CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HUY ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA KHU VỰC TƯ NHÂN TRONG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1. Khái niệm cơ bản về khu vực tư nhân và huy động nguồn lực tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu 1. Cơ chế và chính sách Khái niệm cơ chế là một khái niệm rộng và được ứng dụng trong nhiều ngành khoa học khác nhau, có thể thấy nó được ứng dụng từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội. Theo Từ điển Tiếng Việt, cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện” [30].
Đối với ngành kinh tế học cơ chế cũng được nghiên cứu và sử dụng khác nhau tùy thuộc vào đối tượng và mục đích nghiên cứu của các nhánh kinh tế học khác nhau. Theo nghĩa rộng, “Cơ chế” có thể được hiểu một cách khái quát là một cấu trúc kinh tế - xã hội hoặc cơ cấu tổ chức kinh tế xã hội như: Quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng; cấu trúc bộ máy nhà nước…, được xác lập bởi một phương thức sản xuất tương ứng (lực lượng sản xuất + quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ phân phối, quan hệ quản lý)) thuộc Nhà nước đương quyền [29]. Theo nghĩa hẹp hơn, cơ chế quản lý (điều hành) là việc sử dụng các công cụ để điều tiết các hoạt động kinh tế theo hướng kích hoạt hướng dẫn hoặc hạn chế các hoạt động kém hiệu quả hoặc không có lợi cho quốc kế dân sinh [29]. Chính sách là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt được một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” [30].
Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tuỳ thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể. Quan hệ giữa cơ chế và chính sách là khác nhau theo những khái niệm khác nhau. Nếu hiểu theo nghĩa rộng của cơ chế, thì cơ chế chịu tác động trực tiếp từ thể chế, có tác động tương hỗ làm thay đổi các chính sách tương ứng [29].
Ví dụ như thể chế kinh tế thị trường với cơ chế kinh tế nhiều thành phần, đa sở hữu yêu cầu các chính sách phát triển bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, chính sách cổ phần hoá …. Nếu hiểu cơ chế là cơ chế quản lý (điều hành) thì cơ chế là công cụ để thực hiện các chính sách [29]. Ví dụ như trong nền kinh tế thị trường, điều hành kinh tế phải bằng các công cụ kinh tế. Các công cụ được sử dụng phổ biến để điều hành kinh tế ở tầm vĩ mô gồm có: thuế, giá, lãi suất tín dụng, tỷ giá hối đoái, các định chế, chế tài…; và ở tầm vi mô là: Tiền lương, tiền thưởng, khoán công lao động… Đây là mối quan hệ hữu cơ, bắt nguồn từ sự tác động qua lại giữa các yếu tố của thể chế.
Thể chế là căn cứ về nguyên tắc để hình thành chính sách và chính sách giữa vai trò tác động trực tiếp đến sự vận hàng của cơ chế. Do đó, cơ chế và chính sách có mối quan hệ tương hỗ. Chính sách được hiện thực hóa bằng việc sử dụng các công cụ điều hành (cơ chế quản lý). Cơ chế là việc sử dụng các công cụ quản lý để điều tiết các hoạt động theo hướng kích hoạt, hướng dẫn hoặc hạn chế các hoạt động kém hiệu quả hoặc không có lợi cho quốc kế dân sinh Trong luận án này thuật ngữ cơ chế, chính sách được sử dụng để chỉ các chính sách và các cơ chế (công cụ) kinh tế được áp dụng nhằm đạt được mục tiêu nhất định được đề ra, cụ thể là huy động nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân trong ứng phó với BĐKH.
Để phát triển kinh tế tư nhân trong tình hình mới, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 10- NQ/TW ngày 03/6/2017 “Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nghị quyết đã xác định mục tiêu tổng quát: Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Khu vực tư nhân Khu vực tư nhân là một phần của nền kinh tế được điều hành bởi các cá nhân và doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, không do nhà nước trực tiếp điều hành, quản lý. Tiêu chí quan trọng nhất để phân biệt giữa khu vực công và tư nhân là quyền sở hữu của các đơn vị quản lý theo thể chế.
Khu vực tư nhân bao gồm tất cả các công ty tư nhân, doanh nghiệp tư nhân, cá nhân kinh doanh và kinh tế hộ gia đình hoạt động vì lợi nhuận mà không thuộc sở hữu hoặc điều hành trực tiếp bởi Chính phủ hoặc các cơ quan thuộc Chính phủ. Các hoạt động trong khu vực tư nhân thường hướng tới mục tiêu lợi nhuận, trong đó thị trường và quy luật cạnh tranh thúc đẩy quá trình sản xuất và phân phối hàng hoá, dịch vụ và là nơi diễn ra sáng kiến và các hành động chấp nhận rủi ro. Hiểu một cách khái quát khu vực tư nhân trong nền kinh tế là khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Khu vực tư nhân là tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh không dựa trên sở hữu nhà nước về các yếu tố của quá trình sản xuất, họ sử dụng nguồn vốn của chính họ và có quyền được hưởng thành quả lao động, sản xuất kinh doanh mà họ làm ra.
Khu vực tư nhân tồn tại dưới các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và các hộ kinh doanh cá thể. Nguyên tắc hoạt động của khu vực tư nhân được khái quát thành nguyên tắc “tự chủ”. Đó là tự bỏ vốn, tự tổ chức, tự chủ trong kinh doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 và tự bù lỗ. Đây là cơ chế gắn kết quả hoạt động (lợi ích) với năng lực hoạt động của người lao động, một cơ chế hoạt động tối ưu hướng tới kết quả cao.
Kinh tế tư nhân tại Việt Nam được xác định là khu vực kinh tế nằm ngoài khu vực kinh tế nhà nước (không bao gồm khu vực có vốn đầu tư nước ngoài), bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Hiện nay, kinh tế tư nhân tồn tại dưới các hình thức như: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần (không có hoặc có vốn nhà nước dưới 50%) [21] và các hộ kinh doanh cá thể [9]. Trong quá trình vận động và phát triển, kinh tế tư nhân cũng tích lũy được nguồn lực tài chính đáng kể, có thể được huy động để phục vụ cho đầu tư phát triển. Sự hình thành và phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam gắn liền với những đổi mới trong nhận thức và đường lối chính sách kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước.
Từ năm 1986 khi chính sách “Đổi mới” được ban hành tại Đại hội Đảng lần thứ 6, khu vực tư nhân đã được chính thức công nhận là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và của nền kinh tế nhiều thành phần [11]. Theo đó, khu vực kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, với lao động của các chủ thể kinh tế và lao động làm thuê, bao gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Tại Đại hội Đảng lần thứ XI, Đảng đã chỉ rõ nước ta có các 04 thành phần kinh tế bao gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đến nay, trong các văn kiện Đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của khu vực tư nhân trong nền kinh tế và nhấn mạnh định hướng tạo điều kiện và động lực thúc đẩy phát triển cho khu vực này [12][13].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Vì vậy, phạm vi của kinh tế tư nhân trong luận án này sẽ tập trung vào nhóm các doanh nghiệp tư nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần (không có hoặc có vốn nhà nước dưới 50%) [21]. Ứng phó với biến đổi khí hậu BĐKH là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc do tác động bên ngoài như sự thay đổi của chu kỳ mặt trời, phun trào núi lửa và những thay đổi liên tục do con người tạo ra trong thành phần khí quyển hoặc sử dụng đất. Điều 1 của Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH (UNFCCC), định nghĩa BĐKH là: “sự thay đổi khí hậu được xác định trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của bầu khí quyển toàn cầu thêm vào BĐKH tự nhiên quan sát được trong các khoảng thời gian có thể so sánh được”.
Do đó, UNFCCC phân biệt giữa BĐKH do các hoạt động của con người làm thay đổi thành phần khí quyển và BĐKH do các nguyên nhân tự nhiên. Theo Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam, ứng phó với BĐKH là “hoạt động của con người nhằm thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính” [19] [20].