CHƯƠNG 1: CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1.1 KHÁI QUÁT VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1.1 Cơ cấu kinh tế 1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế Cơ cấu là một phạm trù triết học dùng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành hệ thống. Cơ cấu được biểu hiện như một tập hợp những mối liên hệ hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định, nó biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng, nó biến đổi cùng sự biến đổi của sự vật, hiện tượng. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành”. [9] Theo Giáo trình Kinh tế chính trị - Mác Lê nin: “Cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là cấu tạo hay cấu trúc của nền kinh tế bao gồm các ngành kinh tế, các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế,.
và mối quan hệ hữu cơ giữa chúng”.[8] Theo Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì cơ cấu kinh tế là nội dung, cách thức liên kết, phối hợp giữa các phần tử cấu thành hệ thống kinh tế; biểu hiện quan hệ tỷ lệ cả về mặt lượng và chất của các phần tử hợp thành hệ thống. nói cách khác cơ cấu kinh tế được hiểu là cách thức kết cấu của các phần tử cơ cấu tạo nên hệ thống kinh tế. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Lê Sỹ Thiệp (Học viện Hành chính Quốc gia): “Cơ cấu kinh tế là thành phần cấu tạo và cơ chế vận hành của một tổ chức kinh tế, trong đó tổ chức kinh tế có thể là toàn cầu, khu vực, khối, quốc gia, tổng công ty, doanh nghiệp,. tùy theo đối tượng nghiên cứu”.[17] 6 Nghiên cứu trên phương diện kinh tế, cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế, một khái niệm phản ánh cấu trúc bên trong của nền kinh tế.
Hiểu một cách đầy đủ thì: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố, các bộ phận hợp thành nền kinh tế mà giữa chúng luôn có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, thường xuyên vận động trong những điều kiện tự nhiên, xã hội cụ thể gắn với không gian, thời gian nhất định được thể hiện cả về định tính lẫn định lượng, phù hợp với xu hướng vận động và phát triển của nền kinh tế.2 Phân loại cơ cấu kinh tế Nền kinh tế quốc dân dưới giác độ cấu trúc là sự đan xen của nhiều cơ cấu khác nhau, có mối quan hệ chi phối lẫn nhau trong quá trình phát triển kinh tế. Cơ cấu kinh tế của một quốc gia có thể được xác định theo nhiều tiêu chí khác nhau; dựa theo tiêu chí ngành thì có cơ cấu ngành kinh tế, theo tiêu chí vùng - địa giới hành chính thì có cơ cấu vùng kinh tế, hoặc cũng có thể là cơ cấu thành phần kinh tế theo tiêu chí về các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. - Cơ cấu ngành kinh tế: Là tổ hợp các ngành, hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành, ở một khía cạnh nào đó, phản ánh trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Bao gồm các nhóm ngành chính, đó là: Nhóm ngành nông nghiệp, nhóm ngành công nghiệp, nhóm ngành dịch vụ. Cơ cấu ngành kinh tế là bộ phận cơ bản và quan trọng cấu thành nên nền kinh tế, nó là nòng cốt của chiến lược phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá và dần chuyển sang nền kinh tế tri thức. - Cơ cấu vùng kinh tế: Nếu cơ cấu ngành hình thành từ quá trình chuyên môn hoá sản xuất, thì cơ cấu lãnh thổ hình thành từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý. Cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu ngành thực chất là hai mặt của cùng một vấn đề, của một thể thống nhất, bản chất là sự phân công lao động xã hội.
Cơ cấu lãnh thổ hình thành gắn liền với cơ cấu ngành và thống nhất trong vùng kinh tế. Trong cơ cấu lãnh thổ, có sự biểu hiện của cơ cấu ngành trong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ đó. Xu hướng phát triển kinh tế lãnh thổ thường là sự phát triển nhiều 7 mặt, tổng hợp, có ưu tiên một vài ngành và hình thành sự phân bố dân cư phù hợp với phát triển kinh tế. Cơ cấu kinh tế vùng có các đặc trưng khác với cơ cấu lãnh thổ quốc gia; đó là tính không toàn diện và không đồng bộ như cơ cấu kinh tế một quốc gia; nó phản ánh thế mạnh đặc thù của mỗi vùng, đó là sản xuất chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp và các vùng sẽ hình thành cơ cấu kinh tế khác nhau.
Cơ cấu vùng lãnh thổ có tính trì trệ hơn so với cơ cấu ngành, lĩnh vực và thành phần kinh tế vì nó chịu sự tác động của nhiều nhân tố. Do đó, những sai lầm, khuyết điểm trong việc bố trí cơ cấu lãnh thổ sẽ ảnh hưởng lâu dài đến phát triển kinh tế. Khi nghiên cứu cơ cấu vùng lãnh thổ, cần chú ý đến các loại vùng lãnh thổ khác nhau. Nếu lãnh thổ hàm ý chỉ một quốc gia, có chủ quyền, mang tính độc lập tự chủ về chính trị, do đó chi phối quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thì vùng lãnh thổ có tính chất hẹp hơn.
Vùng lãnh thổ là một bộ phận của quốc gia. Vùng lãnh thổ được phân chia hoặc được hình thành trên cơ sở những yếu tố tự nhiên, xã hội, lịch sử và truyền thống đặc thù. Tùy theo cách phân loại theo đặc trưng nào là thuộc tính trội ta sẽ có được các loại vùng lãnh thổ khác nhau. Chẳng hạn như vùng lãnh thổ được hình thành theo đặc điểm điều kiện tự nhiên; vùng lãnh thổ hình thành theo dịa giới hành chính; vùng lãnh thổ hình thành theo yếu tố khí hậu thời tiết.
Trong thực tiễn cũng như lý luận có hai loại vùng lãnh thổ cần đặc biệt chú ý nghiên cứu trên giác độ cơ cấu kinh tế: đó là vùng lãnh thổ hình thành theo đặc điểm tự nhiên và vùng lãnh thổ hành chính. Vùng lãnh thổ hành chính (gọi tắt là vùng hành chính hay địa phương) là vùng lãnh thổ mà ranh giới của vùng được xác định cụ thể, trùng với ranh giới hành chính được pháp luật quy định. Ở Việt Nam, vùng hành chính được hiểu như tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, huyện hoặc quận, xã (phường, thị trấn). Ngoài ra, một số vùng lãnh thổ khác có ranh giới có thể trùng với ranh giới hành chính như Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (gồm 8 tỉnh Thành phố), Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (gồm 8 tỉnh Thành phố), Vùng trọng điểm phía Nam vv.Giống như nền kinh tế, trong vùng hành chính lại có cơ cấu kinh tế của chính mình.
Cơ cấu kinh tế của vùng hành chính cũng được nghiên cứu bao gồm nhiều nội dung theo các mục tiêu 8 nghiên cứu đánh giá khác nhau. Nhưng về cơ bản, cơ cấu kinh tế trong vùng hành chính chủ yếu là cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần kinh tế. Tuy nhiên, các loại cơ cấu này, có những đặc điểm riêng tùy theo điều kiện cụ thể của từng vùng hành chính với các cấp độ khác nhau. Chẳng hạn, trong cơ cấu ngành, tùy theo từng địa phương mà cơ cấu ngành có thể là Công nghiệp - Nông nghiệp - Dịch vụ hay là Nông nghiệp - Công nghiệp.
Không nhất thiết địa phương nào cũng có cơ cấu ngành đầy đủ cả 3 khu vực; cũng không phải địa phương nào Công nghiệp cũng là ngành ưu tiên hàng đầu. Tương tự, cơ cấu vùng và cơ cấu thành phần cũng có đặc điểm như cơ cấu ngành. Tùy theo quy mô, diện tích, đặc điểm tự nhiên, xã hội mà có địa phương phân nhiều tiểu vùng, có địa phương không có; có địa phương có đầy đủ các thành phần kinh tế, nhưng có địa phương chỉ có một số thành phần kinh tế nào đó mà thôi. Khái niệm địa phương lại bao gồm các cấp độ khác nhau là tỉnh, huyện, xã.
Cơ cấu kinh tế địa phương hiện nay được đặt ra chủ yếu đối với cấp tỉnh và cấp huyện. Còn cấp xã, do quy mô diện tích nhỏ và các yếu tố khác, chủ yếu xem xét cơ cấu sản xuất để phục vụ cơ cấu kinh tế của cấp huyện và tỉnh. Tổng quan lại, cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần trong vùng hành chính có thể chỉ bao gồm một số nội dung, phù hợp với điều kiện, bước đi của mình nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong phát triển. Cơ cấu vùng hành chính không đòi hỏi thực hiện nhiệm vụ toàn diện của quốc gia, đặc biệt là vấn đề độc lập, cân đối bảo đảm nền kinh tế phát triển tự chủ.
Do đó trong chiến lược phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các địa phương có thể lựa chọn rộng rãi hơn, linh hoạt hơn, đặc biệt là có thể lựa chọn mô hình các cực tăng trưởng, tăng trưởng không cân đối nhằm tạo sự phát triển đột phá của mỗi vùng. - Cơ cấu thành phần kinh tế: Chế độ sở hữu lại tạo ra cơ cấu thành phần. Một cơ cấu thành phần hợp lý, phải là một chế độ sở hữu thúc đẩy sự phát triển của lực lưuợng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội theo hướng đem lại hiệu quả cao hơn, làm cho người sản xuất năng động hơn. Theo nghĩa đó, cơ cấu thành phần cũng là một nhân tố tác động ảnh hưởng đến cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ, và cũng là một nội dung quan trọng trong cơ cấu kinh tế, đặc biệt là Việt Nam - một nền 9 kinh tế đang phát triển trên cơ sở thừa nhận và phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế.
Hiện nay, chúng ta đang xác định có 6 thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Đó là: Kinh tế Nhà nước, Kinh tế tập thể, Kinh tế cá thể và tiểu chủ, Kinh tế Tư bản tư nhân, Kinh tế Tư bản Nhà nước, Kinh tế có vốn Đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế này có mối quan hệ đan xen lẫn nhau và chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước.