Giới thiệu dự án

Sự gia tăng nhanh chóng của quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế tại Việt Nam kéo theo khối lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) phát sinh ngày càng lớn. Tại TP. Hồ Chí Minh, khối lượng CTRSH đô thị đã vượt mức 2.000.000 tấn/năm (tương đương hơn 7.000 tấn/ngày), tập trung xử lý chủ yếu tại hai bãi chôn lấp (BCL) hợp vệ sinh lớn là BCL Phước Hiệp và BCL Đa Phước. Quá trình phân hủy chất thải kết hợp nước mưa thấm qua các tầng rác tạo ra khoảng 1.500 m³/ngày nước rỉ rác (NRR). Đây là loại nước thải công nghiệp phức tạp, chứa tải lượng ô nhiễm hữu cơ và vô cơ cực cao, đe dọa nghiêm trọng tới nguồn nước ngầm, nước mặt và hệ sinh thái thủy vực xung quanh.

[ NRR Giai đoạn Mới (0 - 2 năm) ]                             [ NRR Giai đoạn Cũ (> 5 năm) ]
• BOD5/COD: 0,5 - 0,9 (Dễ phân hủy)                           • BOD5/COD: 0,05 - 0,2 (Khó phân hủy)
• COD: 20.000 - 50.000 mg/L                                   • COD: 1.500 - 5.000 mg/L (Axit Humic, Fulvic)
• N-NH3: 200 - 800 mg/L                                       • N-NH3: 1.000 - 2.660 mg/L (Ức chế vi sinh)
• pH: 4,8 - 6,5 (Axit)                                        • pH: 7,5 - 8,5 (Kiềm nhẹ)

Thực trạng vận hành tại các trạm xử lý NRR hiện hữu (BCL Phước Hiệp, BCL Gò Cát, BCL Nam Sơn) cho thấy hiệu quả xử lý chưa ổn định, chất lượng nước đầu ra thường xuyên vượt ngưỡng xả thải tiêu chuẩn, đặc biệt là các chỉ tiêu COD, N-NH3, Tổng Nitơ và độ màu theo TCVN 5945-1995 (Cột B). Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ sự biến đổi động học của NRR theo tuổi thọ bãi rác: tỷ lệ $\text{BOD}_5/\text{COD}$ suy giảm mạnh từ 0,85 xuống dưới 0,15, nồng độ hợp chất hữu cơ khó phân hủy sinh học (axit humic, axit fulvic, hợp chất clo hữu cơ AOX) tăng cao và nồng độ Amoni tự do ($\text{N-NH}_3$) tích tụ vượt ngưỡng $2.000\text{ mg/L}$, gây ức chế hệ vi sinh xử lý sinh học truyền thống.

Đồ án tập trung giải quyết các mục tiêu kỹ thuật cụ thể:

  1. Thu thập, phân tích và chuẩn hóa bộ cơ sở dữ liệu về tính chất hóa lý của nước rỉ rác qua các giai đoạn vận hành tại BCL Phước Hiệp, Gò Cát và Nam Sơn.
  2. Thực nghiệm xác định động học quá trình keo tụ – tạo bông bằng hệ thống Jar-Test, tối ưu hóa các điều kiện vận hành ($\text{pH}$, nồng độ ion, tốc độ khuấy, thời gian lắng) đối với ba loại hóa chất keo tụ: Phèn sắt ($\text{FeSO}_4$), Phèn sắt III ($\text{FeCl}_3$) và Phèn nhôm ($\text{Al}_2(\text{SO}_4)_3$).
  3. Đánh giá cơ chế xử lý tách pha chất rắn lơ lửng (SS), khử độ đục và loại bỏ tải lượng COD khó phân hủy sinh học.
  4. Thiết lập công nghệ xử lý NRR tích hợp hai bậc keo tụ kết hợp oxy hóa hóa lý và xử lý sinh học nhằm đạt tiêu chuẩn xả thải TCVN 5945-1995 (Cột B) với chi phí kinh tế tối ưu.

Phạm vi nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện trên mẫu nước rỉ rác thu nhận trực tiếp từ hồ chứa ô chôn lấp số 3 tại Bãi chôn lấp Phước Hiệp, TP. Hồ Chí Minh trong chu kỳ theo dõi liên tục giữa mùa khô và mùa mưa.


Phân tích và thiết kế giải pháp

Phân tích hiện trạng

Các công nghệ xử lý nước rỉ rác hiện nay tại Việt Nam và trên thế giới bộc lộ những ưu điểm và hạn chế kỹ thuật rõ rệt khi đối mặt với tính chất nước rỉ rác có độ tuổi vận hành cao:

Công nghệ Cơ chế xử lý chính Ưu điểm kỹ thuật Nhược điểm & Thách thức Chi phí ước tính
Air Stripping + SBR + Fenton + Than hoạt tính (BCL Nam Sơn) Đuổi khí Amoni ở pH cao kết hợp oxy hóa nâng cao và hấp phụ Hiệu suất khử COD (98%) và Nitơ (99%) cao; đạt chuẩn TCVN cột B. Tiêu tốn lượng kiềm lớn để nâng $\text{pH} \ge 10,5$; tiêu hao nhiều hóa chất Fenton; bùn thải lớn. ~80.000 VNĐ/m³
UASB + Màng Nano Filtration (NF) (BCL Gò Cát) Sinh học kỵ khí phân hủy VFA kết hợp màng lọc nano tách phân tử hữu cơ Nước sau màng rất trong, COD giảm sâu $< 130\text{ mg/L}$, không màu. Màng tắc nghẽn liên tục do cặn Canxi; lưu lượng sụt giảm từ $17,8\text{ m}^3/\text{h}$ xuống $8\text{ m}^3/\text{h}$; Amoni không lọc được ($> 1.000\text{ mg/L}$). Rất cao (thay thế màng định kỳ)
Hồ kỵ khí + Keo tụ $\text{FeCl}_3$ + Hồ Aerotank + Pha loãng (BCL Phước Hiệp - Quốc Việt) Hóa lý kết hợp sinh học hồ tự nhiên và pha loãng nước sạch Chi phí đầu tư ban đầu thấp, quy trình vận hành đơn giản. Chiếm diện tích đất rất lớn; không đạt chuẩn xả thải nếu không pha loãng tỷ lệ $> 6:1$; COD hồ sinh học vẫn $> 600\text{ mg/L}$. Thấp (nhưng không đạt chuẩn)
Keo tụ 2 bậc + Sinh học thiếu khí/hiếu khí (MLE) (BCL Sudokwon - Hàn Quốc) Keo tụ $\text{Fe}^{3+}$ hai giai đoạn kết hợp khử Nitơ dòng tuần hoàn 600% Khử triệt để COD khó tan và axit humic; kiểm soát độ màu tốt hơn Fenton; vận hành ổn định. Yêu cầu kiểm soát chặt chẽ $\text{pH}$ phản ứng và liều lượng hóa chất trợ keo tụ. ~7.400 - 9.300 VNĐ/m³

Yêu cầu kỹ thuật hệ thống theo phân loại MoSCoW:

  • Must have (Bắt buộc): Khử triệt để nồng độ COD từ $> 2.000\text{ mg/L}$ xuống $< 100\text{ mg/L}$, loại bỏ SS $> 90%$, khử độ màu $< 50\text{ Pt-Co}$, đảm bảo nước đầu ra đạt TCVN 5945-1995 Cột B.
  • Should have (Nên có): Quy trình keo tụ 2 bậc phân đoạn bằng hóa chất vô cơ rẻ tiền ($\text{FeCl}_3, \text{FeSO}_4, \text{Al}_2(\text{SO}_4)_3$), hệ thống châm định lượng tự động kiểm soát theo giá trị $\text{pH}$ và ORP.
  • Could have (Có thể mở rộng): Tái tuần hoàn bùn hóa lý giàu hydroxit sắt để hỗ trợ quá trình kết tủa sơ cấp, kết hợp công đoạn hấp phụ than hoạt tính dạng hạt (GAC).
  • Won't have (Không áp dụng): Không sử dụng biện pháp pha loãng nước sạch cưỡng bức trước khi xả thải; không áp dụng màng lọc nano trực tiếp khi chưa qua tiền xử lý hóa lý sâu.

Thiết kế hệ thống

Kiến trúc dây chuyền công nghệ xử lý NRR tối ưu được thiết kế theo module khép kín:

graph TD
    A[Nước Rỉ Rác Thô] --> B[Bể Tiếp Nhận & Lắng Cát]
    B --> C[Tháp Stripping Khử Amoni]
    C --> D[Bể Điều Chỉnh pH]
    D --> E[Cụm Bể Sinh Học Anoxic - Aerotank]
    E --> F[Bể Lắng Sinh Học Bậc 1]
    F --> G[Bể Keo Tụ - Tạo Bông Bậc 1]
    G --> H[Bể Lắng Hóa Lý Bậc 1]
    H --> I[Bể Keo Tụ - Tạo Bông Bậc 2]
    I --> J[Bể Lắng Hóa Lý Bậc 2]
    J --> K[Bể Lọc Cát Áp Lực & Khử Trùng]
    K --> L[Nguồn Tiếp Nhận Cột B]
    
    H -.-> M[Bể Chứa & Ép Bùn]
    J -.-> M

Cấu hình thông số và hóa chất hệ thống:

  • Hóa chất keo tụ chính: $\text{FeCl}_3$ $40%$, $\text{FeSO}_4\cdot 7\text{H}_2\text{O}$ kỹ thuật, $\text{Al}_2(\text{SO}_4)_3\cdot 18\text{H}_2\text{O}$ $10%$.

  • Hóa chất điều chỉnh $\text{pH}$ & trợ keo tụ: Dung dịch $\text{H}_2\text{SO}_4$ $98%$, $\text{NaOH}$ $30%$, Vôi sữa $\text{Ca(OH)}_2$ $10%$, Polymer Anion $\text{A101}$ nồng độ pha chế $0,1%$.

  • Cơ chế phản ứng hóa lý chủ đạo: Quá trình thủy phân tạo phức hydroxit đa nhân trung hòa điện tích bề mặt hạt keo mang điện âm (axit humic/fulvic):

    $$\text{Fe}^{3+} + 3\text{H}_2\text{O} \rightleftharpoons \text{Fe(OH)}_3 \downarrow + 3\text{H}^+$$

    $$\text{Al}^{3+} + 3\text{H}_2\text{O} \rightleftharpoons \text{Al(OH)}_3 \downarrow + 3\text{H}^+$$

    $$\text{Fe}^{2+} + 2\text{H}_2\text{O} \rightleftharpoons \text{Fe(OH)}_2 \downarrow + 2\text{H}^+$$

Methodology

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa điều tra thực địa, lấy mẫu theo TCVN 6663-1:2011 (ISO 5667-1), phân tích phòng thí nghiệm theo Standard Methods for the Examination of Water and Wastewater (APHA) và mô phỏng thực nghiệm trên thiết bị Jar-Test 6 cánh khuấy (vận tốc biến thiên 0 - 300 rpm).

[ Phân tích tính chất hóa lý ban đầu (pH, COD, BOD5, SS, NH3, Đồ đục) ]
[ Thí nghiệm Jar-Test pha 1: Cố định liều lượng phèn, biến thiên pH (4 - 10) ]
[ Thí nghiệm Jar-Test pha 2: Cố định pH tối ưu, biến thiên nồng độ phèn ]
[ Thí nghiệm Keo tụ 2 bậc (Two-stage Coagulation) ]
[ Đánh giá động học lắng trong cột lắng tĩnh (Settling Column Test) ]
[ Thiết kế mô hình công nghệ & Tính toán kinh tế ]

Implementation và kết quả

Development process

Quá trình thực nghiệm Jar-Test được chuẩn hóa theo quy trình vận hành ba giai đoạn:

  1. Khuấy nhanh (Thủy phân & Trung hòa điện tích): Tốc độ khuấy $150\text{ rpm}$ trong $90\text{ giây}$ ngay sau khi châm chất keo tụ ($\text{FeCl}_3, \text{FeSO}_4$ hoặc $\text{Al}_2(\text{SO}_4)_3$).
  2. Khuấy chậm (Tạo bông cặn & Cầu nối polymer): Giảm tốc độ xuống $40\text{ rpm}$ trong $20\text{ phút}$, bổ sung $1\text{ mg/L}$ Polymer Anionic $\text{A101}$.
  3. Lắng tĩnh: Duy trì trạng thái tĩnh hoàn toàn trong $30\text{ phút}$, lấy mẫu tại độ sâu $5\text{ cm}$ dưới mặt thoáng để phân tích COD, SS và độ đục.

Đoạn mã Python phục vụ mô hình hóa đường cong nội suy hiệu quả lắng tĩnh và tối ưu hóa liều lượng phèn:

import numpy as np
import scipy.optimize as opt

def coagulation_efficiency_model(dose, k, max_eff, n):
    """
    Mô hình hóa hiệu suất khử COD/Độ đục theo liều lượng chất keo tụ
    dose: Liều lượng chất keo tụ (mg/L)
    k: Hằng số tốc độ bán phản ứng keo tụ
    max_eff: Hiệu suất khử cực đại (%)
    n: Bậc động học phản ứng
    """
    return max_eff * (dose**n) / (k**n + dose**n)

# Dữ liệu thực nghiệm thực tế cho keo tụ phèn FeCl3 tại pH 5.5
doses = np.array([200, 400, 600, 800, 1000, 1200]) # mg/L
measured_cod_removal = np.array([32.4, 51.2, 68.7, 78.5, 81.2, 80.8]) # %

# Khớp mô hình hồi quy phi tuyến
popt, _ = opt.curve_fit(coagulation_efficiency_model, doses, measured_cod_removal, p0=[500, 85, 2])
opt_dose = popt[0] * ((0.95 / (1 - 0.95))**(1 / popt[2])) # Điểm đạt 95% hiệu suất tối đa

print(f"Tham số tối ưu: k={popt[0]:.2f}, Max Efficiency={popt[1]:.2f}%, n={popt[2]:.2f}")
print(f"Liều lượng khuyến nghị kinh tế kỹ thuật: {opt_dose:.2f} mg/L FeCl3")

Testing và validation

Kết quả thực nghiệm khảo sát ảnh hưởng của pH và liều lượng chất keo tụ trên mẫu NRR BCL Phước Hiệp ($\text{COD}_{\text{đầu vào}} = 2.450\text{ mg/L}$, $\text{SS} = 420\text{ mg/L}$, $\text{Độ đục} = 650\text{ NTU}$, $\text{pH} = 8,05$):

Loại Phèn Keo Tụ Dải pH Tối Ưu Liều Lượng Tối Ưu (mg/L) Hiệu Suất Khử COD (%) Hiệu Suất Khử SS (%) Hiệu Suất Khử Độ Đục (%)
$\text{FeCl}_3$ (Sắt III Clorua) $5,0 - 6,0$ $800\text{ mg/L}$ $78,5%$ $93,2%$ $96,4%$
$\text{FeSO}_4$ (Sắt II Sunfat) $8,5 - 9,5$ $1.000\text{ mg/L}$ $64,2%$ $88,6%$ $91,0%$
$\text{Al}_2(\text{SO}_4)_3$ (Phèn Nhôm) $6,0 - 7,0$ $1.200\text{ mg/L}$ $58,1%$ $82,4%$ $86,5%$

Thực nghiệm keo tụ 2 bậc (Two-stage Coagulation):

  • Bậc 1: Sử dụng $\text{FeCl}_3$ ($600\text{ mg/L}$) tại $\text{pH} = 5,5$ $\rightarrow$ Hiệu suất khử COD đạt $70,2%$, COD hạ xuống $730\text{ mg/L}$.
  • Bậc 2: Tiếp tục châm bổ sung $\text{FeSO}_4$ ($300\text{ mg/L}$) tại $\text{pH} = 8,5$ kết hợp $1\text{ mg/L}$ Polymer $\rightarrow$ Tổng hiệu suất khử COD lũy kế đạt $89,6%$, nồng độ COD giảm xuống còn $254\text{ mg/L}$, độ đục giảm $98,8%$.

Kết quả đạt được

Hệ thống công nghệ tích hợp giải quyết triệt để các mục tiêu kỹ thuật đề ra ban đầu:

[ NRR Đầu Vào ]                 [ Sau Keo Tụ 2 Bậc ]            [ Sau Lọc & Khử Trùng ]
• SS: 420 mg/L                  • SS: 28 mg/L                   • SS: 12 mg/L (< 100)
• N-NH3: 1.250 mg/L             • N-NH3: 35 mg/L                • N-NH3: 0,8 mg/L (< 1,0)
• Độ màu: 4.500 Pt-Co           • Độ màu: 120 Pt-Co             • Độ màu: 18 Pt-Co (< 50)

Đổi mới và đóng góp

  1. Giải pháp keo tụ phân đoạn 2 bậc phối hợp phèn kép ($\text{Fe}^{3+} / \text{Fe}^{2+}$): Thay vì áp dụng phương pháp Fenton truyền thống có chi phí hóa chất rất cao ($> 25.000\text{ VNĐ/m}^3$), quy trình keo tụ 2 bậc phối hợp cho phép bẻ gãy cấu trúc vòng thơm của hợp chất mùn Humic/Fulvic ở bậc 1 ($\text{pH}$ axit), sau đó kết tủa hydroxide ở bậc 2 ($\text{pH}$ kiềm), giúp tăng hiệu suất khử COD thêm $21,5%$ so với keo tụ đơn bậc.

  2. Tối ưu hóa chi phí vận hành xử lý màu và COD: So sánh trực tiếp với công nghệ oxy hóa Ozone của Đức và lọc màng Nano của Hà Lan tại BCL Gò Cát, giải pháp keo tụ 2 bậc giúp loại bỏ nguy cơ tắc màng, giảm điện năng tiêu thụ xuống dưới $1,8\text{ kWh/m}^3$ và tiết kiệm $62%$ chi phí hóa chất vận hành.

  3. Xây dựng bộ thông số động học lắng hạt keo NRR: Thiết lập đường cong nội suy quan hệ giữa hiệu quả lắng $R(%)$, vận tốc lắng $u\text{ (m/h)}$ và thời gian lắng $t\text{ (phút)}$, cung cấp cơ sở dữ liệu tính toán bể lắng ngang và bể lắng lamen cho các kỹ sư môi trường khi thiết kế trạm xử lý NRR thực tế.


Ứng dụng thực tế và triển khai

Kịch bản triển khai công nghiệp

Mô hình được thiết kế hoàn chỉnh cho trạm xử lý nước rỉ rác công suất $500\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$ tại Bãi chôn lấp Phước Hiệp:

Phân tích chi phí & Lợi ích kinh tế (Cost-Benefit Analysis)

  • Chi phí đầu tư xây dựng (CAPEX): Ước tính 4,2 tỷ VNĐ cho module công suất $500\text{ m}^3/\text{ngày}$.
  • Chi phí vận hành hóa chất (OPEX):
    • Phèn $\text{FeCl}_3$ ($0,8\text{ kg/m}^3 \times 4.500\text{ đ/kg}$): $3.600\text{ VNĐ}$
    • Phèn $\text{FeSO}_4$ ($0,3\text{ kg/m}^3 \times 3.000\text{ đ/kg}$): $900\text{ VNĐ}$
    • Vôi $\text{Ca(OH)}_2$ & Axit $\text{H}_2\text{SO}_4$: $2.200\text{ VNĐ}$
    • Polymer Anion ($0,002\text{ kg/m}^3 \times 65.000\text{ đ/kg}$): $130\text{ VNĐ}$
    • Điện năng tiêu thụ ($1,8\text{ kWh} \times 1.800\text{ đ/kWh}$): $3.240\text{ VNĐ}$
    • Tổng chi phí xử lý trực tiếp: $10.070\text{ VNĐ/m}^3$ (Thấp hơn $87,4%$ so với công nghệ trạm Nam Sơn: $80.000\text{ VNĐ/m}^3$).

Hạn chế và hướng phát triển

  • Hạn chế kỹ thuật:

    • Khối lượng bùn hóa lý sinh ra tương đối lớn (khoảng $3,5 - 4,8\text{ kg bùn khô/m}^3$ nước thải), đòi hỏi hệ thống máy ép bùn và bãi lưu giữ bùn nguy hại đạt chuẩn.
    • Quá trình keo tụ sắt III giải phóng gốc axit $\text{Cl}^-$, làm tăng độ dẫn điện (TDS) của dòng nước sau xử lý.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:

    • Nghiên cứu ứng dụng chất đông tụ cao phân tử gốc thực vật (chitosan, tannin biến tính) để giảm phụ thuộc vào phèn vô cơ và giảm độc tính bùn thải.
    • Nghiên cứu kết hợp công nghệ điện hóa keo tụ (Electro-coagulation) sử dụng điện cực sắt/nhôm nhằm tự động hóa quy trình châm hóa chất.

Đối tượng hưởng lợi

  • Sinh viên & Học viên cao học ngành Môi trường: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu thực nghiệm Jar-Test, động học keo tụ và số liệu thực tế về NRR tại TP.HCM.
  • Kỹ sư vận hành & Thiết kế công nghệ: Sở hữu bảng thông số thiết kế chi tiết, dải $\text{pH}$ tối ưu và suất tiêu hao hóa chất cho từng nhóm chất keo tụ cụ thể.
  • Doanh nghiệp quản lý bãi chôn lấp & Đô thị: Có cơ sở khoa học để cải tạo, nâng cấp các trạm xử lý NRR hiện hữu đang quá tải, đảm bảo đạt quy chuẩn pháp luật với chi phí hợp lý.
  • Cơ quan quản lý nhà nước: Cơ sở dữ liệu hỗ trợ thẩm định công nghệ và xây dựng quy chuẩn kỹ thuật xử lý chất thải rắn.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao không thể sử dụng công nghệ sinh học đơn thuần để xử lý nước rỉ rác cũ?

Nước rỉ rác từ các bãi chôn lấp vận hành trên 5 năm có tỷ lệ $\text{BOD}_5/\text{COD} < 0,2$, phần lớn COD tồn tại dưới dạng hợp chất mạch vòng humic, fulvic không có khả năng phân hủy sinh học. Do đó, vi sinh vật không thể hấp thụ và chuyển hóa các chất này, bắt buộc phải áp dụng công đoạn hóa lý keo tụ để tách pha.

2. Sự khác biệt chính giữa keo tụ bằng phèn nhôm $\text{Al}_2(\text{SO}_4)_3$ và phèn sắt $\text{FeCl}_3$ trong xử lý NRR là gì?

Phèn sắt $\text{FeCl}_3$ hoạt động hiệu quả trong dải $\text{pH}$ rộng hơn ($4,5 - 9,0$), tạo bông cặn to và nặng hơn hydroxit nhôm, cho hiệu suất khử COD đạt tới $78,5%$ (so với $58,1%$ của phèn nhôm) và loại bỏ màu triệt để hơn đối với các hợp chất hữu cơ phức tạp.

3. Phương pháp keo tụ 2 bậc kiểm soát chi phí hóa chất như thế nào?

Bằng cách phân đoạn quá trình: Bậc 1 loại bỏ $70%$ tạp chất hữu cơ nặng ở $\text{pH}$ thấp, Bậc 2 chỉ cần một lượng nhỏ phèn $\text{FeSO}_4$ ở $\text{pH}$ kiềm nhẹ để quét sạch cặn lơ lửng còn lại. Điều này giúp giảm tổng lượng tiêu hao phèn sắt đắt tiền và giảm lượng kiềm cần trung hòa so với keo tụ 1 bậc liều cao.

4. Lượng bùn thải sinh ra từ quá trình keo tụ được xử lý ra sao?

Bùn hóa lý từ đáy bể lắng Lamen được thu gom về bể nén bùn, bổ sung vôi sữa để ổn định và khử mùi, sau đó được bơm qua máy ép bùn khung bản để giảm độ ẩm xuống $< 75%$ trước khi chuyển về ô chôn lấp chất thải nguy hại chuyên dụng.

5. Nồng độ Amoni rất cao trong NRR ảnh hưởng thế nào đến quá trình keo tụ?

Quá trình keo tụ vô cơ chỉ xử lý hiệu quả chất rắn lơ lửng, độ màu và COD dạng keo chứ không loại bỏ được ion Amoni hòa tan ($\text{NH}_4^+$). Do đó, dây chuyền bắt buộc phải tích hợp tháp Stripping đuổi khí Amoni ở $\text{pH} \ge 10,5$ trước khi đưa vào cụm bể keo tụ và sinh học.


Kết luận

Nghiên cứu đã chứng minh tính khả thi khoa học và hiệu quả kinh tế cao của giải pháp keo tụ hóa lý trong xử lý nước rỉ rác có thành phần phức tạp tại Bãi chôn lấp Phước Hiệp, TP. Hồ Chí Minh. Việc xác định chính xác dải $\text{pH}$ tối ưu ($5,0 - 6,0$ đối với $\text{FeCl}_3$, liều lượng $800\text{ mg/L}$) kết hợp công nghệ keo tụ 2 bậc phân đoạn cho phép nâng hiệu suất khử COD lên $89,6%$, loại bỏ $98,8%$ độ đục và đưa nước thải sau xử lý đạt chuẩn TCVN 5945-1995 (Cột B). Đây là giải pháp công nghệ then chốt, cung cấp luận cứ kỹ thuật vững chắc để cải tạo các trạm xử lý NRR đô thị tại Việt Nam hướng tới phát triển bền vững.