Chương 1 ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP KHAI THÁC VÀ SẢN XUẤT THÔ Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lí, hành chính Thái Nguyên là một trong những tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, phía Tây giáp với các tỉnh: Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Bắc giáp Bắc Cạn, phía Đông giáp: Lạng Sơn, Bắc Giang, phía Nam giáp Hà Nội. Thái Nguyên có diện tích tự nhiên là 3.
Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính bao gồm Thành phố Thái Nguyên, Thành phố Sông Công, Thị xã Phổ Yên, huyện Phú Bình, huyện Đồng Hỷ, huyện Võ Nhai, huyện Định Hóa, huyện Đại Từ, huyện Phú Lương với tổng số 180 đơn vị hành chính cấp xã gồm: 140 xã, 30 phường, 10 thị trấn. Thái Nguyên là cửa ngõ phía Nam nối vùng Đông Bắc Bộ với thủ đô Hà Nội, các tỉnh đồng bằng sông Hồng với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế thông qua tuyến Quốc lộ 3, tuyến đường sắt Hà Nội - Thái Nguyên và Thái Nguyên - Bắc Giang, đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên. Như vậy, Thái Nguyên là tỉnh có điều kiện địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội cho hiện tại và tương lai. Khí hậu và địa hình, địa chất Thái Nguyên thuộc vùng Đông Bắc, nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, nhưng do địa hình tương đối cao nên nên khí hậu Thái Nguyên thường lạnh hơn so với các vùng tiếp giáp tỉnh về phía nam và tây nam.
Nhiệt độ trung bình của Thái Nguyên là 25°C, nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 38,9°C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2°C) là 23,7°C. Tại thành phố Thái Nguyên, nhiệt độ có lúc cao nhất là 41,5°C và thấp nhất là 3°C. Tổng số giờ nắng dao động trong năm từ 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm. [8] Khí hậu ở Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn gồm mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô (từ tháng 10 đến tháng 5).
Lượng mưa trung bình hàng năm dao động khoảng 2.500 mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 hàng năm. Nhìn chung, khí hậu Thái Nguyên tương đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, thuận lợi cho phát triển ngành nông - lâm nghiệp và đặc biệt thuận lợi cho việc hình thành các mỏ kháng sản lớn phục vụ các ngành công nghiệp khai thác và chế tạo vật liệu xây dựng của tỉnh. Thái Nguyên có địa hình phong phú, đa dạng, gồm: nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng (có diện tích không lớn, phân bố ở phía nam của tỉnh, chủ yếu thuộc hai huyện Phú Bình, Phổ Yên với độ cao địa hình 10-15m), nhóm cảnh quan hình thái địa hình gò đồi phân bố ở Phú Bình, Phổ Yên, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ , Định Hoá), nhóm cảnh quan hình thái địa hình núi thấp (có diện tích chiếm tỷ lệ lớn, hầu như chiếm trọn vùng đông bắc của tỉnh) và nhóm cảnh quan hình thái địa hình nhân tác (hồ Núi Cốc, Khe Lạnh, Bảo Linh, Cây Si, Ghềnh Chè.) Như vậy, có thể thấy cảnh quan hình thái địa hình Thái Nguyên khá phong phú, vì vậy, muốn khai thác, sử dụng trong phát triển công nghiệp phải chú ý đến đặc điểm của từng cảnh quan, nhất là đối với các kiểu cảnh quan đồi núi chiếm phần lớn diện tích của tỉnh. Là một tỉnh trung du miền núi, nhưng tỉnh Thái Nguyên có phức hệ tầng địa chất khá thuận lợi với 28 hệ tầng phức hệ địa chất và nhiều loại đá khác nhau.
Các hệ tầng này phần lớn có dạng tuyến và phân bố theo nhiều hướng khác nhau, chủ yếu nằm ở phía Bắc của tỉnh có hướng thiên về Đông Bắc-Tây Nam, trong khi các hệ tầng phía Nam của tỉnh lại thiên về hướng Tây Bắc- Đông Nam. Các hệ tầng có chứa đá vôi (các hệ tầng Đồng Đăng, Bắc Sơn) tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc của tỉnh, không thành khối liên tục mà xen kẽ với các tầng khác nhau Sông Hiến, Lạng Sơn, Bắc Bun,.Vùng Tây Bắc của tỉnh (huyện Định Hoá) có hệ tầng Phú Ngữ, có diện tích lớn với các loại phiến sét, sét, sét silic, cát bột kết,.Chiếm diện tích lớn ở vùng phía nam là các hệ tầng Tam Đảo, hệ tầng Nà Khuất, hệ tầng Hà Cối với nhiều loại đá khác nhau. Rõ ràng với điều kiện địa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn chất như vậy, Thái Nguyên có nhiều loại khoáng sản, cả nhiên liệu, kim loại, phi kim loại. Đây là một trong những thuận lợi của tỉnh Thai Nguyên cho việc phát triển các ngành khai khoáng cũng như phát triển kinh tế - xã hội nói chung mà nhiều tỉnh trung du miền núi phía bắc khác không có.
Tiềm năng khoáng sản Thái Nguyên là tỉnh nằm ở khu vực Trung du miền núi phía Bắc trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương. Do vậy, Thái Nguyên là tỉnh có nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú, đa dạng, bao gồm tài nguyên đất, rừng, nước và đặc biệt là tài nguyên khoáng sản. Tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích đất tự nhiên là 353. Trong đó, đất núi chiếm 48,4% diện tích tự nhiên, có độ cao trên 200m, hình thành do sự phong hóa trên các đá Macma, đá biến chất và trầm tích; Đất đồi chiếm 31,4% diện tích đất tự nhiên chủ yếu hình thành trên cát kết, bột kết phiến sét và một phần phù sa cổ kiến tạo.
Còn lại chiếm 12,4% diện tích đất tự nhiên là đất ruộng, chủ yếu phân bố dọc theo các con suối, rải rác, không tập trung. Tỉnh Thái Nguyên có nguồn tài nguyên nước dồi dào được tạo ra bởi sông Công có lưu vực 951km2 bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá của huyện Định Hoá chạy dọc theo chân núi Tam Đảo và Sông Cầu nằm trong hệ thống sông Thái Bình có lưu vực 3.480 km2 bắt nguồn từ Chợ Đồn - Bắc Cạn chảy theo hướng Bắc-Đông Nam. Ngoài ra, Thái Nguyên còn có trữ lượng nước ngầm khá lớn nhưng việc khai thác sử dụng còn hạn chế. Hệ thống sông suối da dạng và nguồn nước ngầm dồi dào là thuận lợi lớn phục vụ đắc lực cho sự phát triển của ngành công nghiệp khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện một điểm nước khoáng ở La Hiên. Hiện mỏ nước khoáng đã và đang được khai thác ở lỗ khoan LK 407 sâu 120m trong tầng đá vôi với lưu lượng 14,22 l/s. Thái Nguyên là tỉnh nằm ở khu vực Trung du miền núi phía Bắc trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Dương nên có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú. Theo thống kê của sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên thì hiện nay tỉnh Thái Nguyên có 34 loại hình khoáng sản phân bố tập trung ở các huyện như Đồng Hỷ, Phú Lương, Đại Từ, Võ Nhai… bao gồm các loại khoáng sản than, khoáng sản kim loại, khoáng sản phi kim và khoáng sản làm vật liệu xây dựng.
Theo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, hiện nay tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện 11 mỏ than và điểm khoáng sản, trong đó Mỏ than có trữ lượng lớn nhất là mỏ Khánh Hòa với trữ lượng 46 triệu tấn, mỏ Núi Hồng với trữ lượng 15,1 triệu tấn, mỏ Làng Cẩm có trữ lượng trên 3,5 triệu tấn than mỡ dùng luyện cốc và một số điểm than nhỏ khác. [44] Nguồn Than mỡ ở Thái Nguyên rất dồi dào với trữ lượng tiềm năng khoảng trên 150 triệu tấn, trữ lượng tìm kiếm thăm dò khoảng 8,9 triệu tấn, tập trung ở các mỏ than Phấn Mễ với trữ lượng 2,1 triệu tấn; mỏ làng Cẩm có trữ lượng 3,2 triệu tấn; mỏ Âm Hồn với trữ lượng 3,6 triệu tấn. Than mỡ được khai thác dùng luyện cốc phục vụ cho nhà máy Gang Thép Thái Nguyên và một số lò luyện gang khác. Than đá ở Thái Nguyên cũng có trữ lượng lớn thứ 2 cả nước (Sau mỏ than Quảng Ninh) với tổng trữ lượng tìm kiếm và thăm dò khoảng trên 90 triệu tấn tập trung ở các mỏ Quán Triều (đã được khai thác từ những năm đầu thế kỷ 20 và được đánh giá thăn dò trữ lượng năm từ năm 1969), mỏ Bá Sơn, mỏ Núi Hồng với trữ lượng 15 triệu tấn, mỏ Khánh Hòa có trữ lượng lớn nhất trên 46 triệu tấn.
Thái Nguyên là tỉnh có địa chất đặc biệt nên có rất nhiều tài nguyên khoáng sản kim loại, đặc biệt là Quặng sắt, Titan, Vonfram, Florit…tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp luyện kim và các ngành công nghiệp khác của tỉnh cũng như của quốc gia. Khoáng sản kim loại được chia thành hai nhóm: kim loại đen và kim loại màu, trong đó nhóm khoáng sản kim loại đen bao gồm Quặng sắt, Ti tan, măng gan… Theo thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên thì tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện được 42 điểm mỏ quặng sắt, tập trung chủ yếu ở Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn huyện Đồng Hỷ với tổng trữ lượng và tài nguyên dự báo toàn tỉnh khoảng 50 triệu tấn, trong đó đã điều tra, đánh giá, thăm dò 21 mỏ và điểm khoáng sản quặng sắt với tổng trữ lượng còn lại gần 34,6 triệu tấn, đáng chú ý là các mỏ Tiến Bộ nằm trên trục đường ĐT 259 có tổng trữ lượng quặng khoảng 24 triệu tấn, mỏ Trại Cau có trữ lượng 9,88 triệu tấn, mỏ Quang Trung với trữ lượng 4 triệu tấn v. Các mỏ phần lớn đã và đang được khai thác cung cấp cho Liên hiệp gang thép Thái Nguyên. Theo thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường thì Tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện có 21 mỏ và điểm quặng Titan sa khoáng và quặng gốc phân bố chủ yếu ở huyện Phú Lương và Đại Từ với tổng trữ lượng thăm dò đạt xấp xỉ 18 triệu tấn, trong đó có 01 mỏ đã được thăm dò và đang khai thác (mỏ Cây Châm, Phú Lương), thành phần chính của quặng là Ilmenít.
Các mỏ có trữ lượng lớn là: Titan Hữu Sào, Titan Cây Châm, mỗi mỏ vài triệu tấn ilmenít… Còn nhóm khoáng sản kim loại màu, gồm thiếc, vonfram, florit, chì kẽm, đồng, vàng, thủy ngân. Thiếc là loại khoáng sản có tiềm năng lớn của tỉnh Thái Nguyên với tổng trữ lượng còn lại của Thiếc điôxit (SnO2) tập trung chủ yếu ở mỏ Phục Linh, Núi Pháo là 18.