Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CẤU NGÀNH kINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ 1.1 Cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành kinh tế 1.1 Cơ cấu kinh tế Cơ cấu là “sự tổ chức và sắp xếp nhiều bộ phận ghép lại” [10, 428], hay là một khái niệm nói về kết cấu bên trong của một hệ thống nào đó, kể cả số lượng và chất lượng của các bộ phận cấu thành và còn bao hàm cả mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành đó. Cơ cấu kinh tế là một thuộc tính của hệ thống kinh tế, nó phản ánh tổng hợp về lượng và chất các phần tử hợp thành hệ thống trong mối quan hệ tương tác tạo thành nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế chỉ ổn định tương đối theo thời gian và không gian nhất định, nó thay đổi và phát triển theo sự phát triển của lực lượng sản xuất, Trong một nền kinh tế, cơ cấu kinh tế được xem ở nhiều góc độ khác nhau: cơ cấu kinh tế ngành (cả nước, vùng, tỉnh .), cơ cấu không gian kinh tế hay còn gọi là cơ cấu lãnh thổ (cả nước, vùng , tỉnh) và cơ cấu thành phần kinh tế. Trong đó cơ cấu kinh tế ngành mà trước hết là cơ cấu công – nông nghiệp là quan trọng nhất.
Karl Max cho rằng: “cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất”. Sở dĩ như vậy vì ở mỗi trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất sẽ quy định những quan hệ sản xuất khác nhau, mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành cũng khác nhau, tạo thành cơ cấu kinh tế khác nhau, đặc biệt là cơ cấu ngành. Các bộ phận này cấu thành lực lượng sản xuất vật chất của một xã hội nhất định. Cơ cấu kinh tế hợp lý “Một cơ cấu kinh tế là hợp lý khi nó đáp ứng được các yêu cầu sau: - Nông nghiệp phải giảm dần về tỷ trọng; còn tỷ trọng về công nghiệp, xây dựng và dịch vụ phải tăng dần.
10 - Trình độ kỹ thuật của nền kinh tế không ngừng tiến bộ, phù hợp với xu hướng của sự tiến bộ khoa học và công nghệ trên thế giới. - Cho phép khai thác tối đa mọi tiềm năng của đất nước, của các ngành, các địa phương, các thành phần kinh tế. - Thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế theo xu thế toàn cầu hóa kinh tế, do vậy cơ cấu kinh tế được tạo dựng phải là “cơ cấu mở” [27,166].2 Cơ cấu ngành kinh tế - Cơ cấu ngành kinh tế là mối quan hệ tỷ lệ và sự tác động qua lại giữa các ngành và giữa các bộ phận hợp thành trong ngành của nền kinh tế quốc dân. Đó là “quan hệ tỷ lệ gắn bó hữu cơ, vừa nương tựa vào nhau, vừa chế ước lẫn nhau giữa các ngành và các phân ngành cũng như giữa các doanh nghiệp trong nội bộ ngành và phân ngành.
Cơ cấu ngành là bộ phận động nhất trong cơ cấu kinh tế nói chung” [20,17]. “Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, cơ cấu ngành của một nền kinh tế là tập hợp tất cả các ngành hình thành lên nền kinh tế và các mối quan hệ ổn định giữa chúng” [18,123]. Có thể có nhiều cách phân ngành khác nhau khi nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu ngành. Song cho đến nay chính thức tồn tại hai hệ thống phân ngành kinh tế: phân ngành theo Hệ thống sản xuất vật chất – MPS và phân ngành theo Hệ thống tài khoản quốc gia – SNA.
Trong Hệ thống sản xuất vật chất, các ngành kinh tế được phân làm hai khu vực: sản xuất vật chất và không sản xuất vật chất. Khu vực sản xuất vật chất và không sản xuất vật chất lại được chia thành các ngành cấp I như: công nghiệp, nông nghiệp … Các ngành cấp I lại được chia thành các ngành cấp II, chẳng hạn như ngành Công nghiệp lại bao gồm các ngành sản phẩm như: điện năng, nhiên liệu … Đặc biệt trong ngành công nghiệp, người ta còn phân ra thành nhóm A và nhóm B (nhóm A là nhóm ngành công nghiệp nặng và nhóm B là nhóm ngành công nghiệp nhẹ). 11 Theo Hệ thống Tài khoản quốc gia, các ngành kinh tế được phân thành 3 nhóm ngành lớn là Nông nghiệp, Công nghiệp – Xây dựng, và Dịch vụ. Ba ngành gộp lớn này bao gồm 20 ngành cấp I như: Nông nghiệp và Lâm nghiệp, thủy sản (nuôi trồng và khai thác), khai mỏ và khai khoáng, chế biến… Các ngành cấp I lại được chia nhỏ thành các ngành cấp II.
Các ngành cấp II lại được phân nhỏ thành các ngành sản phẩm. Ngoài ra cũng có thể phân theo tính chất tác động của lao động và đối tượng lao động như: khối ngành khai thác, khối ngành chế biến và khối ngành dịch vụ. “Cũng có nước căn cứ vào xu hướng vận động của ngành kinh tế mà phân thành những ngành mới ra đời, những ngành sắp lặn hay những ngành tương lai, những ngành xế chiều. hoặc cũng có thể căn cứ vào vai trò vị trí của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân mà phân thành ngành mũi nhọn, ngành chủ yếu, các ngành khác” [17,59].
Với một cách phân ngành hợp lý và một đại lượng giá trị được chọn thống nhất, có thể xác định được “chỉ tiêu định lượng phản ánh một mặt của cơ cấu ngành, đó là tỷ trọng các ngành so với tổng thể các ngành của nền kinh tế. Loại chỉ tiêu định lượng thứ nhất này đã được sử dụng trong các nghiên cứu về phát triển liên quan đến cơ cấu ngành của nền kinh tế. Các chỉ tiêu loại một này chỉ cho biết số ngành kinh tế và quy mô của chúng trong sự so sánh tương đối với nhau và tổng thể, Chỉ tiêu định lượng thứ hai có thể mô tả được phần nào mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành kinh tế, đó là các hệ số trong bảng cân đối liên ngành (của hệ MPS) hay bảng vào – Ra (I/O) (của hệ SNA)” [18,124]. Như vậy theo định nghĩa cơ cấu ngành và xét về mặt định lượng, ít ra phải có hai loại chỉ tiêu trên mới cho ta có được một sự hiểu biết đầy đủ hơn về cơ cấu ngành của một nền kinh tế hay một địa phương (tỉnh) và của vùng.
Sự hình thành cơ cấu ngành của nền kinh tế do trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội, của phân công lao động xã hội và hợp tác về sức sản xuất xã hội quy định. “Nếu chỉ xét riêng bản thân lao động thì người ta có thể gọi sự phân chia nền sản xuất xã hội thành những ngành lớn như nông nghiệp, công nghiệp ., là sự phân công lao 12 động chung, và sự phân chia những ngành sản xuất ấy thành loại và thứ - là sự phân công lao động đặc thù, còn sự phân công trong xưởng thợ - là sự phân công lao động cá biệt” [14,405]. Chính sự phát triển của phân công lao động xã hội, sự phát triển của lực lượng sản xuất, nền sản xuất xã hội xuất hiện nhiều ngành nghề mới. Đối với những nước cơ sở vật chất kỹ thuật còn hạn chế, sức sản xuất, sức sáng tạo của khoa học kỹ thuật, công nghệ còn thấp, kỹ thuật chỉ đóng vai trò thứ yếu thì những nhân tố quan trọng như tài nguyên thiên nhiên, vốn, sức lao động.
là nguồn gốc của sự phát triển và tăng trưởng kinh tế, và được tập trung chủ yếu vào các ngành nông nghiệp và công nghiệp khai thác và chế biến, là những ngành lấy sản phẩm trực tiếp từ tự nhiên và chế biến sản phẩm tự nhiên. Lịch sử đã có một thời gian tương đối dài, ngành chủ đạo, trụ cột sự phát triển của các nền sản xuất xã hội là nông nghiệp hoặc công nghiệp. Song khi lực lượng sản xuất phát triển, sự thay đổi về công cụ lao động và đối tượng lao động cho thấy hàm lượng khoa học kỹ thuật, công nghệ và thông tin tăng lên rất nhiều. Sự phát triển đó dẫn đến thay đổi đầu vào của các yếu tố sản xuất, phân bổ các ngành nghề ngày càng nghiêng về trình độ và trình độ lao động.
Việc phân tích cơ cấu ngành của nền kinh tế không chỉ dừng lại ở những biểu hiện về mặt lượng (số lượng ngành, tỷ trọng), mà quan trọng hơn là phân tích được mặt chất của cơ cấu: vị trí vai trò của ngành hiện tại trong nền kinh tế và hướng phát triển trong tương lai của chúng. Sự tương tác giữa công nghiệp và nông nghiệp trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, khả năng hướng ngoại gắn với xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ giữa cơ cấu ngành với cơ cấu lãnh thổ, vùng kinh tế để phát huy lợi thế tuyệt đối và lợi thế tương đối của mỗi vùng và cơ cấu thành phần kinh tế. - Tính chất của cơ cấu ngành kinh tế 13 Cơ cấu ngành kinh tế mang tính khách quan, tính khách quan này do trình độ của lực lượng sản xuất quy định. Cơ cấu ngành là một kết cấu kinh tế khách quan, trong điều kiện kinh tế thị trường, thích ứng với khả năng và nhu cầu sản xuất sản phẩm do các ngành tạo ra.
Tính khách quan của cơ cấu kinh tế ngành trước hết do phân công lao động xã hội, sự phân chia lao động xã hội thành những ngành nghề sản xuất khác nhau để sản xuất ra sản phẩm có công dụng khác nhau quy định. Phân công lao động xã hội dẫn đến xuất hiện các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ hình thành một cơ cấu kinh tế với tỷ lệ cân đối tương ứng giữa các bộ phận. Tỷ lệ đó được thay đổi thường xuyên và tự giác theo quá trình diễn biến khách quan của nhu cầu xã hội và khả năng đáp ứng nhu cầu đó. Như vậy cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành kinh tế nói riêng, trước hết tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội.
Song lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt thống nhất trong một phương thức sản xuất và quyết định đối với quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất được biểu hiện tên ba mặt: quan hệ sử hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ về tổ chức quản lý và quan hệ về phân phối sản phẩm.