ĐẶT VẤN ĐỀ Cong vẹo cột sống (CVCS) là tình trạng cột sống bị cong sang một hoặc hai bên, thân đốt sống bị vẹo (xoay). Cong vẹo cột sống ở học sinh đã và đang là vấn đề sức khoẻ ở nhiều nƣớc trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam[36, 60]. Tuy trƣớc mắt không nguy hiểm và không gây tác hại nghiêm trọng cho học sinh nhƣng lâu dài là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bệnh lý của bộ máy hô hấp, tuần hoàn và vận động. Chăm sóc sức khỏe học sinh là hết sức quan trọng, ngay từ lứa tuổi học sinh cần đƣợc chăm sóc tốt về sức khoẻ và đƣợc giáo dục khoa học sẽ cung cấp một nguồn nhân lực chất lƣợng trong tƣơng lại cho đất nƣớc.
Hiện nay Việt Nam có khoảng hơn 15 triệu học sinh từ tiểu học (TH) đến trung học phổ thông (THPT), chiếm gần 1/6 dân số cả nƣớc[10]. Việc chăm sóc sức khỏe cần đƣợc quan tâm dƣới nhiều hình thức khác nhau nhƣ: giáo dục, rèn luyện thể chất, phòng ngừa bệnh tật, điều kiện học tập nhƣ bàn ghế, ánh sáng theo đúng tiêu chuẩn vệ sinh trƣờng học. CVCS khá phổ biến ở trẻ em lứa tuổi học sinh (HS) đặc biệt là lứa tuổi đang phát triển mạnh 12-15 tuổi. Nếu phát hiện và can thiệp sớm bằng phục hồi chức năng (PHCN) thì khả năng điều trị CVCS sẽ có hiệu quả cao.
Tuy nhiên để muộn với đƣờng cong CVCS lớn đã ảnh hƣởng đến nhiều chức năng đòi hỏi phải điều trị bằng phẫu thuật, sẽ có nhiều tai biến và chi phí rất tốn kém, nhiều bệnh nhân (BN) không thể tiếp cận đƣợc dịch vụ này. Hậu quả là các cháu bị tàn phế suốt đời. Trong những năm gần đây có nhiều địa phƣơng đã tiến hành điều tra trẻ bị CVCS và tiến hành điều trị PHCN, hoặc chỉ định phẫu thuật tuỳ theo mực độ, đã mang lại những kết quả to lớn. Tuy nhiên chƣa có nghiên cứu nào đƣợc tiến hành tại tỉnh Hà Tĩnh.
Việc nghiên cứu tìm hiểu thực trạng tỷ lệ mắc và một số đặc điểm bệnh cong vẹo cột sống trên địa bàn Hà Tĩnh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Y tế từ đó đƣa ra một số biện pháp can thiệp và phòng tránh thích hợp. 2 Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp phòng chống cong vẹo cột sống ở học sinh THCS trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh”với các mục tiêu sau: 1. Xác định tỉ lệ mắc cong vẹo cột sống ở học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2016. Đánh giá hiệu quả can thiệp bằng tập luyện phục hồi chức năng cho học sinh THCS cong vẹo cột sống độ I trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Đánh giá hiệu quả can thiệp bằng đeo áo nẹp chỉnh hình và tập luyện phục hồi chức năng cho học sinh THCS cong vẹo cột sống độ II trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Đề xuất một số biện pháp phòng chống cong vẹo cột sống ở học sinh THCS trên địa bàn Hà Tĩnh. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Tình hình nghiên cứu cong vẹo cột sống trên thế giới và trong nƣớc 1.
Tỉ 1ệ và hình thái cong vẹo cột sống Cong vẹo cột sống đã đƣợc phát hiện và điều trị từ rất sớm trong lịch sử phát triển y học. Hypocrates, một trong những tác giả đầu tiên nghiên cứu về CVCS và đặt tên cho CVCS là Scoliosis[11, 24]. Hypocrates cũng mô tả việc sử dụng các thiết bị làm giảm tiến triển CVCS. Sau những nỗ lực của Hypocrates các tác giả khác cũng tiếp tục nghiên cứu về CVCS và tìm ra các giải pháp làm giảm các biến dạng của cột sống bằng các dụng cụ ngoài cơ thể.
Kết quả khám sàng lọc của Jonn. E Lonstein (1977) thông báo kết quả khám sàng lọc bằng sử dụng Forward bending Test hoặc Adams Position Test cho các trƣờng ở Minnessota trong 4 năm từ 1973 đến 1978 với số lƣợng 571.722 học sinh, tác giả thấy tỷ lệ CVCS : Năm 1973-1974: 3,4 %, năm 1974- 1975: 4,0%, năm 1975-1976: 4,4 %[46]. Rogala và cộng sự (1978) khi khám sàng lọc cho 26.947 HS đã phát hiện 4,5% CVCS tự phát góc vẹo > 6 0, 2% góc vẹo > 110, 0,06% góc vẹo > 200[38]. Năm 1982 tại Singapore, Daruwalla và cộng sự khám sàng lọc cho 110.744 học sinh ở các nhóm tuổi.
Kết quả tỷ lệ cong vẹo cột sống ở nhóm tuổi 6-7 tuổi: 0,12%, 11-12 tuổi: 1,7 %, 16-17 tuổi: 3,1%[53]. Năm 2009, Yong F, Wong HK, Chow KY tiến hành nghiên cứu Tỷ lệ vẹo cột sống tự phát ở thanh thiếu niên ở trẻ em Singapore.626 sinh viên nữ, tuổi từ 9 đến 13 đã đƣợc kiểm tra. Tỷ lệ hiện mắc của chứng vẹo cột sống thiếu nữ tự phát đối với học sinh nữ từ 9 đến 13 tuổi tƣơng ứng là 0,27%, 0,64%, 1,58%, 2,22% và 2,49%, cho thấy xu hƣớng ngày càng tăng về tỷ lệ hiện mắc với tuổi ngày càng tăng. Nghiên cứu cho thấy sự gia tăng đáng kể tỷ lệ hiện tƣợng chứng vẹo cột sống ở nữ sinh 10 đến 11 tuổi và tăng đáng kể tỷ lệ hiện nhiễm ở học sinh nữ 12 đến 13 tuổi.
Nghiên cứu cũng đề xuất nên sàng lọc cho trẻ em nữ mỗi năm bắt đầu từ 10 tuổi đến 13 tuổi[40]. 4 Năm 2017, tại Malaysia, Deepak AS, Ong JY, Choon D. và các cộng sự đã tiến hành khám sàng lọc cho 8966 học sinh từ 13 đến 15 tuổi đã cho kết quả 2,55% học sinh mắc cong vẹo cột sống, tỉ lệ này cao hơn ở học sinh nữ[34]. Kết quả điều trị CVCS Chữa CVCS bằng bài tập, kéo giãn, áo nẹp chỉnh hình đã đƣợc áp dụng và đạt kết quả rất tốt, đặc biệt là dùng áo nẹp chỉnh hình để nắn chỉnh cột sống.
S và cộng sự cũng đã áp dụng áo nẹp Prenyl cho 66 bệnh nhân CVCS tự phát trong đó có 4 nam và 62 nữ với thời gian theo dõi là 36 tháng và thời gian mang áo nẹp là 23 giờ/ngày. Tác giả nhận thấy có 53 BN (80%) có sự cải thiện đáng kể khi mang áo nẹp. Áo nẹp có hiệu quả nhất đối với những BN có đƣờng cong vùng thắt lƣng - ngực nhỏ hơn 400[43].H và cộng sự đã công bố kết qủa ban đầu đối với 169 bệnh nhân (BN) đƣợc điều trị bằng nẹp Milwaukee. Tác giả nhận thấy sự cải thiện trung bình là 23% đối với đƣờng cong ngực, 18% đối với đƣờng cong thắt lƣng và 10% đối với đƣờng cong ngực cao bên trái[49].D và cộng sự đã thông báo kết qủa điều trị cho 48 BN CVCS tự phát bằng áo nẹp nhựa cho những BN có đƣờng cong < 400.
Tuổi trung bình khi bắt đầu mang áo nẹp là 11 tuổi 11 tháng, kết qủa cho thấy trong số 63 đƣờng CVCS (trên 48 BN) thì có 35 đƣờng cong không thay đổi, 22 đƣờng cong cải thiện và chỉ có 6 đƣờng cong tiến triển tăng 5 0 so với đƣờng cong ban đầu[35, 67, 68].T, Josefsson E đã sử dụng áo nẹp ngực Boston để điều trị cho 44 bệnh nhân CVCS tự phát. Tác giả cho rằng sự cải thiện ban đầu khi mang áo nẹp là có ý nghĩa với những đƣờng cong có đỉnh là T8, T9 là 15,90[39]. Edmonson và cộng sự dùng áo nẹp chỉnh hình Milwaukee cho 52 trẻ CVCS ở các vị trí cổ, ngực, ngực lƣng và lƣng. Sau 22 tháng mang nẹp kết quả vẹo ngực giảm 6,90, vẹo lƣng giảm 5,10[33].Lonstein và cộng sự đã kết hợp với bài tập trong quá trình mang áo nẹp chỉnh hình ở nhóm CVCS từ 30-390.
Kết quả có 81% ngăn ngừa đƣợc 5 tiến triển của CVCS hoặc làm giảm vẹo, 19% còn lại phải áp dụng phẫu thuật. Ở nhóm CVCS từ 20-290 có 90% đạt kết qủa tốt[46, 47].E và CS khi so sánh 31 bệnh nhân CVCS tự phát với 71 thiếu niên khỏe mạnh thấy rằng: mặc dù áo nẹp bƣớc đầu ảnh hƣởng đến tâm lý của trẻ nhƣng không có sự khác biệt rõ ràng giữa những trẻ CVCS mang áo nẹp và trẻ khỏe mạnh. Mặt khác, tác giả cũng chỉ ra rằng áo nẹp không ảnh hƣởng đến hình dáng của cơ thể, ảnh hƣởng của áo nẹp lên chất lƣợng của cột sống có thể do sự khác nhau giữa các loại áo nẹp cũng nhƣ sự khác nhau về văn hóa và thái độ của từng bệnh nhân[66].A đã đánh giá mức độ thích nghi với áo nẹp Chêneau trên 25 bệnh nhân bằng các câu hỏi liên quan đến những ƣu điểm và nhƣợc điểm khi sử dụng áo nẹp trong các sinh hoạt hằng ngày. Kết quả cho thấy rằng nẹp Chêneau có ƣu điểm là nhẹ, đƣợc che phủ kín khi mặc áo, ít ảnh hƣởng đến các hoạt động hằng ngày.
Nhƣợc điểm của áo nẹp là khó khăn khi lên, xuống xe ô tô, khi tham gia giao thông và khi phải ngồi lâu[50].M và CS nghiên cứu ảnh hƣởng của các loại áo nẹp chỉnh hình lên chất lƣợng cuộc sống của trẻ vị thành niên bị biến dạng cột sống bằng việc sử dụng bộ công cụ đánh giá "Chất lƣợng cuộc sống của các biến dạng cột sống" (The quality of life Profile for Spinal Deformaties) cho thấy việc điều trị bằng nẹp Milwaukee có ảnh hƣởng nhiều hơn đến chất lƣợng cuộc sống so với áo nẹp Boston và Charleston, đặc biệt là lĩnh vực tâm lý xã hội và độ mềm dẻo của lƣng [52].U và CS đã đánh giá ảnh hƣởng của việc mặc áo nẹp lên chất lƣợng cuộc sống của trẻ CVCS tự phát tuổi vị thành niên bằng cách so sánh bệnh nhân mặc áo nẹp với nhóm không điều trị bằng áo nẹp. Kết quả cho thấy có một vài khác biệt về chất lƣợng cuộc sống giữa nhóm mặc áo nẹp và nhóm chứng tuy nhiên áo nẹp không làm giảm chất lƣợng cuộc sống của trẻ CVCS so với nhóm không mặc áo nẹp[41]. Tình hình nghiên cứu cong vẹo cột sống trong nƣớc Ở Việt Nam mạng lƣới y tế học đƣờng, chăm sóc sức khỏe học sinh, phòng chống các tật CVCS, cận thị đã đƣợc nhà nƣớc quan tâm và coi đó là một nhiệm vụ của y tế học đƣờng. Tuy nhiên cho đến nay chúng ta chƣa có một chiến lƣợc kiểm soát CVCS trong cộng đồng một cách có hiệu quả, đặc biệt cho lứa tuổi học đƣờng.
Việc điều trị cho trẻ CVCS mới chỉ tập trung ở một số nơi phát triển về phục hồi chức năng và có xƣởng chỉnh hình. Về tỷ lệ CVCS: Theo Trần Đình Long và cộng sự (1995), tỷ lệ CVCS ở học sinh (HS) Hà Nội năm 1962 là 12%, đến năm 1968 tỷ lệ mắc lứa tuổi 7-17 tăng lên từ 2-3 lần so với năm 1962. Cụ thể cấp I: 27,4%, cấp II: 31,3%, cấp III: 34,0%.