CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới.1 Những nghiên cứu về thành phần loài côn trùng bắt mồi a. Những nghiên cứu về thành phần loài sâu hại. Trên thế giới thành phần côn trùng hại trên rau họ Hoa thập tự đã ghi nhận hơn 103 loài, tuy nhiên chỉ có hơn 30 loài là các loài hại thực sự nguy hiểm và hàng năm bình quân đã làm giảm từ 20 – 30% tổng sản lượng giá trị hàng trăm tỷ đô la (Risk et al., 1995; Diana et al.
Trong nhiều năm qua việc sản xuất các loại rau, củ và quả, đặc biệt là ở vùng Đông Phương - Ấn Độ và các nước lân cận với Việt Nam như: Canada, Philippin, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, dó đó thành phần các loài côn trùng hại trên rau họ Hoa thập tự được nhiều sự quan tâm nghiên cứu. Các loài sâu hại chính gồm sâu vẽ bùa Liriomyza trifolii, rệp đậu Myzus persicae, rệp bông Aphisgossypii, ruồi trắng Trialeurodes vaporariorum, bọ phấn Bemisia argentifolii, bọ trĩ Frankliniella occidentalis. Trong hơn 4000 loài rệp trên thế giới thì các loài rệp hại cây trồng hại rau họ Hoa thập tự chủ yếu là rệp đậu (Myzus persica), rệp bông (Aphis gossypii), rệp hoa cúc (Macrosiphoniella sanborni), rệp hoa hồng (Macrosiphum rosae), rệp khoai tây (Macrosiphum euphorbiae) và rệp cây mao (Aulacorthum solani), trong đó rệp đậu là loài hại nguy hiểm nhất (Lane Greer, 2000)[53]. Kết quả nghiên cứu sâu hại trên rau họ Hoa thập tự ở Thái Lan, Goodwin, 2002[48] đã ghi nhận 10 loài sâu hại nguy hiểm là rệp đậu Myzus persicar, rầy chồng cánh (bọ phấn - Whitefly) Trialeurodes vaporaiorum, sâu vẽ bùa Crataegus spp, rệp gáp giả Lecanium sp, Saissetia olear, Saissetia hemisphaerica, Coccus hesperidum và Parasaisetia nigra, rệp sáp sơ Nguyễn Thị Thu Hường 4 K16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ Planococus citri và Pseudococus longispinus.
Hình thái và các minh họa của 4 loài bọ trĩ hại chính trên rau họ Hoa thập tự gồm Frankliniella occidentalis, Frankliniella tritici, Thrips tabaci và Echinothrips sp.) đã được nghiên cứu ở On-ta-rio (Canada) (Gillian Ferguson, 2005) [46]. Nhiều loài phổ biến và nguy hiểm như sâu tơ Plutella xylostella, sâu khoang Spodoptera litura, sâu keo da láng Spodoptera exigua. Sâu xám Agrotis ypsilon, sâu xanh bướm trắng Pieris rapae, rệp cải Brevicoryne brassicae, rệp muội Brevicoryne brassicae, rệp đậu Myzus persicae, sâu đo xanh Plusia eriosoma, Rầy xanh Tettigoniella viridis, sâu đục bắp Marmestra sp., bọ nhảy sọc trắng Phyllotre armoraciar, bọ nhảy sọc đen Phyllotre pusila, ruồi đục lá Liriomyza sativae, bọ trĩ Frankliniella occidentalis.vv đã được nghiên cứu hệ thống về hình thái, dẫn liệu các minh hoạ, sự gây hại và biện pháp phòng trừ (Alam, 2002; Blackman, 1984; Morallo and Sayaboc., 2003 )[38],[39],[54] Ở vùng Đông Phương - Ấn Độ và các nước lân cận với Việt Nam đã ghi nhận hơn 100 loài sâu hại trong đó có hơn 30 loài thực sự nguy hiểm, nhiều loài trong số đó đã được mô tả hình thái, nghiên cứu sinh học, sinh thái học và các biện pháp phòng chống như ruồi đục lá Liriomyza trifolii, Liriomyza brassicae Riley, Liriomyza sativae, Liriomyza huidobrensis và Chromatomyia syngenesiae, rệp đào Myzus persicae, rệp bông Aphis gossypii, ruồi trắng Trialeurodes vaporarioum, bọ phấn Bemisia argentifolii, rệp hoa cúc Macrosiphoniella sanborni, rệp hoa hồng Macrosiphum rosae, rệp khoai tây Macrosiphum euphorbiae, bọ trĩ Frankliniella occidentalis, Frankliniella occidentalis, Frankliniella tritici, Thrips tabaci và Echinothrips sp. sâu tơ Nguyễn Thị Thu Hường 5 K16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ Plutella xylostella, sâu khoang Spodoptera litura, sâu keo da láng Spodoptera exigua, sâu xám Agrotis ypsilon, sâu xanh bướm trắng Pieris rapae, rệp cải Frankliniella occidentalis, sâu đo xanh Plusia eriosoma, rầy xanh Tettigoniella viridis, sâu đục bắp Marmestra sp., bọ nhẩy sọc trắng Phyllotre armoraciar, bọ nhẩy sọc đen Phyllotre pusila (Fao,1993)[44] b.
Những nghiên cứu về thành phần loài côn trùng bắt mồi. Thành phần loài côn trùng ký sinh và bắt mồi của các loài sâu hại trên rau họ Hoa thập tự cũng rất phong phú với hơn 60 loài ký sinh bắt mồi phổ biến ghi nhận được và nhiều loài đã được nhân nuôi và sử dụng các phòng trừ sinh học sâu hại rau như bò rùa bắt mồi Propylea japonica,Harmonia axyridis, Scymnus hoffmanni, ruồi ăn rệp M. Quadrifasciatus, bọ xít bắt mồi Orirus sp., bọ mắt vàng Chrysoperla carnea và Chrysopa oculata,cánh cứng bắt mồi Cheilomenes spp, bọ đuôi kìm bắt mồi. Việc sử dụng các loại bẫy để tiêu diệt các loài sâu hại rau cũng đã được các nhà côn trùng học dùng từ lâu (De Back, 1974)[43] Nhiều côn trùng ăn sâu (cả sâu non của chúng) đã được dùng để tiêu diệt một số lượng lớn rệp cây và trứng nhện.
Mỹ và Canada đã đạt được nhiều kết quả trong việc dùng các loài ăn sâu để phòng trừ sâu hại. Một ví dụ có tính chất lịch sử trong biện pháp phòng trừ sinh hoạt là dùng bọ rùa để tiêu diệt rệp. Năm 1988 loài bọ rùa Rodolia cardinalis (Muls) đã được nhập từ Úc vào California để tiêu diệt rệp hại cam Icerya purchasi Mask (loài rệp này đã phá hoại hầu hết các vườn cam nước Mỹ). Chỉ sau một thời gian ngắn đã cứu vãn được tai họa của vườn cam do rệp I.
purchasi Mask gây nên. Sau đó loại bọ rùa này được dử dụng để phòng trừ có kết quả loài I. purchasi Mask ở nhiều nơi trên thế giới như Florida, Angêri, Pháp, Tân tây lan, Nhật Bản và một số nước nhiệt đới khác. Cho đến nay nó đã được nhập vào trên 50 nước khác nhau.
Tương tự như vậy, ở California người ta còn bảo vệ và phát triển các loài ăn sâu bản xứ như Cryptolaemus montrouzieri Muls, Chrysopa, californica…để chống lại những loài rệp phấn hại cây ăn quả (Risk et al.,1995)[58] Nguyễn Thị Thu Hường 6 K16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ Một thực tế khác, để phòng trừ rệp phấn, Liên Xô cũ đã nhập rồi nuôi và thả ra đồng ruộng, vườn cây ăn quả loài bọ rùa Cryptolaemus, công việc này mang lại nhiều kết quả đáng kể. Ngoài ra, Liên Xô cũ còn sử dụng một số côn trùng ăn sâu khác (bản xứ hoặc nhập nội) do phòng trừ sâu hại. Trong những loài ăn sâu nhập vào để chống loại sâu hại của Liên Xô cũ phải kể đến : Rhodolia, Cryptolaemus, Lindorus gurneyi comp, Phytoseiulus persimillis A.N (Risk et al,1995)[58] Kiến cũng được nhiều nước sử dụng để phòng trừ một số loài côn trùng hại cây rừng. Ở cộng hòa Szhekc, người ta đã chuyển đến khu rừng tùng bách những tổ kiến và những rác vụn có chứa kiến Formica rufa L.
để tiêu diệt sâu tùng bách. Từ một tập đoàn kiến phân chia thành nhiều tập đoàn và tăng dần số lượng quần thể. Người ta đã dùng lưới thép để bảo vệ tổ kiến trên cành khỏi bị các động vật khác phá tổ kiến và tiêu diệt. Ở nhiều nước khác của Châu Âu cũng tiến hành theo phương pháp này đối với các khu rừng và đã mang lại kết quả rõ rệt (dẫn theo Pham Van Lam et al., 2003)[57] Ngoài ra, phải kể đến những hiệu quả tốt trong việc dùng các loài nhện ăn thịt để chống lại một số loài sâu hại.
Kết quả thí nghiệm dùng nhện hổ trùng (Phytoseinlus persimilles Athias - Henriot) trong 4 năm liền của G. Bengarôp ở Liên Xô cũ đã thể hiện điều đó. Ông đã thí nghiệm dùng nhện hổ trùng chống lại nhện hại trên một diện tích 11000m2 và nhận thấy dùng biện pháp này so với biện pháp hoá học làm cho năng suất dưa chuột tăng 50%. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, người ta đang gặp một số khó khăn trong việc bảo vệ, phát triển và sản xuất thường xuyên một số lượng rất lớn các loài kí sinh và ăn sâu.
Nguyễn Thị Thu Hường 7 K16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ 1.2 Những nghiên cứu về biến động số lượng của các loài côn trùng bắt mồi De Back (1974) [43] đã nghiên cứu biến động số lượng trưởng thành và thiếu trùng của 7 loài bọ xít bắt mồi thuộc 3 họ bao gồm: Acanthaspis pedestris, Edocla slateri, Catamiarus brevipennis, Haematorrhophus nigroviolaceous, Neohaematorrhophus therasii, Rhinocoris fuscipes và loài R. marginatus trên cánh đồng ở Tamil. Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 9 năm 1984 đến tháng 7 năm 1986 tác giả nhận thấy rằng biến động số lượng của các loài bọ xít bắt mồi này có mối quan hệ với số lượng của vật mồi và phụ thuộc vào nhiệt độ, lượng mưa, gió. Số lượng của loài bọ xít Acanthaspis pedestris thường đạt mật độ cao trong khoảng từ tháng 9/1984 đến tháng 3/1985.
Số lượng của loài bọ xít Edocla slateri đạt mật độ cao từ tháng 11/1984 đến tháng 3/1985. Đối với loài Catamiarus brevipennis đạt mật độ cao vào tháng 4 hàng năm. Loài Haematorrhophus nigroviolaceous đạt mật độ cao từ tháng 10/1984 đến tháng 2/1985. Loài Neohaematorrhophus therasii đạt mật độ cao từ tháng 3/1985 đến tháng 8/1986.
Loài Rhinocoris fuscipes đạt mật độ cao từ tháng 7/1984 đến tháng 3/1986. Số lượng loài R. marginatus thường đạt mật độ cao trong khoảng từ tháng 9/1984 đến tháng 6/1985. Nghiên cứu biến động số lượng của loài bọ xít mù xanh Cyrtorrhinus lividipennis trên rau.
Qua tính toán cho thấy mối tương quan số lượng giữa loài bọ xít bắt mồi này với vật mồi của nó là loài rầy chặt chẽ (R = 0,8) (Morallo and Sayaboc, 1992) [54]. Nghiên cứu về biến động số lượng và ảnh hưởng của các yếu tố đến mật độ một số loài ong bắt mồi cũng đã quan tâm và ghi nhận có 2 loài ong Psix striaticeps và Trissolcus sp. (họ Vespidae) có vai trò cao đối với sâu hại Nguyễn Thị Thu Hường 8 K16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ rau. Hai loài này đạt mật độ cao từ tháng 3/1985 đến tháng 8/1986 và từ tháng 7/1984 đến tháng 3/1986.
Số lượng loài Psix striaticeps thường đạt mật độ cao nhất trong khoảng từ tháng 7 và 8 (dẫn theo Phạm Văn Lầm et al.3 Những nghiên cứu về sinh thái học của một số loài côn trùng bắt mồi bắt mồi trên rau Các kết quả nghiên cứu về sinh thái học của các loài côn trùng hại rau họ Hoa thập tự trồng cũng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như dẫn liệu về vòng đời, sự gây hại và các biện pháp phòng trừ của 5 loài ruồi đục lá ở Bắc Mỹ và Cannada (loài Liriomyza trifolii (Burgess), Liriomyza brassicae Riley, Liriomyza sativae Blanchard, Liriomyza huidobrensis và Chromatomyia syngenesiar Hardy) trên rau họ Hoa thập tự đã được đề cập. Nhiều loài sâu hại rau phổ biến và nguy hiểm ở Đài Loan, Canada, Trung Quốc. Sâu tơ Plutella xylostella, sâu khoang Spodoptera litura, sâu keo da láng Spodoptera exigua, sâu xám Agrotis ypsilon, sâu xanh bướm trắng Pieris rapae, rệp cải Frankliniella occidentalis, rệp muội Brevicoryne brassicae, rệp đào Myzus persicae, rệp khoai tây Macrosiphum euphorbiae, rệp bông Aphis gossypii, sâu đo xanh Plusia eriosoma, rầy xanh Tettigoniella viridis, sâu đục bắp Marmestra sp.