CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH 1. Quan niệm, nội dung, sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 1. Quan niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 1. Cơ cấu kinh tế Để tiếp cận khái niệm “cơ cấu kinh tế”, cần làm rõ khái niệm “cơ cấu”.
Theo quan điểm triết học duy vật biện chứng, cơ cấu hay kết cấu là một khái niệm dùng để chỉ cấu trúc bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó. Từ khái niệm “cơ cấu” vận dụng vào đối tượng là nền kinh tế quốc dân của một quốc gia, ta có được thuật ngữ “cơ cấu kinh tế”, cho đến nay đã có rất nhiều quan niệm về “cơ cấu kinh tế” do đó thuật ngữ này có nhiều cách tiếp cận khác nhau: Theo giáo trình Kinh tế chính trị Mác Lênin: “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành, cùng với vị trí tương quan và quan hệ tương tác phù hợp giữa các bộ phận trong hệ thống kinh tế quốc dân”. Theo quan điểm của C.Mác, CCKT của một xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình sản xuất nhất định của lực lượng sản xuất vật chất, cơ cấu là một sự phân chia về chất và tỷ lệ số lượng của những quá trình sản xuất xã hội.Mác cho rằng: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy cũng hợp thành cơ cấu kinh tế xã hội” [12] 6 Từ những quan niệm về CCKT nói trên có thể hiểu khái quát: “Cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế, nó bao gồm tổng thể các bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân trong quá trình tái sản xuất xã hội như các ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ), các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế.
Các bộ phận này gắn bó với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội cao. Ở mỗi vùng, mỗi ngành lại có cơ cấu riêng của nó phụ thuộc vào những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cụ thể”. [19] Cơ cấu kinh tế, xem xét trên cấp độ nền kinh tế quốc dân hay trên một vùng lãnh thổ, về mặt nội dung, là một hệ thống đa cơ cấu hợp thành, thường bao gồm: + Cơ cấu kinh tế ngành: là cơ cấu kinh tế quan trọng nhất, là tổ hợp các ngành của nền kinh tế. Nó biểu thị quan hệ giữa các ngành kinh tế, những tổng thể đơn vị kinh tế cùng thực hiện một loại chức năng trong hệ thống phân công lao động xã hội theo ngành để sản xuất ra những sản phẩm hoặc những dịch vụ có đặc tính chung nhất định.
Sự phát triển các ngành kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan, do sự phát triển của phân công lao động xã hội quyết định. + Cơ cấu vùng (hay lãnh thổ) kinh tế: là sự bố trí vùng, lãnh thổ của nền kinh tế. Cơ cấu vùng kinh tế theo lãnh thổ phản ánh sự phân công lao động xã hội về mặt không gian địa lý. Cơ cấu này do điều kiện khí hậu, tài nguyên thiên nhiên quyết định.
Ở mỗi vùng, lãnh thổ được bố trí các ngành sản xuất khác nhau theo một tỷ lệ thích ứng để khai thác triệt để các ưu thế, đặc thù của từng vùng, đồng thời để hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển. + Cơ cấu thành phần kinh tế: là cơ cấu sở hữu của nền kinh tế. Có thể nói, quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt của nền kinh tế. Nếu CCKTN trực tiếp do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội quyết định, thì cơ cấu thành phần kinh tế trực tiếp do bản chất của quan hệ sản xuất mà trước hết là quan hệ sở hữu quyết định.
Với mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài, nội dung luận văn tập trung chủ yếu nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Cơ cấu kinh tế ngành CCKTN là xét nền kinh tế dựa trên cơ sở phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất thành các ngành nghề khác nhau. CCKTN là tổng thể các ngành của nền kinh tế quốc dân được hợp thành theo một quan hệ tỷ lệ về lượng, thể hiện mối quan hệ giữa các ngành và phản ánh trình độ của nền kinh tế. Đến nay, có nhiều quan niệm về CCKTN, song theo quan điểm hệ thống ta có cách tiếp cận CCKTN như sau: “Cơ cấu kinh tế theo ngành là tổng thể hợp thành các ngành kinh tế quốc dân, trong mối quan hệ hữu cơ, tương tác lẫn nhau cả về số lượng và chất lượng giữa các ngành đó với nhau và với nền kinh tế quốc dân trong không gian, thời gian và những điều kiện kinh tế xã hội nhất định”[16].
Như vậy, CCKTN phụ thuộc vào sự phân ngành kinh tế và sự phân chia này lại thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế. Có thể hiểu CCKTN qua các nội dung sau: Thứ nhất, số lượng các ngành kinh tế cấu thành. Số lượng các ngành kinh tế không cố định mà luôn hoàn thiện theo sự phát triển của phân công lao động xã hội. Dựa vào tính chất của phân công lao động xã hội biểu hiện qua sự khác nhau về quy trình công nghệ tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ có thể phân hệ thống kinh tế thành 3 nhóm (3 khu vực) ngành chính, đó là: Nhóm ngành nông nghiệp (khu vực I): gồm các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và ngư nghiệp.
Nhóm ngành công nghiệp và xây dựng (khu vực II): gồm các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp khai thác, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, ngành xây dựng. Nhóm ngành dịch vụ (khu vực III): gồm các ngành thương mại, dịch vụ, tài chính, bưu điện. Trong CCKTN, khu vực I và khu vực II là nhóm ngành sản xuất vật chất, còn khu vực III thuộc nhóm ngành phục vụ sản xuất vật chất. Trong mỗi nhóm ngành sẽ có từng phân ngành nhỏ hơn.
Thứ hai, mối quan hệ giữa các ngành. Trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, các ngành kinh tế có mối quan hệ liên kết, phối hợp, tương tác qua lại với 8 nhau theo những nội dung, cách thức nhất định và được biểu hiện ở các quan hệ về số lượng, tương quan về chất lượng. Về số lượng, CCKTN thể hiện ở tỷ trọng (tính theo GDP, lao động, vốn.) của mỗi ngành trong tổng thể hệ thống kinh tế. Về chất lượng, CCKTN phản ánh vị trí, tầm quan trọng của từng ngành và mối quan hệ, tính chất tác động (trực tiếp hay gián tiếp, cùng chiều hay ngược chiều) qua lại giữa các ngành với nhau.
Thứ ba, sự hình thành CCKTN phản ánh khả năng khai thác các nguồn lực hữu hạn hiện có. Sự hình thành và phát triển các ngành kinh tế luôn dựa trên việc khai thác các nguồn lực hữu hạn của nền kinh tế, do đó CCKTN phản ánh quy mô và tính hiệu quả các nguồn lực hữu hạn vào các ngành sản xuất riêng trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Thứ tư, CCKTN luôn vận động và thay đổi theo từng thời kỳ phát triển. Số lượng các ngành cấu thành tổng thể hệ thống kinh tế và mối quan hệ của chúng bao giờ cũng được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.
Tuy nhiên, số lượng các ngành không cố định và mối quan hệ giữa các ngành luôn thay đổi cùng với sự vận động và biến đổi của điều kiện kinh tế - xã hội. Do vậy, CCKTN là phạm trù động, luôn vận động và thay đổi theo từng thời kỳ phát triển khác nhau và là dấu hiệu phản ánh trình độ của nền kinh tế. Việc phân loại CCKTN là căn cứ vào từng mục đích nghiên cứu. Trong luận văn này, tác giả lựa chọn CCKTN theo sự phân công lao động xã hội, bao gồm 3 nhóm: nhóm ngành nông nghiệp (khu vực I)gồm các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và ngư nghiệp; nhóm ngành công nghiệp (khu vực II) gồm các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp khai thác, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, ngành xây dựng…; nhóm ngành dịch vụ (khu vực III) gồm các ngành thương mại, dịch vụ, du lịch, tài chính, bưu điện… Sự phân tích được chú trọng cả về mặt lượng (số lượng ngành, quan hệ tỷ lệ giữa các ngành) và mặt chất (vị trí, vai trò của các ngành hiện tại trong nền kinh tế, các quan hệ gắn kết, tương tác giữa các ngành trong nền kinh tế…) 9 1.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Trong quá trình phát triển của nền kinh tế nói chung và của kinh tế ngành nói riêng thì xu hướng thay đổi luôn là điều tất yếu. CCKTN thay đổi cả mặt lượng cũng như mặt chất sẽ luôn vận động, chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác theo hướng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với điều kiện phát triển, và đó cũng chính là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành (CDCCKTN). CDCCKTN trên thực tế là kết quả của một quá trình, trong đó sự vận động phát triển của bản thân các ngành dẫn đến sự thay đổi tương quan tỷ lệ và mối quan hệ vốn có của chúng trong nền kinh tế quốc dân. Sự thay đổi cấu trúc các bộ phận hợp thành hay các ngành trong nền kinh tế sẽ dẫn đến sự thay đổi cả nền kinh tế.
CDCCKTN có tính khách quan do yêu cầu của thị trường và sự phát triển kinh tế nhưng đồng thời CDCCKTN có tính mục đích và định hướng nghĩa là nó gắn với sự chủ động của Nhà nước, sự nhận thức tính tất yếu khách quan cần thực hiện sự thay đổi cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác, hợp lý và hiệu quả hơn.