lan. Cuốn sách đã giới thiệu về các nhóm cây làm thuốc và cách dùng của mỗi loài [53]. Theo Sumithra và cộng sự (2011), dịch chiết từ lá cây Mấm đen (Avicennia officinalis L.) có khả năng kháng viêm, nhóm tác giả cũng đã chứng minh khả năng kháng viêm của Avicennia officinalis là do có sự hiện diện của betulinic - acid trong thành phần của dịch chiết. Thomas (2011) khi nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn của loài Ráng đại (Acrostichum aureum L.) đã khẳng định rằng dịch chiết từ lá khô trong methanol và aceton của loài này có khả năng kháng lại chủng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa đề kháng với Amoxicilin và Chloramphenicol.

Theo tác giả sự có mặt của flavonoid và phenol trong cây ở nồng độ cao là tác nhân kháng lại chủng vi khuẩn trên. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn của loài Ráng đại Acrostichum aureum của tác giả Thomas (2011) cho thấy dịch chiết từ lá khô trong methanol và aceton của loài này có khả năng kháng lại chủng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa đề kháng với Amoxicilin và Chloramphenicol. Theo tác giả sự có mặt của flavonoid và phenol trong cây ở nồng độ cao là tác nhân kháng lại chủng vi khuẩn trên. Ở Thái Lan, Neamsuvan và các cộng sự (2011) đã tiến hành điều tra, khảo sát các cây thuốc của rừng ngập mặn ở tỉnh Songkhla.

Kết quả đã ghi nhận được 110 loài thuộc 100 chi, 51 họ có công dụng làm thuốc. Trong đó có 69 loài chỉ mọc ở các rừng sát biển, 35 loài chỉ mọc ở vùng rừng ngập mặn và 6 loài gặp ở cả hai khu vực. Những nghiên cứu về cây thuốc và vị thuốc ở Việt Nam và Lào * Ở Việt Nam Ở Việt Nam, tập quán sử dụng cây thuốc đã có từ lâu. Có thể nói, nó xuất hiện từ buổi đầu sơ khai, khi con người còn sống theo lối nguyên thuỷ.

Trong quá trình tìm kiếm thức ăn, tổ tiên chúng ta đã ngẫu nhiên phát hiện ra công dụng và tác hại của nhiều loại cây. Suốt một thời gian dài như vậy, tổ tiên chúng ta đã dần dần tích luỹ được nhiều kinh nghiệm, biết lợi dụng tính chất của cây rừng để làm thức ăn và làm thuốc chữa bệnh. Qua các truyền thuyết từ thời xa xưa đã cho biết, tổ tiên ta đã biết dùng cây cỏ làm gia vị kích thích sự ngon miệng và chữa bệnh (Viện Dược liệu, 1990, 1993) [38, 39]. Đáng chú ý Bộ y tế xuất bản tập “Dược liệu Việt Nam” tổng kết các công trình nghiên cứu về cây thuốc trong y học cổ truyền dân gian ở hàng nghìn xã của 53 tỉnh thành phố cả nước [4].

Theo viện Dược liệu (1993), trong tổng số gần 4.000 loài cây thuốc ở Việt Nam, phần lớn được sử dụng theo kinh nghiệm nhân dân, chỉ khoảng 1/3 được phân tích cơ sở khoa học. Thường các loài cây được chữa các bệnh trong cuộc sống hàng ngày nhưng có cả một số bệnh nan y [39]. Thế kỷ XI (TCN), nhân dân ta có tục ăn trầu cho ấm người, thơm miệng, uống nước chè xanh cho mát, nụ vối cho dễ tiêu. Điều đó nói lên những hiểu biết về dinh dưỡng và sử dụng thuốc của dân tộc.

Thế kỷ II (TCN), hàng trăm loại thuốc đã được phát hiện như: sắn dây, khoai lang, mơ, quýt. và trong thời kỳ Bắc thuộc, nhiều vị thuốc của ta đã được xuất sang Trung Quốc. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dưới triều vua nhà Lý (1010 - 1244) có nhiều lương y nổi tiếng, trong đó có nhà sư Minh Không (Nguyễn Chí Thành) ở chùa Giao Thuỷ đã có công chữa bệnh cho Lý Thần Tông. Nhà Lý đặt quan hệ với Tống Huy Tông (Trung Quốc) trao đổi thuốc Nam lấy thuốc Bắc.

Dưới triều Trần (1244 - 1399), đã có kế hoạch tự túc thuốc Nam để kháng chiến. Tướng Phạm Ngũ Lão đã trồng cây thuốc ở Vạn An và Dược Sơn (xã Hưng Đạo - Chí Linh - Hải Dương) để cung cấp cho quân y. Ở Sơn Nam, Giao Thuỷ, (Nam Định), Dạ cẩm, Hồng Châu (Cẩm Bình, Hải Dương) Tuệ Tĩnh đã mở nhiều cơ sở chữa bệnh làm phúc ở các chùa và gây phong trào trồng cây thuốc ở gia đình. Ông là một đại sư nước Việt dùng thuốc Nam, sắc thuốc chữa bệnh cho nhân dân với phương châm: "Thuốc Nam chữa bệnh người Nam" ông đã truyền bá y dược cổ truyền cho nhân dân trong các tác phẩm: − "Nam dược thần hiệu": gồm 499 vị và 3.932 phương thuốc trị 184 loại bệnh, chia làm 10 khoa (năm 1725).

Đây là tập sách thứ hai xuất hiện trong lịch sử nghiên cứu cây thuốc ở nước ta sau tập "Bản thảo thực vật toàn yếu" do Phan Chu Tiên biên soạn (1429) là tập cây thuốc và dược liệu đầu tiên của Việt Nam. − "Các bài thuốc Nam và thập tam phương gia giảm": chép 13 cổ phương với bổ ẩm đơn do ông sáng chế để chữa các bệnh gia giảm theo chứng. Các tài liệu này được in lại trong "Nam dược chính bản". Sau được triều hậu Lê in lại trong "Hồng Nghĩa giác tư y thư" (1717 và 1723) và được lưu truyền đến nay [35].

Thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1729 - 1791) đã thừa kế dược học của Tuệ Tĩnh chép vào tập "Lĩnh Nam bản thảo", nội dung gồm 496 vị thuốc Nam của "Nam dược thần hiệu" và phát hiện thêm hơn 300 vị nữa. Tư liệu vĩ đại nhất của ông là bộ sách: "Hải Thượng y tông tâm lĩnh" gồm 66 quyển viết về lý luận cơ bản, phương pháp chẩn đoán, trị bệnh [19]. Ngoài các bộ sách trên, còn kể đến tập "Vạn phương thập nghiệm" của Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh gồm 8 tập, xuất bản năm 1763. Tập "Nam bang thảo mộc" của Trần Nguyệt Phương mô tả 100 loài cây thuốc Nam, xuất bản năm 1858.

10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Triều Nguyễn (1802 - 1845) có quyển "Nam dược tập nghiệm quốc âm" của Nguyễn Quang Lượng về phương thuốc dân gian [20]. Công trình nghiên cứu của Crévost và Pétélote (1928 - 1935), đã nghiên cứu và công bố kết quả điều tra về tài nguyên thực vật ở Việt Nam và Đông Dương [45]. Sau cách mạng tháng 8-1945, y dược học cổ truyền đạt được những thành tựu to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Bộ Y tế cùng y học hiện đại, sức khoẻ của người dân được quan tâm và chăm lo chu đáo hơn.

Sau khi nước nhà thống nhất (năm 1975), việc nghiên cứu cây thuốc ở nước ta được quan tâm nhiều. Có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu, tìm tòi và phát hiện thêm nhiều loài cây thuốc mới. Dược điển Việt Nam tập 2 (1983) của NXB Y học do nhiều thành viên và các cơ quan tham gia xây dựng, đã mô tả và nêu công dụng của hơn 430 loài cây thuốc [4]. Lương y lão thành, thầy thuốc ưu tú Lê Trần Đức với tác phẩm "Cây thuốc Việt Nam" (1995) đã mô tả hơn 830 loài cây thuốc và giới thiệu cách trồng, hái, chế biến, trị bệnh ban đầu [21].

Đỗ Tất Lợi (1970 - 2005) khi nghiên cứu các loài cây thuốc và vị thuốc Việt Nam đã công bố 793 loài thuộc 164 họ ở hầu hết các tỉnh nước ta. Trong tài liệu này, tác giả cũng tiến hành mô tả từng cây, cách thu hái và chế biến, thành phần hoá học, công dụng và liều dùng. Tuy nhiên, nơi phân bố của từng loài tác giả giới thiệu rất khái quát [27, 28]. Võ Văn Chi (1996) với bộ sách "Từ điển cây thuốc Việt Nam" đã giới thiệu 3.200 loài cây mọc hoang và trồng ở Việt Nam.

Tác giả đã mô tả khá chi tiết từng loài, bộ phận dùng, nơi sống và thu hái, tính vị, công dụng của chúng. Ngoài ra, sách còn có hình vẽ và ảnh chụp một số loài cây nên thuận lợi cho việc tra cứu [9]. Đặng Quang Châu (2001) đã công bố một số dẫn liệu về cây thuốc của dân tộc Thái ở huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) gồm 177 loài, thuộc 149 chi, thuộc 71 họ khác nhau [6]. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải (2003), khi điều tra các loài cây thuốc của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu (Nghệ An) đã thu được 93 loài thuộc 7 chi, 42 họ.

Các tác giả đã phân loại cây đuợc sử dụng theo các nhóm bệnh: bệnh ngoài da, bệnh về đường tiêu hoá, bệnh về gan, bệnh về xương. Lưu Đàm Cư, Hà Tuấn Anh, Trương Anh Thư (2005), khi điều tra các loài cây có ích của dân tộc H’Mông ở vùng núi cao phía Bắc đã phân loại được 4 nhóm theo công dụng: cây lương thực - thực phẩm, cây làm thuốc, cây có độc, cây để nhuộm màu, cây ăn quả. Trong nhóm cây làm thuốc, các tác giả đã thống kê được 657 loài thuộc 118 họ mà người H'Mông sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho người và gia súc [16]. Nguyễn Thị Thuỷ, Lưu Đàm Cư, Phạm Văn Thính, Bùi Văn Thanh (2005), khi nghiên cứu việc thu hái và sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Tày khu vực Việt Lâm (Vị Xuyên, Hà Giang) đã cho biết: có hơn 400 loài cây thuốc thường xuyên bị thu hái thuộc 104 họ thực vật, trong đó những họ có số loài được sử dụng nhiều nhất là Fabaceae (25 loài), Euphorbiaceae (19 loài), Asteraceae (18 loài), Rutaceae (12 loài).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ