CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN Phần đầu của chương trình bày tổng quan về các vấn đề lý thuyết liên quan tới luận án như nghiên cứu về câu hỏi, về hàm ý, hàm ý trong câu hỏi, về phương thức dịch nói chung và phương thức dịch hàm ý nói riêng. Ở phần tiếp theo, đề tài đi sâu vào những lý thuyết làm cơ sở nghiên cứu. Đó là các loại hàm ý cũng như cơ chế tạo hàm ý, câu hỏi tiếng Đức chứa hàm ý và các vấn đề dịch thuật, đánh giá dịch thuật.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu về câu hỏi Theo Hentschel và Weydt [2013, tr.
376], cùng với câu hỏi, người ta sẽ nêu/ miêu tả điều không chắc chắn liên quan tới việc xác định một nội dung, hoặc nêu/ miêu tả một “lỗ hổng thông tin” đặc biệt. Bình thường, phát ngôn của một câu hỏi cũng đồng thời thể hiện yêu cầu đối với người đối thoại là cung cấp cho ta thông tin còn thiếu. Trong khi đó, Helbig và Buscha [2001, tr. 615] cho rằng câu hỏi được người nói diễn đạt khi không có đủ thông tin về một sự việc và cần người đối thoại cung cấp cho mình thông tin này.
Câu hỏi là lời yêu cầu theo một cách đặc biệt. 56] khẳng định một câu hỏi bao giờ cũng đi liền với câu trả lời. Trong một tình huống hội thoại, khi thiếu thông tin và muốn lấp đầy khoảng trống đó, người nghe sẽ đặt câu hỏi cho người đối diện. Nếu người này đưa ra câu trả lời, có nghĩa là anh ta đã lấp lỗ hổng đó.
Câu trả lời có thể bằng lời hoặc phi lời. Đa số các tác giả phân biệt câu hỏi dựa trên hình thái - cú pháp. Họ chú ý tới vị trí của động từ trong câu, tới sự có mặt của đại từ nghi vấn. Theo đó, hai loại câu hỏi được nhắc tới nhiều nhất là câu hỏi có đại từ nghi vấn và câu hỏi không có đại từ nghi vấn [Conrad, 1978; Engel, 1994/2009; Genzmer, 1995; Zifonun và cộng sự, 1997; Wöllstein-Leisten và cộng sự, 1997; Helbig và Buscha, 2001; Weinrich, 2005; Duden, 2006; Kürschner, 2008; Habermann và cộng sự, 2009; Boetcher, 2009; Hentschel và Weydt, 2013; Eisenberg, 2013].
Câu hỏi có đại từ nghi vấn - thường bắt đầu với một đại từ nghi vấn hoặc một diễn đạt hỏi bao gồm nhiều thành phần, hỏi về một phần của câu (Ví dụ: Wer hat das Haus gekauft? → Ai đã mua ngôi nhà đó?). 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khi đó, câu hỏi không có đại từ nghi vấn - đánh dấu nội dung câu là không chắc chắn và có động từ đứng ở đầu câu (Ví dụ: Kommst du morgen? → Ngày mai anh có đến không?), nhưng cũng có ngoại lệ là câu có hình thức của một câu trần thuật, động từ chia theo ngôi đứng ở vị trí thứ hai, tính nghi vấn thể hiện qua ngữ điệu (Ví dụ: Anna hat ein Haus gekauft? - Ja/ Nein → Anna đã mua một ngôi nhà? - Ừ/ Không). Bên cạnh hai loại câu hỏi trên còn có câu hỏi lựa chọn [Conrad, 1978; Genzmer, 1995; Zifonun và cộng sự, 1997; Helbig và Buscha, 2001; Weinrich, 2005; Kürschner, 2008; Habermann và cộng sự, 2009; Boetcher, 2009; Engel, 2009; Hentschel và Weydt, 2013]. Câu hỏi này thể hiện sự kết hợp giữa hai câu hỏi không có đại từ nghi vấn (Ví dụ: Willst du Honig oder Mamelade? → Em muốn dùng mật ong hay mứt?).
Khi trả lời, người đối thoại sẽ phải chọn một trong các khả năng được đưa ra. Một loại đặc biệt của câu hỏi dạng này là câu hỏi láy lại với nicht wahr, nicht, woll, gell, na, wa v. được gắn vào sau câu trần thuật và là một câu hỏi ở dạng rút gọn có chức năng của một câu hỏi hỏi lại: (Ist es) nicht (so)? (Ist es) nicht wahr? (chẳng phải vậy sao? Chẳng phải thật thế hay sao?). Ngoài cách phân loại câu hỏi theo cấu trúc ngữ pháp, các tác giả cũng rất quan tâm tới chức năng của câu hỏi hay xem xét các hành động ngôn trung khác được tạo ra dưới hình thức câu hỏi.
Theo đó, có câu hỏi mà người nghe muốn kiểm tra xem mình đã hiểu thông tin nhận được đúng hay chưa [Engel, 1994/ 2009; Zifonun và cộng sự, 1997], câu hỏi kiểm tra, câu hỏi ngờ vực/ câu hỏi tự vấn [Zifonun và cộng sự, 1997], câu hỏi xác nhận thông tin [Zifonun và cộng sự, 1997; Helbig và Buscha, 2001; Weinrich, 2005], câu hỏi vọng [Meibauer, 1987; Wöllstein-Leinstein và cộng sự, 1997; Duden, 2006], câu hỏi tu từ [Genzmer, 1995; Zifonun và cộng sự, 1997; Hentschel và Weydt, 2013] và câu hỏi vặn lại [Engel, 2009]. Đa số các câu hỏi trên đều thấy trong nghiên cứu của Boettcher [2009, tr. Cho rằng câu hỏi thường được định nghĩa trong sự so sánh đối chiếu với lời khẳng định, trong đó, nó ở dạng trung lập giữa hai cực “khẳng định” và “phủ định”, Confais [1995, tr. 1-5] đã đưa ra một bảng so sánh giữa điều khẳng định và điều được hỏi.
Theo đó có các loại câu hỏi: 1) Câu hỏi lấy thông tin (Ví dụ: Ist Peter krank? → Peter 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bị ốm à?), 2) Câu hỏi thể hiện sự ngạc nhiên (Ví dụ: Bist du noch nicht angezogen?/ Du bist noch nicht angezogen? → Con còn chưa mặc quần áo hay sao?), 3) Câu hỏi kêu gọi (chủ yếu là hỏi để yêu cầu) (Ví dụ: Gehst du jetzt ins Bett? → Bây giờ con đi ngủ chứ?). Thực ra, trong danh sách các câu hỏi trên, chỉ có câu hỏi lấy thông tin thực sự có ngôn trung là hỏi, còn những loại câu hỏi khác đều liên quan tới một hành động nói gián tiếp, nghĩa là thông qua hình thức câu hỏi, người nói muốn truyền đi một ý định khác. Nói cách khác, những câu hỏi đó chứa đựng hàm ý bên trong. Cho tới nay, câu hỏi không còn là đề tài xa lạ với các nhà nghiên cứu Việt Nam.
Loại câu này xuất hiện trong nhiều cuốn sách ngữ pháp tiếng Việt của Hoàng Trọng Phiến [1980]; Hữu Đạt và cộng sự [1998], Cao Xuân Hạo [2005], Diệp Quang Ban [2011; 2013], v. Nhiều công trình nghiên cứu, luận văn, luận án nghiên cứu sâu về câu hỏi trong tiếng Việt: Nguyễn Thị Thìn [1994], Nguyễn Thị Lương [1996], Lê Đông [1996], Nguyễn Thị Thanh Hương [2005], Lê Thị Thu Hoài [2013], v. Ngoài ra, cũng có nhiều đề tài so sánh đối chiếu câu hỏi trong tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng Pháp như: Trần Chi Mai [2000], Võ Đại Quang [2000], Nguyễn Việt Tiến [2002], Nguyễn Đăng Sửu [2002; 2010], Đỗ Quang Việt [2008; 2009], Đinh Thị Ánh Tuyết [2010], v., công trình nghiên cứu về hành động hỏi dựa trên tư liệu tiếng Hàn và tiếng Việt của Hoàng Thị Yến [2018]. Nhiều bài báo đề cập tới việc so sánh-đối chiếu câu hỏi tiếng Việt với các ngôn ngữ khác, ví dụ: đối chiếu câu nghi vấn không đích thực trong tiếng Anh với tiếng Việt [Nguyễn Đăng Sửu, 2001], phân tích đối chiếu câu hỏi lấy thông tin trong tiếng Anh và tiếng Việt để chỉ ra tương đồng và dị biệt [Nguyễn Đăng Sửu, 2008], phân tích các câu hỏi phi chính danh trong các đoạn thoại tiếng Anh [Tô Minh Thanh, 2012], nghiên cứu quan hệ giữa tính nghi vấn với hành động ngôn ngữ trong câu hỏi dựa trên cứ liệu tiếng Hàn và tiếng Việt [Hoàng Thị Yến, 2013] và phân tích các dạng câu hỏi xuất hiện trong tiêu đề của báo chí Nga [Vũ Thị Chín, 2018], v.
Về câu hỏi trong tiếng Việt có các bài nghiên cứu về chức năng thực hiện hành vi hỏi của từ loại tiếng Việt của Bùi Minh Toán [1996], cấu trúc thông báo của câu trả lời trực tiếp cho câu hỏi chính danh của Nguyễn Thị Thúy [2000], giới thiệu một số hình thức hỏi để thể hiện tính cảm thán của Nguyễn Thị 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hồng Ngọc [2003], khảo sát sự im lặng như một cách trả lời cho câu hỏi chính danh trong các tác phẩm văn học của Lê Anh Xuân [2006], Phạm Thị Như Hoa [2010], nghiên cứu “Sự linh hoạt của tiêu điểm trong câu hỏi” của Nguyễn Thị Mai [2011], khảo sát hành vi hỏi - đề nghị trong ca dao tiếng Việt của Nguyễn Thị Hài [2015] và câu hỏi tu từ của Lê Thị Thu Hoài [2011; 2012; 2016], v. Tuy nhiên, theo những tài liệu thu thập được thì cho tới nay, chưa có công trình nghiên cứu nào so sánh-đối chiếu một cách hệ thống câu hỏi trong tiếng Đức và tiếng Việt ngoại trừ luận văn của Nguyễn Thị Thủy [2017]. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy cả hai ngôn ngữ đều có câu hỏi có/ không có đại từ nghi vấn, có câu hỏi xác nhận thông tin, câu hỏi lựa chọn, câu hỏi tu từ, câu hỏi gián tiếp và câu hỏi dùng ngữ điệu; các chức năng giao tiếp của câu hỏi như lấy thông tin, khuyên, yêu cầu, cho phép, phê phán, thể hiện cảm xúc đều xuất hiện trong hai ngôn ngữ. Tuy nhiên, vị trí của đại từ nghi vấn và động từ trong câu hỏi tiếng Việt và tiếng Đức lại khác nhau; tiểu từ tình thái không có vai trò gì trong câu hỏi tiếng Đức nhưng lại là một trong những phương tiện quan trọng nhất để xác định câu hỏi trong tiếng Việt.
Theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, Cao Xuân Hạo [2005, tr. 392] cho rằng câu hỏi của tiếng Việt có giá trị hỏi là giá trị ngôn trung trực tiếp hoặc giá trị ngôn trung phái sinh. Câu hỏi có giá trị ngôn trung trực tiếp là câu hỏi chính danh. Loại câu hỏi này được Cao Xuân Hạo [2007, tr.
497-505] chia thành bốn tiểu loại là câu hỏi có-không (câu hỏi tổng quát) (Ví dụ: Lan có đến không?), câu hỏi chuyên biệt (dùng đại từ nghi vấn) (Ví dụ: Ai sẽ lái xe?), câu hỏi lựa chọn (câu hỏi song tuyển) (Ví dụ: Anh đi xe đạp hay đi xe máy) và câu hỏi dùng tiểu tố tình thái (như: à, ư, nhỉ, nhé) (Ví dụ: Cậu không tin tớ à?). Khi phân loại câu theo mục đích phát ngôn, một số tác giả khác như Hoàng Trọng Phiến [1980, tr. 344-360], Nguyễn Thiện Giáp và cộng sự [2003, tr. 274], Nguyễn Thiện Giáp [2004] và Diệp Quang Ban [2008] tuy phân loại và gọi tên các loại câu hỏi có phần hơi khác, song về cơ bản có thể quy về bốn loại trên của Cao Xuân Hạo.
Câu hỏi có giá trị ngôn trung phái sinh (như phủ định, khẳng định, tỏ ý ngờ vực, thách thức, v.) được Lê Quang Thiêm [2004, tr. 222] gọi là câu hỏi phi chính danh. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhiều khi, chính giá trị ngôn trung phái sinh này mới là mục đích duy nhất của phát ngôn.