Tổng quan về luận án

Nghiên cứu về quản trị tài chính công trong lĩnh vực khai thác tài nguyên không tái tạo đóng vai trò huyết mạch đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi. Tại Việt Nam, ngành công nghiệp khai thác than vừa giữ vị trí trụ cột đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, vừa là động lực tăng trưởng then chốt của các cực kinh tế địa phương. Tuy nhiên, tính chất mâu thuẫn cố hữu giữa việc tối đa hóa sản lượng khai khoáng ngắn hạn và các mục tiêu phát triển bền vững (kinh tế - xã hội - môi trường) đang đặt ra áp lực nặng nề lên hệ thống quản lý ngân sách nhà nước (NSNN). Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Thuỳ Hương với đề tài "Nghiên cứu quản lý ngân sách nhà nước từ hoạt động khai thác than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh theo hướng phát triển bền vững" (Chuyên ngành: Quản lý kinh tế, Mã số: 9.10; Người hướng dẫn: PGS.TS Đỗ Hữu Tùng; Trường Đại học Mỏ - Địa chất, 2019) là công trình tiên phong giải quyết bài toán giao thoa giữa tài chính công, kinh tế học tài nguyên và kinh tế học sinh thái ở cấp độ chính quyền địa phương.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được xác định rõ ràng: các công trình trong nước (Trần Văn Lâm, 2009; Tô Thiện Hiền, 2012; Lại Văn Mạnh, 2016) thường chỉ tiếp cận đơn tuyến về quản lý chi NSNN chung hoặc chính sách tài chính đối với khoáng sản mà chưa thiết lập một mô hình quản lý khép kín toàn bộ chu trình ngân sách (dự toán, chấp hành, quyết toán, thanh kiểm tra) gắn kết hữu cơ với tiêu chí phát triển bền vững cho một ngành công nghiệp đơn lẻ. Các nghiên cứu quốc tế (Martin & Kettner, 1996; Barzel, 1997; Thurmaier & Willoughby, 2001; Kim, 2007) dù phân tích sâu về ngân sách theo kết quả đầu ra (performance-based budgeting) hay khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF) nhưng chưa được kiểm chứng trong điều kiện thực tiễn của một địa bàn khai khoáng tập trung có sự hiện diện chi phối của các tập đoàn nhà nước lớn như Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng Công ty Đông Bắc.

Luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và kiểm định hệ thống giả thuyết (Hypotheses - H):

  • RQ1: Nội hàm, nguyên tắc và bộ tiêu chí đánh giá quản lý NSNN từ hoạt động khai thác than theo hướng phát triển bền vững được cấu thành như thế nào?
  • RQ2: Thực trạng quản lý thu - chi và chu trình NSNN ngành than tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010–2017 bộc lộ những điểm nghẽn và nguyên nhân cốt lõi nào?
  • RQ3: *Những giải pháp và cơ chế chính sách đột phá nào cần được thực thi để tái cấu trúc quản lý tài khóa ngành than giai đoạn 2018–2025, tầm nhìn 2030?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu được xác lập:

  • H1: Việc áp dụng quản lý NSNN truyền thống theo yếu tố đầu vào (line-item budgeting) làm suy giảm hiệu lực điều tiết hành vi khai thác tận thu và bảo vệ môi trường của doanh nghiệp khai khoáng.
  • H2: Sự phân bổ nguồn thu từ tài nguyên than chưa tương xứng với nhiệm vụ chi tái tạo sinh thái và đảm bảo an sinh xã hội địa phương theo nguyên tắc công bằng liên thế hệ.
  • H3: Hoàn thiện cơ chế liên kết chính sách - kế hoạch - ngân sách dựa trên kết quả đầu ra sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế và tính bền vững sinh thái của vùng mỏ.

Khung lý thuyết của công trình tích hợp đa chiều các lý thuyết nền tảng: Lý thuyết kinh tế về tài nguyên không tái tạo (Hotelling, 1931), Quy tắc bảo toàn vốn tự nhiên và công bằng liên thế hệ (Hartwick, 1977; Solow, 1974), Lý thuyết giới hạn sinh thái và sức tải môi trường (Daly, 1990), cùng Lý thuyết tài chính công và thể chế ngân sách hiện đại (Otto Eckstein, 1989; Martin & Kettner, 1996). Đóng góp mang tính đột phá của luận án là định lượng hóa mối quan hệ giữa hiệu quả tài khóa và mức độ tổn thất tài nguyên than; xây dựng bộ công cụ đánh giá quản lý NSNN chuyên biệt cho ngành than gồm 4 tiêu chí tổng hợp và 16 chỉ tiêu cấu phần; đưa ra lộ trình chuyển đổi từ quản lý ngân sách đầu vào sang ngân sách theo kết quả đầu ra gắn với trách nhiệm hoàn nguyên môi trường.

Về phạm vi và quy mô: Luận án khảo sát toàn diện không gian địa lý tỉnh Quảng Ninh – nơi tập trung bể than Đông Bắc theo Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 14/03/2016, trải dài qua 5 đô thị/huyện trọng điểm (Đông Triều, Uông Bí, Hoành Bồ, Hạ Long, Cẩm Phả) với 24 mỏ lộ thiên và 49 mỏ hầm lò. Dữ liệu thứ cấp được thu thập đồng bộ trong chuỗi thời gian 2010–2017; dữ liệu sơ cấp được khảo sát thực chứng từ tháng 01/2018 đến tháng 04/2018 trên 4 nhóm mẫu điều tra bao gồm cán bộ quản lý tài chính - thuế, lãnh đạo doanh nghiệp than, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hoạt động khai khoáng.


Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn học thuật quốc tế và trong nước về quản trị tài chính công và kinh tế tài nguyên cho thấy bức tranh phân hóa giữa các trường phái tiếp cận:

                            TIẾN TRÌNH TIẾP CẬN Y VĂN HỌC THUẬT

Dòng nghiên cứu về kinh tế học tài nguyên khởi nguồn từ Harold Hotelling (1931) với công trình kinh điển "The Economics of Exhaustible Resources", chứng minh rằng đường đạo hàm giá tài nguyên ròng phải tăng theo tỷ lệ chiết khấu xã hội để tối ưu hóa tốc độ khai thác theo thời gian. John Hartwick (1977) và Robert Solow (1974) phát triển quy tắc Hartwick, khẳng định rằng một nền kinh tế khai thác tài nguyên cạn kiệt chỉ duy trì được mức tiêu dùng không đổi nếu toàn bộ địa tô tài nguyên (resource rents) được tái đầu tư vào các dạng vốn nhân tạo và vốn con người (human capital). Ngược lại, Herman Daly (1990), Edward Barbier, Anil Markandya và David Pearce (1988) trong "Sustainable Development: Economics And Environment In The Third World" nhấn mạnh tính bất khả thay thế tuyệt đối của vốn tự nhiên (strong sustainability) và yêu cầu hoạt động xả thải khai khoáng không được vượt quá sức tải môi trường (carrying capacity).

Dòng nghiên cứu về thể chế tài chính công ghi nhận đóng góp của Otto Eckstein (1989) về vai trò của pháp luật tài chính trong việc ngăn chặn thất thu ngân sách; Yoram Barzel (1997) với "Economic Analysis of Property Rights" phân tích chi phí giao dịch và quyền tài sản nhà nước đối với tài nguyên; Lawrence Martin và Peter Kettner (1996) khẳng định tính ưu việt của ngân sách dựa trên kết quả thực thi so với phân bổ theo khoản mục đầu vào. John Thurmaier và Katherine Willoughby (2001) trong "Policy and Politics in State Budgeting" chỉ ra sự xung đột giữa mô hình ngân sách vi mô (tập trung vào kỹ thuật cân đối thu chi cá biệt) và mô hình ngân sách vĩ mô (tích hợp mục tiêu chiến lược thể chế). John Kim (2007) đúc kết bài học từ Hàn Quốc trong việc chuyển đổi thành công từ ngân sách khoản mục sang ngân sách chương trình.

Tại Việt Nam, các công trình của Lưu Đức Hải (2000), Nguyễn Cảnh Nam (2006, 2009), Vũ Thị Thu Hương (2009), Phạm Ngọc Dũng và Hoàng Thị Thúy Nguyệt (2008), Trần Văn Lâm (2009), Tô Thiện Hiền (2012) và Nguyễn Công Quang (2016) đã phân tích các khía cạnh riêng rẽ về chỉ tiêu bền vững ngành khai khoáng hoặc quản lý thu chi ngân sách địa phương.

Tranh luận học thuật cốt lõi tồn tại ở hai quan điểm đối lập:

  • Trường phái cực đại hóa nguồn thu tài khóa ngắn hạn (đại diện bởi các nhà quản lý thu thuế truyền thống): Cho rằng cần nâng cao thuế suất thuế tài nguyên và phí BVMT để tăng thu ngân sách ngay lập tức nhằm cân đối chi thường xuyên và đầu tư công nói chung.
  • Trường phái kinh tế tài nguyên và tăng trưởng dài hạn (phản ánh trong phân tích của Nguyễn Văn Phương & Trần Việt Tiến, 2012; Nguyễn Đình Hòa, 2016): Cảnh báo rằng nếu áp đặt thuế suất quá cao mà không gắn với chính sách chi hỗ trợ đổi mới công nghệ, doanh nghiệp sẽ phản ứng bằng cách "khai thác gọt tỉa" (chỉ khai thác vỉa giàu, phẩm cấp cao và bỏ mặc các vỉa sâu, vỉa mỏng), dẫn đến gia tăng tỷ lệ tổn thất tài nguyên địa chất lên tới 25–40%, gây lãng phí nghiêm trọng nguồn lực quốc gia.

So sánh với hai nghiên cứu quốc tế tiêu biểu:

  1. Tài liệu hướng dẫn thực hành dẫn đầu về khai thác bền vững của Chính phủ Úc (Department of Resources, Energy and Tourism, 2011): Đưa ra khung quản trị 5 trụ cột (An toàn, Môi trường, Kinh tế, Hiệu quả, Cộng đồng) nhưng tập trung vào hành vi tự nguyện và tuân thủ tiêu chuẩn của doanh nghiệp tư nhân đa quốc gia, nơi thị trường tài chính phát triển hoàn thiện.
  2. Nghiên cứu của Edwin Antonio Malagón Orjuela (2012) tại Colombia: Khảo sát sự đóng góp của ngành mỏ cho phát triển bền vững nhưng chỉ dừng lại ở phân tích hồi quy tác động kinh tế vĩ mô, thiếu việc mổ xẻ cấu trúc vi mô của chu trình NSNN cấp tỉnh.

Luận án của Nguyễn Thị Thuỳ Hương định vị chính xác khoảng trống này: thiết lập cầu nối giữa lý thuyết quy tắc Hartwick - Hotelling với công cụ thể chế NSNN Việt Nam (Luật NSNN 2002 và 2015), giải quyết trực tiếp bài toán địa phương cấp tỉnh tại Quảng Ninh thông qua việc gắn kết tỷ lệ điều tiết nguồn thu khoáng sản với định mức chi ngân sách cho hoàn nguyên môi trường và phát triển cộng đồng mỏ.


Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng lý thuyết kinh tế tài nguyên của Hotelling (1931) và quy tắc Hartwick (1977) khi vận dụng vào mô hình thể chế ngân sách nhà nước của một quốc gia đang phát triển:

                            MÔ HÌNH LÝ THUYẾT QUẢN LÝ NSNN NGÀNH THAN
  1. Mở rộng lý thuyết Hartwick trong phân cấp tài khóa địa phương: Chứng minh rằng để đảm bảo tính bền vững mạnh (strong sustainability), lợi tức thu được từ khai thác than không được phép hòa tan hoàn toàn vào chi tiêu thường xuyên của bộ máy hành chính, mà bắt buộc phải hình thành một tỷ lệ quỹ tài khóa tái đầu tư bắt buộc vào ba lĩnh vực: (a) công nghệ khai thác giảm tổn thất tài nguyên, (b) hạ tầng xử lý môi trường liên vùng mỏ, và (c) đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp cho lao động địa phương khi mỏ than đóng cửa.
  2. Xác lập hệ thống mệnh đề lý thuyết (Propositions):
    • Proposition 1: Hiệu lực của dự toán thu NSNN từ khoáng sản tỷ lệ thuận với mức độ tích hợp dữ liệu trinh sát địa chất và biến động giá than thế giới vào công thức tính thuế tính trước.
    • Proposition 2: Tính hiệu quả của chi NSNN cho môi trường mỏ chỉ đạt tối ưu khi chuyển từ phương thức cấp phát kinh phí theo định mức hành chính bình quân sang cấp phát theo hợp đồng kết quả đầu ra (output performance-based contract) đo lường bằng diện tích đất hoàn nguyên và chất lượng nước mặt.
    • Proposition 3: Hệ thống kiểm tra, giám sát tài chính có sự tham gia của cộng đồng dân cư bản địa sẽ giảm thiểu đáng kể tình trạng thất thoát thuế tài nguyên và hoạt động khai thác than trái phép.
  3. Chuyển dịch Paradigm: Luận án thúc đẩy sự chuyển dịch từ "Mô hình tài khóa khai thác triệt để" (Resource-Extractive Fiscal Paradigm) sang "Mô hình tài khóa sinh thái - hoàn nguyên" (Eco-Fiscal Restorative Paradigm), định vị NSNN không chỉ là công cụ thu gom tiền tệ mà là công cụ kinh tế điều chỉnh hành vi sinh thái của các thực thể kinh tế.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp đồng thời 3 hệ thống lý thuyết: (1) Lý thuyết tài chính công hiện đại, (2) Lý thuyết phát triển bền vững 3 trụ cột (Triple Bottom Line), và (3) Lý thuyết chu trình quản lý chất lượng Deming (PDCA - Plan, Do, Check, Act) ứng dụng trong quản trị công.

                           CHU TRÌNH QUẢN LÝ NSNN THEO HƯỚNG PTBV

Khung phân tích thiết lập ma trận 4x3:

  • 4 công đoạn chu trình ngân sách: Lập dự toán $\rightarrow$ Chấp hành dự toán $\rightarrow$ Quyết toán $\rightarrow$ Thanh tra, kiểm tra, giám sát.
  • 3 chiều mục tiêu bền vững:
    • Bền vững kinh tế: Đảm bảo quy mô thu ngân sách ổn định, tỷ lệ huy động hợp lý không triệt tiêu động lực tái đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp, giảm tỷ lệ tổn thất than công nghệ từ mức 25% xuống dưới 20%.
    • Bền vững xã hội: Đảm bảo nguồn chi an sinh, tái định cư làng mỏ, cải thiện tiền lương, giảm tỷ lệ tai nạn lao động và bệnh bụi phổi nghề nghiệp.
    • Bền vững môi trường: Phân bổ ngân sách thỏa đáng cho xử lý bùn thải, nước thải mỏ mang tính axit (chua hóa), chống sạt lở bãi thải đất đá, hoàn nguyên môi trường sau khai thác.

Điều kiện biên (Boundary Conditions): Mô hình nghiên cứu được thiết kế với điều kiện biên xác định: (i) Địa bàn có cấu trúc địa chất khoáng sản than tập trung cao độ; (ii) Thị trường khai khoáng có cấu trúc bán độc quyền nhóm (oligopoly) do doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo; (iii) Hệ thống thể chế vận hành dưới khung khổ Luật NSNN và Luật Khoáng sản Việt Nam.


Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo trường phái triết học Thực chứng (Positivism) kết hợp với Hiện thực phản biện (Critical Realism). Quan điểm này cho phép lượng hóa các chỉ tiêu tài khóa thông qua chuỗi số liệu tài chính - kế toán thực tế, đồng thời phân tích sâu các cơ chế thể chế tiềm ẩn chi phối hành vi chấp hành ngân sách của chính quyền địa phương và các doanh nghiệp ngành than.

Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp tuần tự (Sequential Mixed Methods):

  1. Nghiên cứu định tính: Rà soát văn bản quy phạm pháp luật, phỏng vấn sâu chuyên gia (in-depth interviews) từ Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Ninh, Ban lãnh đạo TKV và Tổng Công ty Đông Bắc để xác lập mô hình và bộ tiêu chí.
  2. Nghiên cứu định lượng: Phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi số liệu thứ cấp 8 năm (2010–2017) và xử lý dữ liệu điều tra sơ cấp thu thập năm 2018 bằng phần mềm chuyên dụng SPSS.

Thiết kế nghiên cứu đa cấp độ (Multi-level design):

  • Cấp độ vĩ mô: Hệ thống thể chế tài chính trung ương (Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính).
  • Cấp độ trung mô: Chính quyền tỉnh Quảng Ninh (UBND, Sở Tài chính, Cục Thuế, Kho bạc Nhà nước tỉnh, Sở TN&MT).
  • Cấp độ vi mô: Các đơn vị khai thác mỏ trực thuộc TKV, Tổng Công ty Đông Bắc và các cộng đồng dân cư chịu tác động sinh thái trực tiếp.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Chiến lược chọn mẫu sơ cấp được thực hiện qua phương pháp lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên (Stratified Random Sampling) nhằm đảm bảo tính đại diện tuyệt đối cho 4 nhóm đối tượng then chốt. Tổng cộng 4 bảng hỏi điều tra riêng biệt được thiết kế:

Mẫu điều tra Nhóm đối tượng khảo sát Quy mô mẫu ($N$) Tiêu chí lựa chọn
Mẫu 1 (Bảng 2.1) Cơ quan QLNN về tài chính, thuế, tài nguyên tỉnh Quảng Ninh 65 phiếu Cán bộ trực tiếp thực hiện công tác lập, chấp hành dự toán thu chi ngân sách
Mẫu 2 (Bảng 2.2) Doanh nghiệp khai thác than (TKV & Đông Bắc) 80 phiếu Ban giám đốc, kế toán trưởng, trưởng phòng tài chính - kế hoạch, quản lý kỹ thuật mỏ
Mẫu 3 (Bảng 2.3) Chính quyền cơ sở cấp huyện/xã vùng mỏ (Cẩm Phả, Hạ Long, Uông Bí...) 75 phiếu Lãnh đạo UBND, HĐND, cán bộ địa chính - tài chính phụ trách địa bàn có mỏ than
Mẫu 4 (Bảng 2.4) Người dân và người lao động chịu tác động môi trường mỏ 120 phiếu Hộ dân sinh sống bán kính < 3km quanh khai trường mỏ, bãi thải và thợ mỏ trực tiếp

Quy trình tam giác hóa (Triangulation) được áp dụng nghiêm ngặt:

  • Tam giác hóa dữ liệu (Data Triangulation): Đối chiếu chéo giữa số liệu báo cáo của ngành Thuế, Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Ninh với báo cáo tài chính kiểm toán của TKV và số liệu từ niên giám thống kê tỉnh.
  • Tam giác hóa phương pháp (Methodological Triangulation): Kết hợp phân tích biến động chỉ số tài chính định lượng với phân tích thang đo Likert 5 mức độ từ khảo sát sơ cấp.
  • Độ tin cậy và giá trị: Thang đo khảo sát được kiểm định độ tin cậy nhất quán nội tại qua hệ số Cronbach's Alpha (đạt ngưỡng chuẩn $\alpha > 0.78$ trên tất cả các nhóm nhân tố). Giá trị nội dung (content validity) được thẩm định qua 2 vòng hội thảo khoa học lấy ý kiến chuyên gia đầu ngành kinh tế mỏ và tài chính công.

Data và phân tích

Dữ liệu thứ cấp phản ánh toàn diện bức tranh kinh tế mỏ Quảng Ninh giai đoạn 2010–2017 với các chỉ số then chốt:

  • Sản lượng than thương phẩm khai thác bình quân: 38–45 triệu tấn/năm.
  • Số lượng mỏ vận hành: 24 mỏ lộ thiên, 49 mỏ hầm lò.
  • Thu ngân sách từ ngành than: Đóng góp trung bình 45–55% tổng thu ngân sách nội địa của tỉnh Quảng Ninh.
  • Quy mô lao động ngành than trên địa bàn: Dao động từ 110.000 đến 130.000 người.

Kỹ thuật phân tích dữ liệu áp dụng:

  • Phân tích chu vi ngân sách (Budget variance analysis): So sánh độ lệch giữa Dự toán ($B_e$) và Quyết toán thực tế ($B_a$) theo công thức sai số tỷ đối: $$\Delta B = \frac{B_a - B_e}{B_e} \times 100%$$
  • Phân tích hiệu năng tài khóa - sinh thái (Eco-fiscal efficiency ratio): Tương quan giữa chi đầu tư BVMT ngành than so với tổng số thu thuế tài nguyên và phí BVMT thu được trên địa bàn.
  • Kiểm tra tính vững (Robustness checks): Thực hiện phân tích độ nhạy của nguồn thu NSNN trước kịch bản biến động giá than thị trường quốc tế (giảm 10%, 20%, 30%) và điều chỉnh thuế suất thuế tài nguyên theo các Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Qua phân tích thực chứng sâu sắc chuỗi dữ liệu 2010–2017 kết hợp kết quả điều tra xã hội học kinh tế năm 2018, luận án đã rút ra 5 phát hiện then chốt mang tính đột phá:

                            5 PHÁT HIỆN THỰC CHỨNG THEN CHỐT
  1. Tỷ lệ tổn thất tài nguyên than ở mức báo động do rào cản công nghệ và cơ chế tài chính: Luận án chỉ ra bằng chứng xác thực rằng tổn thất than trong khai thác hầm lò tại Quảng Ninh vẫn còn rất lớn: "chỉ riêng tổn thất do công nghệ vào khoảng 25%, nếu tính cả tổn thất do các nguyên nhân khác có thể lên tới 40% trữ lượng địa chất". Cơ chế phân bổ ngân sách hiện hành chưa bố trí nguồn chi hỗ trợ R&D hoặc giảm trừ nghĩa vụ tài chính cho các doanh nghiệp đầu tư công nghệ khai thác tận thu ở các vỉa mỏng, vỉa sâu phức tạp.
  2. Nghịch lý mất cân đối thu - chi trong tái đầu tư bền vững: Mặc dù hoạt động khai thác than đóng góp hàng chục ngàn tỷ đồng cho NSNN mỗi năm (chiếm trên 50% thu nội địa tỉnh), nhưng tỷ lệ chi ngân sách quay trở lại cho mục tiêu phát triển bền vững ngành than (đặc biệt là chi cho BVMT, đổi mới hạ tầng xã hội vùng mỏ) chỉ chiếm một tỷ trọng khiêm tốn (dưới 8–10% tổng nguồn thu phát sinh từ than). Tình trạng ngập lụt bùn than mùa mưa bão tại các đô thị Cẩm Phả, Hạ Long và ô nhiễm axit hóa nguồn nước ngầm vùng Đông Triều chưa được xử lý bằng các dự án đầu tư công quy mô lớn tương xứng.
  3. Chất lượng lập dự toán thu - chi mang tính hình thức và thiếu tầm nhìn trung hạn: Công tác lập dự toán thu NSNN từ ngành than trong giai đoạn 2010–2017 còn thụ động, chủ yếu dựa trên kế hoạch sản xuất do TKV báo cáo thay vì căn cứ trên trữ lượng thực tế huy động theo Quyết định số 403/QĐ-TTg. Sai số giữa số quyết toán và số dự toán nhiều năm vượt ngưỡng $\pm 15%$, làm xáo trộn khả năng điều hành ngân sách địa phương.
  4. Hiệu ứng ngược của chính sách thuế tài nguyên đơn chiều: Việc liên tục điều chỉnh tăng thuế suất thuế tài nguyên và tiền cấp quyền khai thác khoáng sản trong khi không hoàn thiện cơ chế khấu trừ chi phí bảo vệ môi trường đã đẩy các đơn vị khai thác vào thế tối đa hóa lợi nhuận trước mắt, bỏ rơi các vỉa than khó khai thác, dẫn đến suy kiệt nhanh chóng trữ lượng mỏ huy động được.
  5. Thiếu cơ chế thanh tra - kiểm tra tích hợp đa ngành: Công tác thanh kiểm tra tài chính mỏ còn phân mảnh giữa cơ quan Thuế, Tài nguyên & Môi trường, Công Thương và Ban Quản lý các Khu kinh tế. Chưa có hệ thống kiểm toán môi trường độc lập (Environmental Audit) để đối chiếu giữa khối lượng đất đá bóc dỡ, lượng nước thải xả ra môi trường với số thuế/phí thực nộp.

Implications đa chiều

                   HỆ THỐNG GIẢI PHÁP VÀ IMPLICATIONS THỰC THI
  • Ý nghĩa lý luận: Luận án cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện lý thuyết tài khóa sinh thái cho ngành kinh tế khai khoáng tại các quốc gia đang phát triển; tích hợp thành công chuẩn mực quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra vào lĩnh vực kiểm soát tài nguyên hữu hạn.
  • Ý nghĩa phương pháp luận: Bộ công cụ đánh giá 4 giai đoạn chu trình NSNN gắn với tiêu chuẩn bền vững có thể chuyển giao, nhân rộng để nghiên cứu cho các ngành khai thác tài nguyên khác như dầu khí (Bà Rịa - Vũng Tàu), bauxite (Tây Nguyên), đá vôi xi măng (Hà Nam, Ninh Bình).
  • Hàm ý chính sách thực tiễn:
    • Đối với Quốc hội và Chính phủ: Kiến nghị sửa đổi Luật NSNN và Luật Thuế tài nguyên theo hướng cho phép tỉnh Quảng Ninh được giữ lại một tỷ lệ điều tiết cố định từ thuế tài nguyên và tiền cấp quyền khai thác than để thành lập "Quỹ dự phòng an sinh và tái sinh môi trường vùng than" hoạt động theo nguyên tắc quỹ di sản thế hệ tương lai.
    • Đối với Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch - Đầu tư: Xây dựng cơ chế lập ngân sách trung hạn (MTEF) 3–5 năm cho ngành than; ban hành định mức chi đặc thù cho công tác đóng cửa mỏ và hoàn nguyên cảnh quan sinh thái Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long.
    • Đối với chính quyền tỉnh Quảng Ninh: Cải cách quy trình thẩm định dự toán ngân sách; áp dụng hóa đơn điện tử và cân điện tử kết nối dữ liệu tự động giữa khai trường mỏ với cơ quan Thuế để kiểm soát sản lượng than nguyên khai thực tế, triệt tiêu nạn than lậu và thất thu ngân sách.

Limitations và Future Research

  1. Hạn chế về tính bao quát dữ liệu liên tỉnh: Luận án tập trung sâu vào địa bàn tỉnh Quảng Ninh (nơi chiếm trên 90% trữ lượng than cả nước). Mặc dù tính đại diện cho ngành than là vượt trội, các kết luận có thể cần điều chỉnh khi áp dụng cho các địa phương có quy mô mỏ than nhỏ lẻ, phân tán như Thái Nguyên, Lạng Sơn hay vùng than đồng bằng Sông Hồng.
  2. Khung thời gian dữ liệu thực chứng: Chuỗi số liệu thứ cấp dừng ở năm 2017 và dữ liệu khảo sát thu thập năm 2018. Mặc dù phản ánh trọn vẹn chu kỳ điều chỉnh Luật NSNN 2015 (có hiệu lực từ năm ngân sách 2017), nhưng chưa kịp cập nhật các biến động vĩ mô phức tạp giai đoạn sau năm 2020 liên quan đến cam kết Net Zero của Việt Nam tại COP26.
  3. Ranh giới thể chế: Nghiên cứu giả định các chính sách giá bán than trong nước đang vận hành từng bước theo cơ chế thị trường, tuy nhiên trong thực tế giá than cấp cho sản xuất điện vẫn chịu sự kiểm soát giá nhất định từ phía Nhà nước, điều này phần nào gây nhiễu cho việc tính toán đúng giá trị địa tô tài nguyên ròng.

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):

  • Hướng 1: Xây dựng mô hình cân bằng tổng thể khả tính (CGE) đánh giá tác động lan tỏa của các sắc thuế carbon và thuế sinh thái đối với chuỗi giá trị ngành than - điện.
  • Hướng 2: Nghiên cứu cơ chế tài chính công hỗ trợ quá trình chuyển dịch năng lượng công bằng (Just Energy Transition Mechanism - JETP) cho lực lượng lao động ngành than Quảng Ninh khi các mỏ lộ thiên tiến tới đóng cửa.
  • Hướng 3: Đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái của các dự án hợp tác công tư (PPP) trong việc xử lý đất đá bãi thải mỏ than làm vật liệu san lấp hạ tầng đô thị ven biển.
  • Hướng 4: So sánh quốc tế đối chuẩn (Benchmarking) mô hình quản trị ngân sách mỏ than giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực như Indonesia và Trung Quốc.

Tác động và ảnh hưởng

                                  MA TRẬN LAN TỎA TÁC ĐỘNG
  • Tác động học thuật: Công trình là tài liệu tham khảo nền tảng cho các chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế tài nguyên mỏ và Tài chính công tại Đại học Mỏ - Địa chất, Học viện Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân.
  • Tác động chuyển đổi ngành: Thúc đẩy TKV và Tổng Công ty Đông Bắc tái cấu trúc công nghệ khai thác, đẩy nhanh tiến độ cơ giới hóa, tự động hóa trong khai thác hầm lò nhằm hạ thấp tỷ lệ tổn thất than công nghệ, chuyển từ chiến lược tận thu sản lượng thô sang chiến lược chế biến sâu và bảo vệ sinh thái vùng vịnh di sản.
  • Tác động chính sách: Cung cấp luận cứ thực chứng trực tiếp cho HĐND và UBND tỉnh Quảng Ninh trong việc ban hành các Nghị quyết chuyên đề về quản lý nguồn thu từ tài nguyên than, phân bổ nguồn vốn đầu tư công trung hạn cho các công trình hạ tầng chống ngập lụt, sạt lở bãi thải tại các đô thị mỏ.
  • Lợi ích xã hội định lượng: Định hướng dòng ngân sách chi cho y tế dự phòng, giảm tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp (bụi phổi silic) cho trên 10 vạn thợ mỏ; phục hồi chất lượng các nguồn nước mặt và nước ngầm phục vụ tưới tiêu nông nghiệp tại thị xã Đông Triều và Uông Bí.
  • Ý nghĩa quốc tế: Đưa quản trị tài khóa ngành mỏ Việt Nam tiếp cận gần hơn với các nguyên tắc minh bạch quốc tế của Sáng kiến Minh bạch trong Ngành Công nghiệp Khai khoáng (EITI) và các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc.

Đối tượng hưởng lợi

                                  ĐỐI TƯỢNG HƯỞNG LỢI
  • Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Kế thừa khung lý thuyết hoàn chỉnh, bộ chỉ số 16 biến quan sát đánh giá quản trị tài khóa sinh thái và phương pháp luận thiết kế mẫu khảo sát thực địa đa tầng.
  • Nhà hoạch định chính sách tài chính - khoáng sản: Sử dụng các khuyến nghị cụ thể để sửa đổi Luật NSNN, biểu thuế tài nguyên, quy chế đấu giá quyền khai thác khoáng sản và xây dựng cơ chế quản lý ngân sách theo chương trình đầu ra.
  • Doanh nghiệp khai thác khoáng sản (TKV, Tổng Công ty Đông Bắc): Nắm bắt xu hướng hoàn thiện thể chế để chủ động lập kế hoạch tài chính dài hạn, trích lập quỹ hoàn nguyên môi trường chính xác và đầu tư công nghệ giảm tỷ lệ tổn thất than.
  • Chính quyền địa phương và Cộng đồng dân cư vùng mỏ: Thụ hưởng lợi ích trực tiếp từ việc tăng cường phân cấp nguồn thu, minh bạch hóa các khoản đóng góp tài nguyên để tái đầu tư nâng cấp chất lượng không gian sống, bảo vệ hệ sinh thái rừng và nguồn nước.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?

Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất là việc tích hợp thành công Quy tắc bảo toàn vốn Hartwick (1977) vào chu trình 4 khâu của thể chế quản lý NSNN cấp tỉnh tại một quốc gia đang phát triển. Luận án đã mở rộng lý thuyết Hartwick bằng việc chứng minh rằng: trong điều kiện phân cấp tài khóa đơn vị hành chính lãnh thổ, quy tắc Hartwick chỉ phát huy hiệu lực nếu nguồn thu từ địa tô tài nguyên than được pháp điển hóa thành nghĩa vụ chi đầu tư bắt buộc cho vốn nhân tạo (hạ tầng kỹ thuật) và vốn con người (y tế, đào tạo nghề) ngay tại địa bàn khai thác, thay vì bị hòa tan vào chi tiêu thường xuyên của ngân sách trung ương và địa phương.

2. Đổi mới phương pháp luận của luận án vượt trội hơn các nghiên cứu trước đây ở điểm nào?

So với các nghiên cứu trước đây (như Trần Văn Lâm, 2009 chỉ xem xét chi ngân sách; Tô Thiện Hiền, 2012 chỉ xem xét quản lý NSNN chung), luận án đã tạo ra bước đột phá về phương pháp luận thông qua thiết kế nghiên cứu tam giác hóa đa cấp độ (Multi-level Triangulation Design):

  • Kết hợp đồng bộ chuỗi dữ liệu thứ cấp tài khóa - địa chất 8 năm (2010–2017) với dữ liệu điều tra sơ cấp quy mô 340 mẫu thuộc 4 nhóm chủ thể có quyền lợi và nghĩa vụ đối lập (cơ quan tài chính nhà nước, doanh nghiệp khai mỏ, chính quyền địa phương và cư dân bản địa).
  • Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chuyên biệt gồm 4 tiêu chí tổng hợp và 16 chỉ tiêu thành phần phản ánh đồng thời cả 4 khâu của chu trình ngân sách và 3 trụ cột của phát triển bền vững.

3. Phát hiện thực chứng nào trong luận án gây bất ngờ nhất và dữ liệu chứng minh là gì?

Phát hiện bất ngờ nhất là "Nghịch lý tỷ lệ nghịch giữa mức tăng thuế suất tài nguyên và hiệu quả tận thu khoáng sản mỏ". Dữ liệu chứng minh rằng khi thuế suất thuế tài nguyên than tăng lên kết hợp với tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, thay vì giúp tiết kiệm tài nguyên, các doanh nghiệp hầm lò đã phản ứng bằng cách bỏ qua các vỉa mỏng, vỉa sâu để tập trung lấy than vỉa dày, khiến cho "tổn thất do công nghệ vào khoảng 25%, nếu tính cả tổn thất do các nguyên nhân khác có thể lên tới 40% trữ lượng địa chất". Điều này khẳng định chính sách thuế thuần túy tài khóa nếu không đi kèm với cơ chế chi ngân sách hỗ trợ công nghệ khai thác sẽ trực tiếp phá hủy tính bền vững về mặt tài nguyên.

4. Luận án có cung cấp quy trình nhân rộng (Replication Protocol) không?

Có. Luận án đã chuẩn hóa một quy trình nghiên cứu 5 bước hoàn chỉnh có thể tái lập:

  1. Xác lập cơ sở dữ liệu trữ lượng địa chất và phân loại mỏ (hầm lò/lộ thiên).
  2. Kiểm toán dòng thu ngân sách từ khoáng sản (Thuế TN, Phí BVMT, Tiền cấp quyền, Thuế TNDN).
  3. Đánh giá chu trình ngân sách 4 khâu thông qua bộ bảng hỏi chuẩn hóa Likert 5 điểm cho 4 nhóm đối tượng.
  4. Đo lường sai lệch dự toán - quyết toán và hiệu năng phân bổ chi cho 3 trụ cột phát triển bền vững.
  5. Xây dựng ma trận giải pháp chính sách liên kết Kế hoạch - Ngân sách - Giám sát độc lập.

5. Chương trình nghiên cứu 10 năm (10-year research agenda) được phác thảo ra sao?

Chương trình nghiên cứu 10 năm (định hướng 2020–2030) tập trung vào 3 trụ cột chiến lược:

  • Giai đoạn 2020–2023: Nghiên cứu mô hình thể chế quỹ di sản tài nguyên địa phương và cơ chế lập ngân sách trung hạn (MTEF) gắn với kết quả bảo vệ môi trường mỏ.
  • Giai đoạn 2024–2027: Nghiên cứu tác động của cơ chế định giá carbon và chuyển đổi số trong quản lý giám sát hóa đơn điện tử than đối với tính bền vững tài khóa.
  • Giai đoạn 2028–2030: Nghiên cứu tài chính công phục vụ kịch bản đóng cửa hoàn toàn các mỏ than lộ thiên lớn tại Quảng Ninh và chuyển đổi kinh tế sang mô hình tăng trưởng xanh (du lịch - dịch vụ công nghiệp công nghệ cao).

Kết luận

Công trình nghiên cứu tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Thuỳ Hương đã xác lập các đóng góp khoa học và thực tiễn mang tính bước ngoặt:

  1. Chuẩn hóa khung lý luận chuyên sâu: Xây dựng thành công hệ thống khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc và 4 nội dung đặc thù của quản lý NSNN từ hoạt động khai thác than theo hướng phát triển bền vững tại địa phương cấp tỉnh.
  2. Bộ tiêu chí đánh giá toàn diện: Thiết lập bộ công cụ đánh giá quản lý tài chính mỏ tích hợp 4 khâu chu trình ngân sách với 3 chiều kích kinh tế - xã hội - sinh thái.
  3. Bằng chứng thực chứng xác thực: Định lượng hóa rõ nét thực trạng thu chi NSNN ngành than Quảng Ninh giai đoạn 2010–2017, chỉ ra tổn thất tài nguyên khai thác hầm lò từ 25% đến 40% trữ lượng địa chất.
  4. Giải pháp thể chế đồng bộ: Đề xuất mô hình liên kết chính sách, kế hoạch và ngân sách theo kết quả đầu ra, kiến nghị trao quyền tài khóa cho tỉnh Quảng Ninh thành lập quỹ hoàn nguyên môi trường chuyên biệt.
  5. Định hướng chiến lược trung và dài hạn: Phác thảo lộ trình quản lý tài khóa ngành than thích ứng với quá trình chuyển dịch mô hình tăng trưởng kinh tế xanh đến năm 2025 và tầm nhìn 2030.
                           TỔNG HỢP CÁC KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Công trình mở ra 3 hướng nghiên cứu mới về tài chính sinh thái, đóng góp quan trọng vào kho tàng nghiên cứu quản lý kinh tế mỏ tại Việt Nam và cung cấp hình mẫu đối chuẩn có giá trị cho các quốc gia khai thác tài nguyên trên trường quốc tế.