Chương 1: Đặt vấn dé: Trình bày về sự cần thiết của dé tài, mục dich và phạm vi nghiên cứu. + Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: Trình bày sơ lược về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kinh tế nông nghiệp, động lực của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, các chỉ tiêu phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế và phương pháp nghiên cứu. + Chương 3: Tổng quan địa bàn nghiên cứu: Giới thiệu sơ lược về địa bàn nghiên cứu huyện Bến Lức (điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế — xã hội,. + Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
- Đánh giá thực trạng cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện giai đoạn 2000 — 2004 về Công nghiệp - Nông nghiệp — Dịch vụ, về cơ cấu từng ngành, cây trồng, vật nuôi,. - Đánh giá thực trạng cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện. - Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế của một số cây trồng, vật nuôi chính. - Đánh giá một số mô hình chuyển đổi trên địa bàn huyện.
- Nhìn nhận định hướng và để xuất một số giải pháp cần thiết cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện đến năm 2010. + Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Cơ Cấu Kinh Tế.
Cơ cấu kinh tế của một nước là tổng thể các quan hệ kinh tế hợp thành nên kinh tế gắn với vị trí, trình độ kỹ thuật công nghệ, quy mô, tỷ trọng tương ứng với từng bộ phận và mối quan hệ tương tác giữa tất cả các bộ phận gắn với điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế — xã hội đã được dé ra. Cấu trúc của cơ cấu kinh tế bao gồm: + Cơ cấu ngành kinh tế. + Cơ cấu thành phần kinh tế. + Cơ cấu vùng chuyên môn hóa theo vùng lãnh thổ.
+ Cơ cấu giữa thị trấn, thị xã và nông thôn. Cơ Cấu Ngành Kinh Tế. Cơ cấu kinh tế là một hình thức phân tích cấu trúc nền kinh tế theo tiêu thức ngành. Nó được thể hiện bằng tỷ trọng GDP của từng ngành trong GDP tổng thể ngành kinh tế.
Thông thường trong kinh tế ngành của một nền kinh tế, người ta thường chia ra làm ba nhóm ngành chính: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia, của một lãnh thổ, của một địa bàn kinh tế cụ thể, để phân tích thật chỉ tiết, thật cụ thể thì các nhà kinh tế phải phân tích cơ cấu ngành cụ thể trong từng nhóm ngành kinh tế. Cơ Cấu Thành Phần Kinh Tế. Cơ cấu thành phần kinh tế là hình thức phân tích cơ cấu kinh tế theo tiêu thức quan hệ sản xuất.
Nó được thể hiện bằng tỷ trọng đóng góp của từng thành phần kinh tế trong tổng thể nén kinh tế. Thể hiện tỷ trong GDP của từng thành phần trong GDP tổng thé: cơ cấu về vốn đầu tư của từng thành phan trong tổng vốn đầu tư của nền kinh tế, cơ cấu lao động phân bổ trong từng thành phần kinh tế. Cơ cấu thành phần kinh tế ở Việt Nam được chia làm 6 thành phần kinh tế sau: - Thành phần kinh tế nhà nước. - Thành phần kinh tế tư nhân.
- Thành phần kinh tế tư bản nhà nước. - Thành phần kinh tế cá thể hộ gia đình. - Thành phần kinh tế hợp tác. - Thành phần kinh tế đầu tư nước ngoài.
Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự tác động làm thay đổi dan ty trọng của từng ngành kinh tế, từng thành phần kinh tế, tỷ trọng của từng ngành trong tổng thể nền kinh tế. Nói cách khác: chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình làm tối ưu hóa nên kinh tế của một quốc gia. Để tối ưu hóa cơ cấu kinh tế phải hình thành và thỏa mãn các yêu cầu sau: phan ánh được và đúng các quy luật quốc gia về nhân tài — vật lực, phù hợp với xu thế cách mạng khoa học — công nghệ, xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa và đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao hơn.
* Khi thực hiện chiến lược chuyển dịch cơ cấu, cần lưu ý một số vấn điểm sau: Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phải dựa trên các nguồn lực hiện có và phải diễn ra cùng với sự thay đổi các nguồn lực phân bổ vào các ngành trong nền kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu phải theo hướng phân bổ các nguồn lực vào các ngành, các lĩnh vực có năng suất và hiệu quả cao. Vậy thực chất chuyển dịch cơ cấu là quá trình chuyển dịch nhằm mục đích thúc đẩy nên kinh tế tăng trưởng và phát triển thông qua việc phân bổ lại các nguồn lực sao cho đạt hiệu quả nhất. Một Số Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quá Trình Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế.
Nhu cầu và tác động của thị trường: trong nên kinh tế thị trường thì quá trình sản xuất của nên kinh tế nông nghiệp cũng như công nghiệp luôn bị thị trường chi phối, phai sản xuất cái thị trường cần chứ không sản xuất những cái mình có. Hơn thế nữa, nông nghiệp là một lĩnh vực sản xuất mà đối tượng là những sinh vật sống, san phẩm làm ra mang tinh chất mùa vụ. Chính vì vậy, giá cả luôn dao động với biên độ cao, điều này ảnh hưởng lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu từ những cây, con này sang những cây, con khác nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và tác động tốt đến nền kinh tế. Cơ cấu vốn đầu tư vào các ngành: vốn đầu tư là nhân tố quyết định việc hình thành cơ cấu kinh tế ngành kinh tế.
Tỷ trọng đầu tư vốn vào các ngành khác nhau thì cơ cấu kinh tế cũng khác nhau trong cùng một vùng kinh tế. Do đó, để ưu tiên phát triển ngành nào phải đòi hỏi trước tiên là phân bổ vốn đầu tư cho ngành đó và từ đó nó ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của từng ngành trong thành phần kinh tế, đồng thời nó ảnh hưởng đến cơ cấu ngành kinh tế. Nguồn nhân lực: chất lượng và số lượng nguồn nhân lực giữ vai trò rất lớn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với sự chuyển dịch về cơ cấu lao động.
Vì vậy, muốn ưu tiên phát triển các ngành nghề kỹ thuật cao thì không thể dựa vào một nguồn lao động dồi dao mà lại kém chất lượng. Một quốc gia, một nền kinh tế có nguồn lao động dồi dào thì phải chọn ưu tiên trước cho những ngành sử dụng nhiều lao động. Tóm lại: con người là chủ thể của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, còn sự phân bổ tỷ lệ vốn phải xuất phát từ thực tế thị trường và nguồn lao động của nền kinh tế. Định hướng của nhà nước: công cụ điều hành nền kinh tế của nhà nước là các chính sách của nhà nước.
Từ đó, quá trình chuyển dịch cơ cấu thường thông qua các chính sách khuyến khích, ưu tiên hoặc hạn chế các ngành nghề nào đó của chính phủ, ngược lại các chính sách của chính phủ cũng đều bắt nguồn từ ba nhân tố trên, đó là nhu cầu thị trường, vốn đầu tư và nguồn nhân lực. Ngoài các nhân tố trên, còn các nhân tố làm tăng tốc độ chuyển dịch cơ cấu như: nguồn tài nguyên thiên nhiên, tính mở của nền kinh tế và sự tiến bộ của nền khoa học kỹ thuật. Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế Nông Nghiệp. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp được hiểu là mối quan hệ ty lệ về số lượng và ^ A WN chất lượng giữa các ngành nghề, các bộ phận cấu thành của nền nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp về thực chất là thay đổi mối quan hệ đó, tạo ra một sự phát triển mới của vùng.
Trên thực tế nông nghiệp gắn liền với nông thôn vì nông nghiệp là một trong những bộ phận chủ yếu của sản xuất vật chất, cung cấp lương thực thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho công nghiệp,. Do đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng chính là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế Theo Ngành. Trong mỗi quốc gia, tỉnh, huyện (xin gọi chung là vùng lãnh thổ) bao giờ cũng phát triển nhiều ngành kinh tế.
Mỗi vùng lãnh thổ, nông nghiệp bao giờ cũng có nhiều ngành có quan hệ mật thiết với nhau. Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành trong một vùng lãnh thổ là làm thay đổi các quan hệ tỷ lệ giữa các ngành trong tổng thu nhập nội địa (GDP) của vùng. Chuyển Dịch Cơ Cấu Nông Nghiệp Theo Vùng. Vùng lãnh thổ được biểu hiện là một bộ phận cấu thành của một cấp lãnh thổ cao hơn.
Trong mỗi quốc gia hay mỗi vùng nông nghiệp đều có những vùng nông nghiệp nhỏ hơn. Chẳng hạn như: vùng lúa đồng bằng sông Cửu Long có vùng lúa cao san ở trung tâm, có vùng lúa đặc sản ở vùng Đồng Tháp Mười và ven biển, có vùng trái cây ở Tiền Giang. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng lãnh thổ nghĩa là xác định những ưu thế nông nghiệp của vùng, bằng các giải pháp để khai thác các ưu thế đó, tạo ra biến đổi cơ bản về tỷ trọng nông sản hàng hóa của một vùng trong tổng thể kinh tế. Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng chính là một quá trình hình thành những vùng chuyên môn hóa, san xuất ra những loại nông sản chiếm tỷ lệ cao trong tổng thể kinh tế.
Chuyển Dịch Cơ Cấu Thành Phần Trong Kinh Tế Nông Nghiệp. Trong nông nghiệp tổn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau, tùy mỗi quốc gia, mỗi vùng mà số lượng thành phần kinh tế cũng khác nhau. Có thể kể đến những thành phần kinh tế cơ ban trong nông nghiệp là: quốc doanh, tư ban tư nhân, cá thể,. Cơ cấu thành phân kinh tế trong nông nghiệp là biểu hiện quan hệ tỷ lệ về số lượng cho tổng GDP của vùng, của mỗi thành phan kinh tế.
Từ đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp luôn bao gồm quá trình chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế trong nông nghiệp. Sở dĩ như vậy là vì lý do sau: Các thành phan kinh tế luôn vận động và biến đổi trong mỗi quốc gia. Mỗi một ngành sản xuất nông nghiệp đều cần có sự kết hợp — góp sức của nhiều thành phần kinh tế. Mỗi thành phần kinh tế đều có vai trò, tiém lực khác nhau trong phát triển các ngành kinh tế khác nhau.