Luận Án Tiến Sĩ Nghiên Cứu Phương Thức Chuyển Dịch Hàm Ý Trong Câu Hỏi Từ Tiếng Đức Sang Tiếng Việt

Luận án tiến sĩ văn học phân tích nghiên cứu phương thức chuyển dịch hàm ý trong câu hỏi từ tiếng đức sang tiếng việt dựa trên cứ, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm,

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2020

251
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của luận án

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp và tư liệu nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1. Nghiên cứu về câu hỏi

1.1.2. Nghiên cứu về hàm ý và hàm ý trong câu hỏi

1.1.3. Nghiên cứu về phương thức dịch và phương thức dịch hàm ý

1.1.3.1. Hàm ý và các vấn đề liên quan
1.1.3.2. Câu hỏi có hàm ý trong tiếng Đức
1.1.3.3. Dịch thuật và đánh giá dịch thuật

2. CHƯƠNG 2: HÀM Ý QUY ƯỚC TRONG CÂU HỎI TIẾNG ĐỨC VÀ PHƯƠNG THỨC CHUYỂN DỊCH

2.1. Cơ chế tạo hàm ý quy ước trong câu hỏi tiếng Đức

2.1.1. Các diễn đạt trực chỉ diễn ngôn

2.1.2. Cấu trúc cú pháp

2.1.3. Các thực từ chỉ thái độ của người nói

2.1.4. Các diễn đạt trực chỉ xã hội

2.2. Các loại nghĩa hàm ý quy ước trong câu hỏi tiếng Đức

2.2.1. Kỳ vọng/ gợi ý của người nói đối với người nghe

2.2.2. Thái độ của người nói đối với người nghe/ người thứ ba

2.2.3. Thái độ/ cảm xúc của người nói đối với điều được nói ra

2.3. Phương thức chuyển dịch hàm ý quy ước trong câu hỏi tiếng Đức sang tiếng Việt

2.3.1. Dùng trợ từ/ phó từ/ liên từ/ thán từ

2.3.2. Chuyển đổi ngữ nghĩa

2.3.3. Chuyển đổi ngữ pháp

2.3.4. Dịch câu hỏi không dùng đại từ nghi vấn/ phó từ hoặc tác tử hỏi

3. CHƯƠNG 3: HÀM Ý HỘI THOẠI TRONG CÂU HỎI TIẾNG ĐỨC VÀ PHƯƠNG THỨC CHUYỂN DỊCH

3.1. Cơ chế tạo hàm ý hội thoại trong câu hỏi tiếng Đức

3.1.1. Tuân theo nguyên tắc cộng tác

3.1.2. Vi phạm nguyên tắc cộng tác và phương châm hội thoại

3.2. Phương thức chuyển dịch hàm ý hội thoại trong câu hỏi tiếng Đức sang tiếng Việt

3.2.1. Chuyển đổi ngữ pháp

3.2.2. Dùng trợ từ/ phó từ/ liên từ

3.2.3. Chuyển đổi ngữ nghĩa

4. CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ CÁC PHƯƠNG ÁN CHUYỂN DỊCH HÀM Ý TRONG CÂU HỎI TỪ TIẾNG ĐỨC SANG TIẾNG VIỆT

4.1. Đánh giá bản dịch trên phương diện lí thuyết

4.1.1. Chuyển dịch được hàm ý

4.1.2. Chuyển dịch một phần hàm ý

4.1.3. Không chuyển dịch được hàm ý

4.1.4. Không dịch hoặc dịch sai

4.2. Đánh giá bản dịch theo thực nghiệm điều tra

4.2.1. Đánh giá bản dịch theo tiêu chí hàm ý

4.2.2. Đánh giá bản dịch theo tiêu chí chuẩn mực ngôn ngữ

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu chuyển dịch hàm ý câu hỏi từ tiếng Đức sang tiếng Việt

Nghiên cứu chuyển dịch hàm ý trong câu hỏi từ tiếng Đức sang tiếng Việt là một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học. Hàm ý trong ngôn ngữ không chỉ đơn thuần là thông tin được truyền đạt mà còn bao gồm những ý định, cảm xúc và ngữ cảnh mà người nói muốn gửi gắm. Việc hiểu và chuyển dịch hàm ý này đòi hỏi sự tinh tế và kiến thức sâu rộng về cả hai ngôn ngữ. Luận án này sẽ tập trung vào việc phân tích các phương thức chuyển dịch hàm ý trong câu hỏi từ tiếng Đức sang tiếng Việt, đặc biệt là trong tác phẩm văn học.

1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu hàm ý trong ngôn ngữ

Hàm ý trong ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp. Nó không chỉ giúp người nói truyền đạt thông tin mà còn thể hiện thái độ, cảm xúc và ý định của họ. Việc nghiên cứu hàm ý trong câu hỏi từ tiếng Đức sang tiếng Việt giúp làm rõ những khác biệt văn hóa và ngôn ngữ giữa hai ngôn ngữ này.

1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ của nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định các phương thức chuyển dịch hàm ý trong câu hỏi từ tiếng Đức sang tiếng Việt. Nghiên cứu sẽ tập trung vào việc phân tích các câu hỏi chứa hàm ý trong tác phẩm 'Der Besuch der alten Dame' và đánh giá các bản dịch tiếng Việt.

II. Vấn đề và thách thức trong chuyển dịch hàm ý câu hỏi

Chuyển dịch hàm ý trong câu hỏi từ tiếng Đức sang tiếng Việt gặp nhiều thách thức. Các yếu tố như ngữ cảnh, văn hóa và cấu trúc ngữ pháp khác nhau giữa hai ngôn ngữ có thể gây khó khăn cho người dịch. Việc hiểu rõ hàm ý và ngữ nghĩa của câu hỏi là rất cần thiết để đảm bảo bản dịch chính xác và tự nhiên.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển dịch hàm ý

Yếu tố văn hóa và ngữ cảnh là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc chuyển dịch hàm ý. Người dịch cần phải nắm rõ các quy tắc ngữ pháp và cách sử dụng ngôn ngữ trong từng ngữ cảnh cụ thể để có thể truyền tải chính xác ý nghĩa của câu hỏi.

2.2. Những khó khăn trong việc nhận diện hàm ý

Việc nhận diện hàm ý trong câu hỏi không phải lúc nào cũng dễ dàng. Nhiều khi, hàm ý chỉ được thể hiện qua ngữ điệu hoặc ngữ cảnh, điều này đòi hỏi người dịch phải có khả năng phân tích và hiểu sâu sắc về ngôn ngữ và văn hóa của cả hai bên.

III. Phương pháp chuyển dịch hàm ý trong câu hỏi tiếng Đức

Để chuyển dịch hàm ý trong câu hỏi từ tiếng Đức sang tiếng Việt, có nhiều phương pháp khác nhau được áp dụng. Các phương pháp này bao gồm việc sử dụng trợ từ, chuyển đổi ngữ nghĩa và ngữ pháp. Mỗi phương pháp có những ưu điểm và nhược điểm riêng, và việc lựa chọn phương pháp phù hợp là rất quan trọng.

3.1. Sử dụng trợ từ và phó từ trong chuyển dịch

Trợ từ và phó từ có thể giúp làm rõ hàm ý trong câu hỏi. Việc sử dụng chúng một cách hợp lý có thể giúp người đọc hiểu rõ hơn về ý định của người nói.

3.2. Chuyển đổi ngữ nghĩa và ngữ pháp

Chuyển đổi ngữ nghĩa và ngữ pháp là một trong những phương pháp quan trọng trong việc chuyển dịch hàm ý. Điều này bao gồm việc thay đổi cấu trúc câu để phù hợp với ngữ pháp tiếng Việt mà vẫn giữ nguyên được ý nghĩa của câu hỏi.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu chuyển dịch hàm ý

Nghiên cứu chuyển dịch hàm ý trong câu hỏi không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc dạy và học ngôn ngữ. Việc hiểu rõ hàm ý trong câu hỏi giúp người học có thể giao tiếp hiệu quả hơn và tránh được những hiểu lầm không đáng có.

4.1. Ứng dụng trong giảng dạy ngôn ngữ

Nghiên cứu này có thể được áp dụng trong giảng dạy ngôn ngữ, giúp học viên hiểu rõ hơn về cách sử dụng hàm ý trong giao tiếp hàng ngày. Điều này sẽ nâng cao khả năng giao tiếp và hiểu biết văn hóa cho người học.

4.2. Đánh giá chất lượng bản dịch

Việc đánh giá chất lượng bản dịch cũng là một ứng dụng quan trọng của nghiên cứu này. Các tiêu chí đánh giá có thể được xây dựng dựa trên việc nhận diện và chuyển dịch hàm ý trong câu hỏi.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu chuyển dịch hàm ý trong câu hỏi từ tiếng Đức sang tiếng Việt mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới. Việc tìm hiểu sâu hơn về hàm ý trong ngôn ngữ sẽ giúp cải thiện chất lượng dịch thuật và giảng dạy ngôn ngữ. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều giá trị cho cả lý thuyết và thực tiễn.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc chuyển dịch hàm ý trong câu hỏi từ tiếng Đức sang tiếng Việt là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về cả hai ngôn ngữ và văn hóa.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Các nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng ra nhiều tác phẩm văn học khác và áp dụng các phương pháp nghiên cứu mới để làm rõ hơn về hàm ý trong ngôn ngữ.

23/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN Phần đầu của chương trình bày tổng quan về các vấn đề lý thuyết liên quan tới luận án như nghiên cứu về câu hỏi, về hàm ý, hàm ý trong câu hỏi, về phương thức dịch nói chung và phương thức dịch hàm ý nói riêng. Ở phần tiếp theo, đề tài đi sâu vào những lý thuyết làm cơ sở nghiên cứu. Đó là các loại hàm ý cũng như cơ chế tạo hàm ý, câu hỏi tiếng Đức chứa hàm ý và các vấn đề dịch thuật, đánh giá dịch thuật.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu về câu hỏi Theo Hentschel và Weydt [2013, tr.

376], cùng với câu hỏi, người ta sẽ nêu/ miêu tả điều không chắc chắn liên quan tới việc xác định một nội dung, hoặc nêu/ miêu tả một “lỗ hổng thông tin” đặc biệt. Bình thường, phát ngôn của một câu hỏi cũng đồng thời thể hiện yêu cầu đối với người đối thoại là cung cấp cho ta thông tin còn thiếu. Trong khi đó, Helbig và Buscha [2001, tr. 615] cho rằng câu hỏi được người nói diễn đạt khi không có đủ thông tin về một sự việc và cần người đối thoại cung cấp cho mình thông tin này.

Câu hỏi là lời yêu cầu theo một cách đặc biệt. 56] khẳng định một câu hỏi bao giờ cũng đi liền với câu trả lời. Trong một tình huống hội thoại, khi thiếu thông tin và muốn lấp đầy khoảng trống đó, người nghe sẽ đặt câu hỏi cho người đối diện. Nếu người này đưa ra câu trả lời, có nghĩa là anh ta đã lấp lỗ hổng đó.

Câu trả lời có thể bằng lời hoặc phi lời. Đa số các tác giả phân biệt câu hỏi dựa trên hình thái - cú pháp. Họ chú ý tới vị trí của động từ trong câu, tới sự có mặt của đại từ nghi vấn. Theo đó, hai loại câu hỏi được nhắc tới nhiều nhất là câu hỏi có đại từ nghi vấn và câu hỏi không có đại từ nghi vấn [Conrad, 1978; Engel, 1994/2009; Genzmer, 1995; Zifonun và cộng sự, 1997; Wöllstein-Leisten và cộng sự, 1997; Helbig và Buscha, 2001; Weinrich, 2005; Duden, 2006; Kürschner, 2008; Habermann và cộng sự, 2009; Boetcher, 2009; Hentschel và Weydt, 2013; Eisenberg, 2013].

Câu hỏi có đại từ nghi vấn - thường bắt đầu với một đại từ nghi vấn hoặc một diễn đạt hỏi bao gồm nhiều thành phần, hỏi về một phần của câu (Ví dụ: Wer hat das Haus gekauft? → Ai đã mua ngôi nhà đó?). 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khi đó, câu hỏi không có đại từ nghi vấn - đánh dấu nội dung câu là không chắc chắn và có động từ đứng ở đầu câu (Ví dụ: Kommst du morgen? → Ngày mai anh có đến không?), nhưng cũng có ngoại lệ là câu có hình thức của một câu trần thuật, động từ chia theo ngôi đứng ở vị trí thứ hai, tính nghi vấn thể hiện qua ngữ điệu (Ví dụ: Anna hat ein Haus gekauft? - Ja/ Nein → Anna đã mua một ngôi nhà? - Ừ/ Không). Bên cạnh hai loại câu hỏi trên còn có câu hỏi lựa chọn [Conrad, 1978; Genzmer, 1995; Zifonun và cộng sự, 1997; Helbig và Buscha, 2001; Weinrich, 2005; Kürschner, 2008; Habermann và cộng sự, 2009; Boetcher, 2009; Engel, 2009; Hentschel và Weydt, 2013]. Câu hỏi này thể hiện sự kết hợp giữa hai câu hỏi không có đại từ nghi vấn (Ví dụ: Willst du Honig oder Mamelade? → Em muốn dùng mật ong hay mứt?).

Khi trả lời, người đối thoại sẽ phải chọn một trong các khả năng được đưa ra. Một loại đặc biệt của câu hỏi dạng này là câu hỏi láy lại với nicht wahr, nicht, woll, gell, na, wa v. được gắn vào sau câu trần thuật và là một câu hỏi ở dạng rút gọn có chức năng của một câu hỏi hỏi lại: (Ist es) nicht (so)? (Ist es) nicht wahr? (chẳng phải vậy sao? Chẳng phải thật thế hay sao?). Ngoài cách phân loại câu hỏi theo cấu trúc ngữ pháp, các tác giả cũng rất quan tâm tới chức năng của câu hỏi hay xem xét các hành động ngôn trung khác được tạo ra dưới hình thức câu hỏi.

Theo đó, có câu hỏi mà người nghe muốn kiểm tra xem mình đã hiểu thông tin nhận được đúng hay chưa [Engel, 1994/ 2009; Zifonun và cộng sự, 1997], câu hỏi kiểm tra, câu hỏi ngờ vực/ câu hỏi tự vấn [Zifonun và cộng sự, 1997], câu hỏi xác nhận thông tin [Zifonun và cộng sự, 1997; Helbig và Buscha, 2001; Weinrich, 2005], câu hỏi vọng [Meibauer, 1987; Wöllstein-Leinstein và cộng sự, 1997; Duden, 2006], câu hỏi tu từ [Genzmer, 1995; Zifonun và cộng sự, 1997; Hentschel và Weydt, 2013] và câu hỏi vặn lại [Engel, 2009]. Đa số các câu hỏi trên đều thấy trong nghiên cứu của Boettcher [2009, tr. Cho rằng câu hỏi thường được định nghĩa trong sự so sánh đối chiếu với lời khẳng định, trong đó, nó ở dạng trung lập giữa hai cực “khẳng định” và “phủ định”, Confais [1995, tr. 1-5] đã đưa ra một bảng so sánh giữa điều khẳng định và điều được hỏi.

Theo đó có các loại câu hỏi: 1) Câu hỏi lấy thông tin (Ví dụ: Ist Peter krank? → Peter 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bị ốm à?), 2) Câu hỏi thể hiện sự ngạc nhiên (Ví dụ: Bist du noch nicht angezogen?/ Du bist noch nicht angezogen? → Con còn chưa mặc quần áo hay sao?), 3) Câu hỏi kêu gọi (chủ yếu là hỏi để yêu cầu) (Ví dụ: Gehst du jetzt ins Bett? → Bây giờ con đi ngủ chứ?). Thực ra, trong danh sách các câu hỏi trên, chỉ có câu hỏi lấy thông tin thực sự có ngôn trung là hỏi, còn những loại câu hỏi khác đều liên quan tới một hành động nói gián tiếp, nghĩa là thông qua hình thức câu hỏi, người nói muốn truyền đi một ý định khác. Nói cách khác, những câu hỏi đó chứa đựng hàm ý bên trong. Cho tới nay, câu hỏi không còn là đề tài xa lạ với các nhà nghiên cứu Việt Nam.

Loại câu này xuất hiện trong nhiều cuốn sách ngữ pháp tiếng Việt của Hoàng Trọng Phiến [1980]; Hữu Đạt và cộng sự [1998], Cao Xuân Hạo [2005], Diệp Quang Ban [2011; 2013], v. Nhiều công trình nghiên cứu, luận văn, luận án nghiên cứu sâu về câu hỏi trong tiếng Việt: Nguyễn Thị Thìn [1994], Nguyễn Thị Lương [1996], Lê Đông [1996], Nguyễn Thị Thanh Hương [2005], Lê Thị Thu Hoài [2013], v. Ngoài ra, cũng có nhiều đề tài so sánh đối chiếu câu hỏi trong tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng Pháp như: Trần Chi Mai [2000], Võ Đại Quang [2000], Nguyễn Việt Tiến [2002], Nguyễn Đăng Sửu [2002; 2010], Đỗ Quang Việt [2008; 2009], Đinh Thị Ánh Tuyết [2010], v., công trình nghiên cứu về hành động hỏi dựa trên tư liệu tiếng Hàn và tiếng Việt của Hoàng Thị Yến [2018]. Nhiều bài báo đề cập tới việc so sánh-đối chiếu câu hỏi tiếng Việt với các ngôn ngữ khác, ví dụ: đối chiếu câu nghi vấn không đích thực trong tiếng Anh với tiếng Việt [Nguyễn Đăng Sửu, 2001], phân tích đối chiếu câu hỏi lấy thông tin trong tiếng Anh và tiếng Việt để chỉ ra tương đồng và dị biệt [Nguyễn Đăng Sửu, 2008], phân tích các câu hỏi phi chính danh trong các đoạn thoại tiếng Anh [Tô Minh Thanh, 2012], nghiên cứu quan hệ giữa tính nghi vấn với hành động ngôn ngữ trong câu hỏi dựa trên cứ liệu tiếng Hàn và tiếng Việt [Hoàng Thị Yến, 2013] và phân tích các dạng câu hỏi xuất hiện trong tiêu đề của báo chí Nga [Vũ Thị Chín, 2018], v.

Về câu hỏi trong tiếng Việt có các bài nghiên cứu về chức năng thực hiện hành vi hỏi của từ loại tiếng Việt của Bùi Minh Toán [1996], cấu trúc thông báo của câu trả lời trực tiếp cho câu hỏi chính danh của Nguyễn Thị Thúy [2000], giới thiệu một số hình thức hỏi để thể hiện tính cảm thán của Nguyễn Thị 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hồng Ngọc [2003], khảo sát sự im lặng như một cách trả lời cho câu hỏi chính danh trong các tác phẩm văn học của Lê Anh Xuân [2006], Phạm Thị Như Hoa [2010], nghiên cứu “Sự linh hoạt của tiêu điểm trong câu hỏi” của Nguyễn Thị Mai [2011], khảo sát hành vi hỏi - đề nghị trong ca dao tiếng Việt của Nguyễn Thị Hài [2015] và câu hỏi tu từ của Lê Thị Thu Hoài [2011; 2012; 2016], v. Tuy nhiên, theo những tài liệu thu thập được thì cho tới nay, chưa có công trình nghiên cứu nào so sánh-đối chiếu một cách hệ thống câu hỏi trong tiếng Đức và tiếng Việt ngoại trừ luận văn của Nguyễn Thị Thủy [2017]. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy cả hai ngôn ngữ đều có câu hỏi có/ không có đại từ nghi vấn, có câu hỏi xác nhận thông tin, câu hỏi lựa chọn, câu hỏi tu từ, câu hỏi gián tiếp và câu hỏi dùng ngữ điệu; các chức năng giao tiếp của câu hỏi như lấy thông tin, khuyên, yêu cầu, cho phép, phê phán, thể hiện cảm xúc đều xuất hiện trong hai ngôn ngữ. Tuy nhiên, vị trí của đại từ nghi vấn và động từ trong câu hỏi tiếng Việt và tiếng Đức lại khác nhau; tiểu từ tình thái không có vai trò gì trong câu hỏi tiếng Đức nhưng lại là một trong những phương tiện quan trọng nhất để xác định câu hỏi trong tiếng Việt.

Theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, Cao Xuân Hạo [2005, tr. 392] cho rằng câu hỏi của tiếng Việt có giá trị hỏi là giá trị ngôn trung trực tiếp hoặc giá trị ngôn trung phái sinh. Câu hỏi có giá trị ngôn trung trực tiếp là câu hỏi chính danh. Loại câu hỏi này được Cao Xuân Hạo [2007, tr.

497-505] chia thành bốn tiểu loại là câu hỏi có-không (câu hỏi tổng quát) (Ví dụ: Lan có đến không?), câu hỏi chuyên biệt (dùng đại từ nghi vấn) (Ví dụ: Ai sẽ lái xe?), câu hỏi lựa chọn (câu hỏi song tuyển) (Ví dụ: Anh đi xe đạp hay đi xe máy) và câu hỏi dùng tiểu tố tình thái (như: à, ư, nhỉ, nhé) (Ví dụ: Cậu không tin tớ à?). Khi phân loại câu theo mục đích phát ngôn, một số tác giả khác như Hoàng Trọng Phiến [1980, tr. 344-360], Nguyễn Thiện Giáp và cộng sự [2003, tr. 274], Nguyễn Thiện Giáp [2004] và Diệp Quang Ban [2008] tuy phân loại và gọi tên các loại câu hỏi có phần hơi khác, song về cơ bản có thể quy về bốn loại trên của Cao Xuân Hạo.

Câu hỏi có giá trị ngôn trung phái sinh (như phủ định, khẳng định, tỏ ý ngờ vực, thách thức, v.) được Lê Quang Thiêm [2004, tr. 222] gọi là câu hỏi phi chính danh. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhiều khi, chính giá trị ngôn trung phái sinh này mới là mục đích duy nhất của phát ngôn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ