đặt vấn đề phát triển một cơ cấu không cân đối và mở cửa ra bên ngoài của lý thuyết này là chấp nhận sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế, mà thường thì các quốc gia chậm phát triển chịu nhiều thiệt thòi hơn cho nên lúc đầu lý thuyết này không được các nước đang phát triển theo mô hình công nghiệp hóa hướng nội và phát triển cân đối quan tâm, nhưng càng về sau, lý thuyết này càng được thừa nhận rộng rãi, nhất là từ sau sự thành công của các nước công nghiệp hóa mới (NICs). Từ thập niên 1980 trở lại đây, lý thuyết này đã được nhiều nước đang phát triển áp dụng với mô hình công nghiệp hóa mở cửa và hướng ngoại. Các cấp độ của chuyển dịch cơ cấu kinh tế Lịch sử phát triển của kinh tế thế giới đã cho thấy quá trình phát triển kinh tế cũng đồng nghĩa với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến lên một nền kinh tế công nghiệp hóa và dần chuyển sang một nền kinh tế mà trong đó dịch vụ đóng vai trò quan trọng nhất hay còn gọi là một nền kinh tế đã phát triển. Theo Moise Syrquin, chuyển dịch cơ cấu kinh tế gồm ba giai đoạn: (1) sản xuất nông nghiệp, (2) công nghiệp hóa, và (3) nền kinh tế phát triển (Nguyễn Thị Hà, 2010).
Giai đoạn 1: có đặc trưng chính là sự thống trị của các hoạt động của khu vực khai thác, đặc biệt là nông nghiệp, như là nguồn lực chính trong việc gia tăng sản lượng của các hàng hóa khả thương. Mặc dù khu vực khai thác thông thường có tốc độ tăng trưởng chậm hơn khu vực chế biến nhưng ở mức thu nhập bình quân đầu người thấp, thì sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng đó được bù trừ hoàn toàn bởi nhu cầu hạn chế về các mặt hàng công nghiệp chế biến. Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng kinh tế chung khá chậm mà một trong những nguyên nhân chính là do tỷ 11 trọng tương đối cao của khu vực nông nghiệp trong tổng giá trị gia tăng (hay GDP). Nếu xét ở mặt cung, thì trong giai đoạn 1 có những đặc trưng chính là tỷ lệ tích lũy tư bản còn khiêm tốn nên tỷ lệ đầu tư thấp, tốc độ tăng trưởng cao của lực lượng lao động, và tốc độ tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) rất thấp, và nhân tố sau cùng này tác động mạnh đến tốc độ tăng trưởng kinh tế chung hơn là yếu tố tỷ lệ đầu tư thấp.
Giai đoạn 2 (giai đoạn công nghiệp hóa): có đặc điểm nổi bật là tầm quan trọng trong nền kinh tế đã được chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực chế biến và chỉ tiêu chính để đo lường sự dịch chuyển này là tầm quan trọng của khu vực chế biến trong đóng góp và tăng trưởng kinh tế chung ngày càng tăng lên. Sự dịch chuyển này xuất hiện ở các nước có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn hay thấp hơn, phụ thuộc vào yếu tố nguồn tài nguyên sẵn có cũng như chính sách ngoại thương của các nước đó. Xét ở mặt cung, sự đóng góp vào tăng trưởng của nhân tố tích lũy tư bản vẫn được giữ ở mức cao trong hầu hết giai đoạn 2 do có sự gia tăng mạnh của tỷ lệ đầu tư. Giai đoạn 3 (nền kinh tế phát triển): sự chuyển tiếp từ giai đoạn 2 sang giai đoạn 3 có thể được hiểu theo nhiều cách.
Nếu xét về mặt cầu, thì trong giai đoạn này độ co giãn theo thu nhập của hàng công nghiệp chế biến đã giảm đi; và ở một thời điểm nào đó, tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong cơ cấu nhu cầu nội địa bắt đầu giảm xuống. Mặc dù xu hướng này có thể bị lấn át ở một giai đoạn nào đó bởi xuất khẩu vẫn tiếp tục gia tăng ở mức cao, nhưng cuối cùng nó đều được phản ảnh qua việc giảm sút tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong cơ cấu GDP hay trong cơ cấu lực lượng lao động. Khu vực dịch vụ trở thành khu vực quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP cũng như cơ cấu lao động. Sự thay đổi này xuất hiện rất rõ ràng ở tất cả các nước công nghiệp phát triển trong suốt 20 năm qua.
Ở mặt cung, sự khác biệt chủ yếu giữa giai đoạn 2 và giai đoạn 3 là sự suy giảm trong đóng góp vào tăng trưởng của cả hai nhân tố sản xuất tư bản và lao động theo cách tính qui ước. Ðóng góp vào tăng trưởng của nhân tố tư bản (vốn) giảm xuống bởi cả hai yếu tố tốc độ tăng trưởng chậm hơn và tỷ trọng ngày càng thấp hơn. Hơn nữa, vì có sự suy giảm trong tốc độ gia tăng dân số, chỉ có một vài nước phát triển là có sự gia tăng đáng kể trong lực lượng lao động. Như vậy, trong giai 12 đoạn này, nhân tố đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng là nhân tố năng suất các nhân tố tổng hợp.
Ở những nước phát triển hơn, tăng trưởng TFP có tác động lan tỏa đến toàn nền kinh tế rộng lớn hơn so với trong giai đoạn 2. Thay đổi dễ nhận thấy nhất là trong khu vực nông nghiệp, mà đã từ khu vực có tăng trưởng năng suất thấp trở thành khu vực có năng suất lao động cao nhất trong hầu hết các nền kinh tế phát triển (đơn cử một ví dụ là ở Mỹ, dân số lao động trong nông nghiệp chỉ chiếm 1% tổng dân số lao động nhưng có thể cung cấp đủ lương thực cho cả nước). Nguyên nhân nội tại là do sự tiếp tục dịch chuyển của lao động từ nông nghiệp sang các khu vực khác và chênh lệch về tiền lương giữa khu vực nông nghiệp và các khu vực khác ngày càng được thu hẹp lại, mà đã thúc đẩy sự thay thế của tư bản cho lao động cũng như đẩy mạnh những cải tiến về công nghệ. Tăng trƣởng kinh tế 2.
Khái niệm tăng trƣởng kinh tế Trong thế kỉ XX, từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 đến nửa đầu những năm 1970, bối cảnh kinh tế của các nước Âu – Mỹ tăng trưởng nhanh và liên tục, lý thuyết tăng trưởng kinh tế bắt đầu được đề cập, nghiên cứu và phát triển. Tăng trưởng kinh tế được coi là mục tiêu hàng đầu cho tất cả các quốc gia trong quá trình phát triển. Suốt một thời gian dài, hầu hết các nước đều tập trung mọi nguồn lực phục vụ tăng trưởng kinh tế thông qua tăng tích lũy tài sản, vốn vật chất, thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, khai thác tài nguyên thiên nhiên. Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triển kinh tế.
Việc nghiên cứu tăng trưởng kinh tế ngày càng có hệ thống và hoàn thiện hơn. Nhận thức đúng đắn về tăng trưởng kinh tế và sử dụng có hiệu quả những kinh nghiệm về nghiên cứu, hoạch định chính sách tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng. Các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng, tăng trưởng kinh tế trước hết là một vấn đề kinh tế, song nó mang tính chính trị, xã hội sâu sắc. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới, là điều kiện và cũng là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của mỗi quốc gia.
Theo Douglas North và Robert Paul Thomas, tăng trưởng xảy ra khi sản lượng gia tăng nhanh hơn gia tăng dân số. 13 Theo David Begg và cộng sự (2008), "Tăng trưởng kinh tế là tỷ lệ thay đổi thu nhập thực tế hoặc sản lượng thực tế". Vì thế, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thực tế của tổng sản phẩm quốc nội GDP (Gross Domestic Product); tổng sản phẩm quốc dân GNP (Gross National Product) hay tổng sản phẩm quốc dân ròng NNP (Net National Product) trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Đề tài sử dụng chỉ tiêu GDP để làm thước đo chính cho tăng trưởng kinh tế.
Theo Simon Kuznets (Nguyễn Trọng Hoài, 2010), tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng một cách bền vững về sản lượng bình quân đầu người hay sản lượng trên mỗi công nhân. Theo Phan Thúc Huân (2007), tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm hoặc sự gia tăng về quy mô sản lượng của một nền kinh tế trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế là tỉ lệ tăng trưởng sản lượng thực tế, là kết quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ của một nền kinh tế tạo ra. Sự tăng trưởng kinh tế được so sánh với các năm gốc kế tiếp nhau được gọi là tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế được biểu hiện bằng sự tăng lên của các chỉ tiêu GNI, NNP, GDP hoặc sự tăng lên theo đầu người của các chỉ tiêu này như: GNI/ đầu người, NNP/ đầu người, GDP/ đầu người, và cách thứ hai này thề hiện sự tăng trưởng mức sống của một quốc gia. Theo Nguyễn Trọng Hoài (2007), tổng sản phẩm trong nước là chỉ tiêu phồ biến được dùng để phản ảnh tình hình hoạt động của nền kinh tế. GDP được định nghĩa là giá trị của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra hay sản xuất trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong một thời gian nhất định (thường là một năm). GDP cỏ thể tính bằng 3 phương pháp: tổng giá trị gia tăng của các ngành trong nền kinh tế; tổng các khoản chi tiêu hàng hóa dịch vụ cuối cùng; thu nhập gộp của các yếu tố sản xuất trong nền kinh tế được huy đông trong quá trình sản xuất (tính theo giá thị trường), GDP cũng bao gồm luôn thuế gián thu.
Tóm lại, tăng trưởng kinh tế là quá trình thay đổi để tạo ra sản lượng thực bình quân đầu người (tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân số hay còn gọi là GDP đầu người) cao hơn trong một khoảng thời gian nhất định, trong đó, sản lượng bao gồm cả hàng hóa và dịch vụ, giúp gia tăng phúc lợi xã hội của con người. Tăng trưởng kinh tế có thể biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) 14 hoặc số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng). Trong phân tích kinh tế, để phản ánh mức độ mở rộng quy mô của nền kinh tế, người ta thường dùng khái niệm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đó là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng tăng thêm của thời kỳ nghiên cứu so với mức sản lượng của thời kỳ trước đó hoặc thời kỳ gốc.
Tăng trưởng kinh tế được xem xét dưới góc độ số lượng và chất lượng.