CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH 1. Những vấn đề chung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 1. Khái niệm về cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế ngành 1. Cơ cấu kinh tế - Khái niệm cơ cấu kinh tế Để phân tích khái niệm "cơ cấu kinh tế", trước hết cần làm rõ khái niệm "cơ cấu".
Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng thì cơ cấu hay kết cấu là một phạm trù phản ánh cấu trúc bên trong của một đối tượng, là tập hợp những liên hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa các bộ phận cấu thành nên đối tượng đó trong một thời gian nhất định. Từ khái niệm "cơ cấu" vận dụng vào đối tượng là nền kinh tế quốc dân của một quốc gia, ta có thuật ngữ "cơ cấu kinh tế", cho đến nay đã có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm "cơ cấu kinh tế" do đó thuật ngữ này có nhiều cách tiếp cận khác nhau: Theo quan điểm của Mác, cơ cấu kinh tế của một xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình sản xuất nhất định của lực lượng sản xuất vật chất, cơ cấu là một sự phân chia về chất và tỷ lệ số lượng của những quá trình sản xuất xã hội. Các Mác cho rằng: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy cũng hợp thành cơ cấu kinh tế xã hội” [1,6].
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Cơ cấu kinh tế là tổng hợp các ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định giữa chúng hợp thành một khoảng thời gian nhất định”. 6 Theo giáo trình Kinh tế chính trị Mác Lênin: “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành, cùng với vị trí tương quan và quan hệ tương tác phù hợp giữa các bộ phận trong hệ thống kinh tế quốc dân” [10]. Từ những quan niệm về cơ cấu kinh tế nói trên có thể hiểu khái quát: “Cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế, nó bao gồm tổng thể các bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân trong quá trình tái sản xuất xã hội như các ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ), các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế. Các bộ phận này gắn bó với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội cao.
Ở mỗi vùng, mỗi ngành lại có cơ cấu riêng của nó phụ thuộc vào những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cụ thể”[12;6]. Trong tiếp cận cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải xem xét các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, trong trạng thái có tính tương đối ổn định, lịch sử cụ thể, phát triển theo đúng các quy luật khách quan, nhất là mối quan hệ chứa đựng trong đó quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Chính tính tương đối ổn định này làm cho cơ cấu kinh tế biến đổi trong giới hạn cho phép, mà nếu vượt qua giới hạn đó, hệ thống kinh tế xã hội chuyển sang loại hình cơ cấu khác. Từ sự phân tích trên có thể rút ra những khía cạnh không thể thiếu được khi tiếp cận khái niệm cơ cấu kinh tế, đó là: + Cơ cấu kinh tế bao gồm các bộ phận cấu thành mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất diễn ra thông qua mối quan hệ kinh tế giữa các ngành và nội bộ ngành, giữa các vùng kinh tế và giữa các thành phần kinh tế với nhau.
+ Cơ cấu kinh tế được xem xét trên cả hai mặt định tính và định lượng của từng yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. + Cơ cấu kinh tế được xem xét trong điều kiện lịch sử của mỗi nước, mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi ngành trong từng thời kỳ nhất định. + Gắn mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội được xác định trong từng thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa 7 Từ đó có thể rút ra khái niệm cơ cấu kinh tế như sau: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các quan hệ kinh tế hay các bộ phận hợp thành nền kinh tế gắn với trình độ công nghệ, quy mô, tỷ trọng tương ứng với tính chất của mối quan hệ tương tác giữa tất cả các bộ phận; gắn với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định; nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã được xác định trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. - Cơ cấu kinh tế có các đặc trưng chủ yếu sau + Thứ nhất, cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, phản ánh và chịu sự tác động của quy luật khách quan.
Vai trò của yếu tố chủ quan là thông qua nhận thức ngày càng sâu sắc những quy luật đó, phân tích đánh giá những xu hướng phát triển khác nhau, thậm chí mâu thuẩn để tìm ra những phương án thay đổi cơ cấu cho phù hợp với những điều kiện cụ thể của đất nước, cũng như của từng địa phương, từng vùng, từng ngành trong qúa trình phát triển kinh tế. Đối với một quốc gia hay một ngành, một địa phương cơ cấu kinh tế được nhận thức và phản ánh ở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, ở các chương trình, dự án, kế hoạch phát triển của Nhà nước, của ngành hay của địa phương. + Thứ hai, CCKT mang tính lịch sử xã hội. Thực tế cho thấy, nền kinh tế chỉ có thể phát triển khi giữa các bộ phận của quá trình tái sản xuất xã hội xác lập được những quan hệ tỷ lệ cân đối nhất định của phân công lao động xã hội.
Giữa các nền sản xuất, những yêu cầu về số lượng, về chất lượng, cách thức thực hiện, những tỷ lệ cân đối là khác nhau, sự khác nhau ấy là do quy luật kinh tế đặc thù quy định, do điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau qui định. CCKT gắn liền với sự biến đổi không ngừng của bản thân các yếu tố, các bộ phận trong nền kinh tế và những mối quan hệ giữa chúng. Chỉ khi nào giải quyết tốt, hợp lý những vấn đề đó thì toàn bộ quá trình tái sản xuất mới diễn ra trôi chảy và đem lại hiệu quả cao. + Thứ ba, CCKT luôn luôn vận động và phát triển theo chiều hướng ngày càng hợp lý, hoàn thiện và đạt hiệu quả cao.
Đó là sự vận động và phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội ngày càng ở trình độ cao, phạm vi ngày càng mở rộng hơn. Khi những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ tác 8 động làm cho lực lượng sản xuất và cấu trúc của nó có sự nhảy vọt về chất, tạo điều kiện cho con người có ý thức để thực hiện có hiệu quả chiến lược phát triển đồng bộ, hợp lý trong quá trình tái sản xuất xã hội ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể. + Thứ tư, cơ cấu kinh tế vận động theo hướng ngày càng tăng cường mở rộng sự hợp tác, phân công lao động trong nước và quốc tế. Trong nền kinh tế thị trường, sự vận động khách quan của cơ cấu kinh tế theo hướng mở rộng sự hợp tác và phân công lao động diễn ra không chỉ ở trong phạm vi mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi quốc gia mà còn mở rộng ra các nước trong khu vực và trên thế giới.
Do đó, mỗi quốc gia muốn phát triển nhanh cần xác định được cơ cấu kinh tế trên cơ sở lợi thế của mình gắn với thị trường trong nước và quốc tế, nhằm tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý, thúc đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa nền kinh tế quốc dân. - Cơ cấu kinh tế được xem xét dưới các góc độ sau + Cơ cấu kinh tế ngành: Cơ cấu kinh tế ngành là cơ cấu thể hiện sự phân công lao động giữa các ngành, như giữa nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ. Trong mỗi ngành lại phân chia thành các ngành nhỏ hơn và có cơ cấu nhất định, cơ cấu nhỏ nằm trong cơ cấu lớn. Các loại cơ cấu đó tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển.
Xu hướng vận động của cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ trên hai phương diện chủ yếu là giá trị sản xuất và lực lượng lao động xã hội. Cơ cấu kinh tế ngành có vai trò cực kỳ quan trọng, là trụ cột quyết định các hình thức cơ cấu kinh tế khác. + Cơ cấu kinh tế vùng: Cơ cấu kinh tế vùng thể hiện sự phân công lao động lãnh thổ với lợi thế và điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng mà hình thành các vùng kinh tế theo hướng sản xuất chuyên môn hóa, đa dạng hóa nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực và tiềm năng kinh tế trong vùng, tạo ra sự phát triển nhanh và bền vững. Xu hướng vận động của cơ cấu kinh tế vùng là phát triển theo hướng tăng cường sự hợp tác, liên kết giữa các vùng, làm cho mỗi vùng đều có cơ cấu kinh tế 9 hợp lý, tạo điều kiện cho các vùng đều phát triển, giảm sự chênh lệch trong phát triển giữa các vùng.
+ Cơ cấu các thành phần kinh tế: Cơ cấu các thành phần kinh tế là cơ cấu giữa các thành phần kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể tiểu thủ và kinh tế tư bản tư nhân. Trong điều kiện của nước ta, xu hướng vận động của các thành phần kinh tế là phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước. Trong kinh tế Nhà nước thì trước hết là các doanh nghiệp Nhà nước cần tiếp tục đổi mới, sắp xếp lại để thực sự giữ vai trò nòng cốt trong nền kinh tế quốc dân.