Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh-đối chiếu (mã số 62 22 02 41) của nghiên cứu sinh Lê Thị Bích Thủy, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lâm Quang Đông và TS. Lê Tuyết Nga tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (bảo vệ năm 2020), mang tên: "Nghiên cứu phương thức chuyển dịch hàm ý trong câu hỏi từ tiếng Đức sang tiếng Việt (Dựa trên cứ liệu dịch phẩm văn học)".
Về tính cấp thiết, trong giao tiếp ngôn ngữ hàng ngày, câu hỏi là dạng câu xuất hiện ở mọi ngôn ngữ nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin. Bên cạnh chức năng bổ sung thông tin thiếu hụt thông qua câu hỏi chính danh, câu hỏi còn đảm nhận nhiều chức năng ngữ nghĩa – ngữ dụng khác như yêu cầu, phủ định, chế giễu, mỉa mai, trong đó dấu hiệu hình thức nghi vấn chỉ là lớp vỏ bề ngoài bao bọc các hàm ý bên trong. Trong văn học, những tầng nghĩa ẩn giấu phía sau lớp vỏ ngôn từ ("điều được nghĩ đến" đối lập với "điều được nói ra") đóng vai trò then chốt tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm. Việc nhận diện và chuyển dịch các phát ngôn hàm ý này từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích đặt ra thách thức lớn cho các dịch giả, bởi quá trình dịch đòi hỏi việc vận dụng tri thức ngôn ngữ kết hợp với tri thức nền về văn hóa, xã hội và lịch sử. Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu rõ rệt: các công trình trước đây chỉ mới đề cập gián tiếp tới hàm ý qua câu hỏi không chính danh, chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp, hệ thống về phương thức chuyển dịch hàm ý trong câu hỏi đối với cặp ngôn ngữ Đức – Việt.
Mục đích nghiên cứu của luận án là xác định các phương thức cụ thể được áp dụng để truyền tải hàm ý trong câu hỏi từ tiếng Đức sang tiếng Việt, nhằm giải quyết khó khăn trong công tác dịch thuật văn học Đức – Việt và nâng cao hiệu quả giảng dạy các học phần dịch thuật.
Để thực hiện mục đích trên, luận án tập trung giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu:
- Hàm ý trong câu hỏi tiếng Đức xuất hiện trong tác phẩm Der Besuch der alten Dame thuộc nhóm cơ chế nào?
- Phương thức nào được sử dụng khi chuyển dịch hàm ý trong câu hỏi tiếng Đức sang tiếng Việt?
- Có thể đánh giá các câu dịch chứa hàm ý trong các bản dịch như thế nào?
Tương ứng với ba câu hỏi nghiên cứu là ba nhiệm vụ cụ thể được đánh số trong văn bản:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu và xác lập cơ sở lý thuyết cho đề tài;
- Khảo sát câu hỏi chứa hàm ý trong tiếng Đức (qua tác phẩm Der Besuch der alten Dame) và phương thức chuyển dịch sang tiếng Việt (qua hai bản dịch tiếng Việt);
- Đánh giá cách dịch câu hỏi chứa hàm ý từ tiếng Đức sang tiếng Việt (qua hai bản dịch tiếng Việt).
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cách thức chuyển dịch các loại hàm ý (bao gồm hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại đặc thù) tồn tại trong câu hỏi tiếng Đức sang tiếng Việt.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở các câu hỏi tiếng Đức chứa hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại có hình thức nghi vấn (kết thúc bằng dấu hỏi chấm) xuất hiện trong nguyên tác kịch bản văn học Der Besuch der alten Dame của nhà văn Friedrich Dürrenmatt (ấn bản năm 1998) cùng hai bản dịch tiếng Việt tương ứng: Bà lớn về thăm do Phạm Thị Hoài dịch (2006) và Bà tỷ phú về thăm quê do Lê Chu Cầu dịch (2006). Luận án không khảo sát các câu hỏi chính danh và không khảo sát các phát ngôn có giá trị ngôn trung hỏi nhưng không mang hình thức cấu tạo nghi vấn.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước trên ba mảng nội dung chính:
Nghiên cứu về câu hỏi trong tiếng Đức và tiếng Việt:
Trong tiếng Đức, các tác giả Conrad (1978), Engel (1994/2009), Genzmer (1995), Zifonun và cộng sự (1997), Wöllstein-Leisten và cộng sự (1997), Helbig và Buscha (2001), Weinrich (2005), Duden (2006), Kürschner (2008), Habermann và cộng sự (2009), Boettcher (2009), Hentschel và Weydt (2013), Eisenberg (2013) đã phân loại câu hỏi theo hình thái - cú pháp (câu hỏi có/không có đại từ nghi vấn, câu hỏi lựa chọn, câu hỏi láy lại) và theo chức năng ngôn trung (câu hỏi kiểm tra, câu hỏi ngờ vực, câu hỏi xác nhận thông tin, câu hỏi vọng, câu hỏi tu từ, câu hỏi vặn lại). Confais (1995) phân chia câu hỏi lấy thông tin, câu hỏi ngạc nhiên và câu hỏi kêu gọi. Trong tiếng Việt, các tác giả Hoàng Trọng Phiến (1980), Hữu Đạt và cộng sự (1998), Cao Xuân Hạo (2005, 2007), Diệp Quang Ban (2008, 2011, 2013), Lê Quang Thiêm (2004), Nguyễn Thiện Giáp (2004) đã phân tích câu hỏi chính danh và câu hỏi phi chính danh (cầu khiến, khẳng định, phủ định, phỏng đoán, cảm thán). Các nghiên cứu chuyên sâu về câu hỏi của Nguyễn Thị Thìn (1994), Nguyễn Thị Lương (1996), Lê Đông (1996), Nguyễn Thị Thanh Hương (2005), Lê Thị Thu Hoài (2011, 2012, 2013, 2016), Nguyễn Đăng Sửu (2001, 2008), Hoàng Thị Yến (2013, 2018), Vũ Thị Chín (2018) và luận văn so sánh đối chiếu câu hỏi Đức - Việt của Nguyễn Thị Thủy (2017) đã làm rõ các tương đồng và dị biệt về trật tự từ, vị trí đại từ nghi vấn và vai trò của tiểu từ tình thái.
Nghiên cứu về hàm ý và hàm ý trong câu hỏi:
Lý thuyết nền tảng khởi nguồn từ Grice (1967, 1975, 1989) phân biệt hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại. Các học giả quốc tế như Rolf (1994, 2013), Liedtke (1995, 2016), Peccei (1999), Pafel (2007), Huang (2007), Ehrhardt và Heringer (2011), Hagemann (2011, 2014), Potts (2005, 2006, 2007, 2008), Levinson (2000), Vallée (2008), Feng (2010), Bach (1999), Sperber và Wilson (1986/1995), Keller (1995), Meibauer (1986, 1987, 1997, 2001) đã đào sâu vào cơ chế nảy sinh hàm ý, phương châm hội thoại và câu hỏi tu từ/câu hỏi vọng. Ở Việt Nam, các tác giả Đỗ Thị Kim Liên (2005), Vũ Đức Nghiệu và Nguyễn Văn Hiệp (2010), Đỗ Việt Hùng (2011), Đinh Văn Đức (2012), Đào Thanh Lan (2012), Đỗ Hữu Châu (2012), Nguyễn Đức Dân (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2004), Cao Xuân Hạo (2007), Nguyễn Văn Hiệp (2006, 2012), Nguyễn Thị Tố Ninh (2014) đã thảo luận về ranh giới giữa hàm ý, hàm ngôn, nghĩa hàm ẩn và tiền giả định.
Nghiên cứu về phương thức dịch và phương thức dịch hàm ý:
Luận án tổng thuật lý thuyết dịch thuật của Wilss (1977), Reiß (1983, 1986, 1989), Vermeer (1984), Nord (1989, 2006, 2010), Kautz (2002), Schreiber (1993, 1997), Koller (1973, 1981, 2011), Nida và Taber (1969), Newmark (1988), Kade (1968), Levý (1969), Hoàng Văn Vân (2011), Nguyễn Hồng Cổn (2001, 2006), Lê Hoài Ân (2011, 2014, 2015). Về dịch hàm ý, các tác giả quốc tế như Sharifabad và Hazbavi (2011), Samardali và cộng sự (2013), Laharomi (2013) nghiên cứu trên cặp ngôn ngữ Anh – Ả Rập/Ba Tư; tại Việt Nam có luận án của Trịnh Thị Thơm (2015) nghiên cứu chuyển dịch phát ngôn hàm ý Anh – Việt.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là xây dựng khung phân loại và miêu tả hệ thống phương thức chuyển dịch hàm ý (quy ước và hội thoại) trong câu hỏi từ tiếng Đức sang tiếng Việt dựa trên cứ liệu văn bản kịch bản văn học, đồng thời áp dụng phương pháp điều tra thực nghiệm để đánh giá chất lượng bản dịch.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên ba trụ cột:
- Lý thuyết ngữ dụng học về hàm ý: Dựa trên quan điểm của Grice (1975), Rolf (1994, 2013) và Potts (2005). Nghĩa giao tiếp gồm nghĩa hiển ngôn (nghĩa tự nhiên của câu) và nghĩa hàm ẩn (nghĩa phi tự nhiên). Hàm ý quy ước xuất hiện do nghĩa quy ước của các yếu tố ngôn ngữ (từ trực chỉ diễn ngôn, từ trực chỉ xã hội, cấu trúc cú pháp chêm xen/đồng vị, thực từ chỉ thái độ). Hàm ý hội thoại xuất hiện dựa trên nguyên tắc cộng tác và việc tuân thủ hoặc vi phạm bốn phương châm hội thoại: Lượng (Quantity), Chất (Quality), Quan hệ (Relation), và Cách thức (Manner).
- Lý thuyết về câu hỏi có hàm ý trong tiếng Đức: Nhận diện và phân loại câu hỏi xác nhận thông tin, câu hỏi hỏi lại/câu hỏi vọng, câu hỏi tu từ dựa trên các dấu hiệu hình thái, cú pháp, tiểu từ tình thái (denn, doch, nur, bloß, schon, vielleicht, wohl), tiểu từ phủ định (nicht), giả định thức II, cấu trúc so sánh và các động từ tình thái.
- Lý thuyết dịch thuật và phê bình dịch thuật: Dựa trên khung phương thức dịch chuyển đổi ngữ pháp và chuyển đổi ngữ nghĩa của Kautz (2002), Schreiber (1993, 1997), phân loại tương đương dịch thuật của Koller (2011), Kade (1968), Nguyễn Hồng Cổn (2001) và mô hình đánh giá chất lượng bản dịch của Reiß (1986, 1989), Koller (1973, 1981).
Phương pháp nghiên cứu và tư liệu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp miêu tả: Sử dụng thủ pháp phân tích ngữ cảnh (ngữ cảnh phát ngôn hẹp và bối cảnh toàn tác phẩm, tri thức văn hóa - lịch sử) để phân tích các cơ chế tạo hàm ý trong câu hỏi tiếng Đức.
- Phương pháp so sánh – đối chiếu: Đối chiếu câu hỏi nguyên tác tiếng Đức với các phương án dịch trong hai bản dịch tiếng Việt nhằm xác định phương thức dịch; so sánh kết quả suy luận hàm ý và đánh giá chuẩn mực ngôn ngữ giữa các nhóm nghiệm viên.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (nghiên cứu thực nghiệm): Khảo sát thực nghiệm với 60 nghiệm viên bằng phiếu điều tra (PĐT) tại Việt Nam, Đức và Áo từ tháng 04/2018 đến tháng 09/2018.
- Thủ pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS để tính toán tần số, tỷ lệ phần trăm, lập bảng chéo và kiểm tra độ tin cậy; phần mềm Microsoft Excel được sử dụng để quản lý, phân tích dữ liệu các câu hỏi mở.
| Loại khối liệu |
Quy mô dữ liệu |
Mục đích sử dụng |
| Khối liệu 1 (KL1) |
220 câu hỏi (kèm ngữ cảnh) |
Toàn bộ câu hỏi trong tác phẩm Der Besuch der alten Dame, dùng tham vấn nhóm chuyên gia Đức để phân loại câu hỏi chính danh và câu hỏi hàm ý |
| Khối liệu 2 (KL2) |
193 câu hỏi chứa hàm ý |
Lọc từ KL1, dùng để phân tích cơ chế tạo hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại |
| Khối liệu 3 (KL3) |
193 câu hỏi kèm 2 bản dịch tiếng Việt |
Dùng để khảo sát, phân loại phương thức chuyển dịch và đánh giá bản dịch trên phương diện lý thuyết |
| Ngữ liệu thực nghiệm |
21 câu hỏi trong 10 đoạn thoại |
Trích xuất đưa vào phiếu điều tra khảo sát 60 nghiệm viên |
Cơ cấu mẫu 60 nghiệm viên tham gia điều tra thực nghiệm (16 nam, 44 nữ, độ tuổi từ 23 đến 55) được phân bổ thành bốn nhóm đồng nhất:
| Nhóm |
Đối tượng nghiệm viên |
Số lượng |
Độ tuổi |
Trình độ / Chuyên môn chính |
| Nhóm 4 |
Giảng viên bản ngữ tiếng Đức (Đức, Áo, DAAD) |
15 (7 nam, 8 nữ) |
35 – 50 |
10 Thạc sĩ, 5 Tiến sĩ; chuyên ngành Văn học, Ngôn ngữ học, Tiếng Đức như một ngoại ngữ; 12/15 đã đọc nguyên tác |
| Nhóm 5 |
Sinh viên cao học bản ngữ tiếng Đức (tại Đức) |
15 (2 nam, 13 nữ) |
24 – 36 |
Học kỳ 2 – 6 chuyên ngành Ngôn ngữ Đức, Dịch thuật, Văn học; 6/15 đã đọc tác phẩm |
| Nhóm 6 |
Giảng viên/Nghiên cứu viên người Việt |
15 (5 nam, 9 nữ, 1 không nêu) |
29 – 55 |
6 Thạc sĩ, 5 Tiến sĩ, 2 PGS tại ĐHQGHN, ĐH Sư phạm Hà Nội, Viện Ngôn ngữ; 14/15 chưa đọc hai bản dịch |
| Nhóm 7 |
Sinh viên cao học người Việt |
15 (2 nam, 13 nữ) |
23 – 33 |
Học kỳ 2 – 5 chuyên ngành Ngôn ngữ Đức tại Việt Nam và CHLB Đức |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về câu hỏi trong ngôn ngữ học tiếng Đức và tiếng Việt; tổng kết các cách tiếp cận ngữ dụng học đối với khái niệm hàm ý, phân định ranh giới giữa hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại; phân tích cấu trúc, ngữ nghĩa và dấu hiệu nhận diện câu hỏi chứa hàm ý trong tiếng Đức (câu hỏi xác nhận thông tin, câu hỏi hỏi lại, câu hỏi tu từ); tổng quan các lý thuyết dịch thuật, hệ thống phân loại phương thức dịch của các học giả Đức và quốc tế, các mô hình phê bình và đánh giá chất lượng bản dịch của Reiß và Koller.
Chương 2: Hàm ý quy ước trong câu hỏi tiếng Đức và phương thức chuyển dịch
Chương này tập trung nhận diện các cơ chế tạo hàm ý quy ước trong câu hỏi tiếng Đức và tổng kết các phương thức chuyển dịch tương ứng sang tiếng Việt qua ngữ liệu tác phẩm:
-
Cơ chế tạo hàm ý quy ước:
- Các diễn đạt trực chỉ diễn ngôn: Các liên từ (obwohl, weil), trạng từ (trotzdem, jedoch), tiểu từ (denn, doch, nur), thán từ (oh, he), động từ tình thái (dürfen, sollen) và thành ngữ;
- Các diễn đạt trực chỉ xã hội: Đại từ nhân xưng lịch sự, các danh xưng xưng hô thể hiện quan hệ thứ bậc, sự tôn kính (gnädige Frau);
- Cấu trúc cú pháp: Yếu tố chêm xen, ngữ đồng vị giải thích bổ sung thông tin định hướng theo người nói;
- Các thực từ chỉ thái độ của người nói: Tính từ biểu cảm (verdammt, blöd), danh từ biểu trưng (der Idiot), trạng từ đánh giá (komischerweise).
-
Các loại nghĩa hàm ý quy ước được phân lập:
- Kỳ vọng/gợi ý của người nói đối với người nghe;
- Thái độ của người nói đối với người nghe hoặc người thứ ba;
- Thái độ/cảm xúc của người nói đối với chính điều được phát ngôn.
-
Bốn phương thức chuyển dịch hàm ý quy ước sang tiếng Việt:
- Dùng trợ từ / phó từ / liên từ / thán từ;
- Chuyển đổi ngữ nghĩa;
- Chuyển đổi ngữ pháp;
- Dịch câu hỏi không dùng đại từ nghi vấn / phó từ hoặc tác tử hỏi.
Chương 3: Hàm ý hội thoại trong câu hỏi tiếng Đức và phương thức chuyển dịch
Chương 3 đi sâu giải quyết cơ chế nảy sinh hàm ý hội thoại và các phương thức chuyển dịch sang tiếng Việt:
Chương 4: Đánh giá các phương án chuyển dịch hàm ý trong câu hỏi từ tiếng Đức sang tiếng Việt
Chương 4 thực hiện hai nội dung đánh giá chất lượng dịch thuật:
- Đánh giá bản dịch trên phương diện lý thuyết đối với toàn bộ 193 câu hỏi trong KL3:
Dựa trên mức độ bảo tồn nội dung hàm ý và tính tương đương, luận án phân loại 193 câu dịch của hai bản dịch thành bốn mức độ:
- Chuyển dịch được hàm ý;
- Chuyển dịch một phần hàm ý;
- Không chuyển dịch được hàm ý;
- Không dịch hoặc dịch sai.
- Đánh giá bản dịch theo thực nghiệm điều tra (21 câu hỏi với 60 nghiệm viên):
- Đánh giá theo tiêu chí hàm ý: So sánh mức độ tương đồng và khác biệt trong việc lựa chọn các phương án giải mã hàm ý giữa nhóm người bản ngữ tiếng Đức/Áo (Nhóm 4, Nhóm 5) và nhóm người Việt (Nhóm 6, Nhóm 7). Kết quả phân tích thống kê qua biểu đồ và bảng chéo cho thấy sự tương đồng cao trong việc nhận diện hàm ý chính ở các câu hỏi điển hình, đồng thời chỉ ra những điểm phân hóa do khác biệt về tiếp nhận văn hóa.
- Đánh giá theo tiêu chí chuẩn mực ngôn ngữ: Khảo sát riêng hai nhóm nghiệm viên người Việt (Nhóm 6 và Nhóm 7) về mức độ tự nhiên, trong sáng và đúng ngữ pháp tiếng Việt của các câu dịch do Phạm Thị Hoài và Lê Chu Cầu thực hiện.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về lý luận
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý thuyết về hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại trong câu hỏi tiếng Đức, xác lập các dấu hiệu nhận diện hình thái, cú pháp và từ vựng - ngữ dụng của câu hỏi chứa hàm ý.
- Xây dựng khung phân loại chi tiết các cơ chế tạo hàm ý quy ước (trực chỉ diễn ngôn, trực chỉ xã hội, cú pháp chêm xen/đồng vị, thực từ chỉ thái độ) và cơ chế tạo hàm ý hội thoại (tuân thủ hoặc vi phạm các phương châm hội thoại của Grice) trong kịch bản văn học tiếng Đức.
- Phân lập và mô tả hệ thống phương thức chuyển dịch hàm ý câu hỏi tiếng Đức sang tiếng Việt (chuyển đổi ngữ pháp, chuyển đổi ngữ nghĩa, sử dụng trợ từ/phó từ/liên từ/thán từ, dịch không dùng từ để hỏi).
Đóng góp mới về thực tiễn
- Cung cấp dẫn liệu thực tế về chất lượng và cách xử lý dịch thuật đối với 193 câu hỏi chứa hàm ý qua hai bản dịch tiếng Việt tác phẩm Der Besuch der alten Dame của Friedrich Dürrenmatt.
- Đưa ra mô hình kết hợp giữa phân tích lý thuyết văn bản và điều tra thực nghiệm liên ngôn ngữ (khảo sát chéo giữa độc giả bản ngữ tiếng Đức và độc giả tiếp nhận tiếng Việt qua 60 nghiệm viên) nhằm tăng tính khách quan cho công tác phê bình và đánh giá bản dịch.
- Đóng góp nguồn tư liệu ngữ liệu tham khảo cho công tác biên dịch văn học Đức – Việt và hỗ trợ xây dựng giáo trình, bài giảng cho các học phần Dịch văn học, Phân tích đánh giá bản dịch tại các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với dịch giả văn học Đức – Việt: Cần trang bị tri thức chuyên sâu về ngữ dụng học, nắm bắt các cơ chế tạo hàm ý quy ước qua tiểu từ và cấu trúc câu đặc thù trong tiếng Đức; khi chuyển dịch sang tiếng Việt, cần linh hoạt vận dụng các tiểu từ tình thái, trợ từ và chuyển đổi cấu trúc cú pháp để bảo tồn hàm ý thay vì dịch nguyên văn từng từ.
- Đối với công tác giảng dạy dịch thuật: Cần đưa các nội dung phân tích ngữ dụng học và hàm ý vào chương trình đào tạo biên dịch; áp dụng phương pháp phân tích đối chiếu ngữ cảnh và đánh giá thực nghiệm để nâng cao năng lực cảm thụ văn bản cho người học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án chỉ khảo sát cứ liệu trích xuất từ một tác phẩm kịch bản văn học duy nhất (Der Besuch der alten Dame) của một tác giả người Thụy Sĩ viết bằng tiếng Đức cùng hai bản dịch tiếng Việt. Khối lượng khảo sát thực nghiệm điều tra bằng bảng hỏi mới chỉ thực hiện trên 21 câu hỏi trong tổng số 193 câu hỏi chứa hàm ý của khối liệu.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, đề tài gợi mở việc mở rộng phạm vi khảo cứu sang các thể loại văn bản khác (tiểu thuyết, truyện ngắn, văn bản báo chí, diễn ngôn chính trị) và các cặp tác giả – dịch phẩm khác, đồng thời nâng cao quy mô mẫu nghiệm viên điều tra thực nghiệm để kiểm chứng toàn diện hơn các phương thức chuyển dịch hàm ý giữa hai ngôn ngữ Đức và Việt.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Tham khảo khung lý thuyết đối chiếu ngữ dụng học Đức – Việt tại Chương 1, Chương 2, Chương 3 và phương pháp luận kết hợp thống kê thực nghiệm SPSS trong đánh giá bản dịch tại Chương 4.
- Giảng viên đại học chuyên ngành Ngôn ngữ Đức và Dịch thuật: Sử dụng kết quả phân loại cơ chế tạo hàm ý và phương thức dịch làm học liệu trực tiếp cho các học phần Lý thuyết dịch, Dịch chuyên ngành văn học, Ngữ dụng học đối chiếu và Phân tích phê bình bản dịch.
- Dịch giả và biên tập viên văn học: Tham khảo các phương án xử lý thực tế đối với tiểu từ tình thái, từ trực chỉ và câu hỏi hàm ý được tổng kết qua hai bản dịch của Phạm Thị Hoài và Lê Chu Cầu.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát bao nhiêu câu hỏi trong tác phẩm và quy trình tạo các khối liệu nghiên cứu như thế nào?
Tác giả thiết lập ba khối liệu chính: Khối liệu 1 (KL1) gồm 220 câu hỏi (toàn bộ câu hỏi trong nguyên tác tiếng Đức kèm ngữ cảnh). Sau khi tham vấn Nhóm 1 (chuyên gia người Đức), tác giả sàng lọc ra Khối liệu 2 (KL2) gồm 193 câu hỏi thực sự chứa hàm ý. Khối liệu 3 (KL3) bổ sung phần dịch tiếng Việt tương ứng của Phạm Thị Hoài và Lê Chu Cầu cho 193 câu hỏi này để phân tích phương thức dịch và đánh giá lý thuyết.
2. Mẫu nghiệm viên trong nghiên cứu thực nghiệm được tổ chức ra sao?
Nghiên cứu thực nghiệm khảo sát 60 nghiệm viên (16 nam, 44 nữ, tuổi từ 23 đến 55) chia thành 4 nhóm đồng nhất (mỗi nhóm 15 người): Nhóm 4 gồm giảng viên bản ngữ tiếng Đức/Áo/DAAD; Nhóm 5 gồm sinh viên cao học bản ngữ tiếng Đức; Nhóm 6 gồm giảng viên/nghiên cứu viên người Việt; Nhóm 7 gồm sinh viên cao học người Việt chuyên ngành Ngôn ngữ Đức.
3. Cơ chế tạo hàm ý quy ước trong câu hỏi tiếng Đức gồm những nhóm yếu tố nào?
Bao gồm bốn nhóm cơ chế chính: (1) Các diễn đạt trực chỉ diễn ngôn (tiểu từ denn, doch, nur, liên từ, thán từ, động từ tình thái); (2) Các diễn đạt trực chỉ xã hội (đại từ lịch sự, chức danh xưng hô); (3) Cấu trúc cú pháp (ngữ đồng vị, mệnh đề chêm xen định hướng người nói); (4) Các thực từ chỉ thái độ của người nói (tính từ, danh từ biểu cảm, trạng từ đánh giá).
4. Bốn mức độ đánh giá bản dịch trên phương diện lý thuyết tại Chương 4 là gì?
Toàn bộ 193 câu hỏi trong KL3 được đánh giá theo 4 mức độ: (1) Chuyển dịch được hàm ý; (2) Chuyển dịch một phần hàm ý; (3) Không chuyển dịch được hàm ý; (4) Không dịch hoặc dịch sai.
5. Luận án sử dụng những công cụ nào để xử lý dữ liệu thực nghiệm?
Dữ liệu định lượng từ phiếu điều tra được mã hóa và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS để tính toán tỷ lệ, lập bảng chéo và kiểm tra độ tin cậy; phần mềm Microsoft Excel được dùng để quản lý và tổng hợp các câu trả lời mở của nghiệm viên.
Kết luận
Luận án của Lê Thị Bích Thủy là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh-đối chiếu, giải quyết toàn diện vấn đề chuyển dịch hàm ý trong câu hỏi từ tiếng Đức sang tiếng Việt dựa trên cứ liệu tác phẩm Der Besuch der alten Dame và hai bản dịch tiếng Việt. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích ngữ dụng học với mô hình điều tra thực nghiệm 60 nghiệm viên xử lý qua SPSS, luận án đã làm sáng tỏ các cơ chế tạo hàm ý quy ước, hàm ý hội thoại và hệ thống hóa các phương thức chuyển dịch tương ứng. Kết quả nghiên cứu đóng góp tư liệu khoa học xác thực cho lý luận đối chiếu ngôn ngữ Đức – Việt và mang lại giá trị ứng dụng cụ thể cho công tác đào tạo biên dịch văn học.