MỞ ĐẦU cA/ Ly do chon đề tài B/ “Đối tugng oà nhigm og nghién atu O/ Mue dich nghién cứu D/ Lich sit vin dé nghiên eiu đ/ Phuong phip nghién etu Soth: Lit Kim “(gân Lugn van tất nghiệp Gohd: 7Š. Frteng Thi Thu Odu A/ Li do chon dé tai: Tập đọc là môn học có vị tri quan trong ở TH và có ảnh hưởng đến các bậc học sau. Chúng ta đang đứng trước một sự thay đổi toàn diện về nội dung cũng như phương pháp giảng dạy Tập đọc. Năm 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành đổi mới SGK tiểu học.
Việc thay đổi SGK được xem là một bước tiến quan trọng thể hiện được cái nhìn mới, không đi theo - "lối mòn” của những quyển sách cũ. Cho đến nay sách Tiếng Việt 1 và 2 - Chương trình 2000 đã chính thức đưa vào sử dụng đại trà. Sách Tiếng Việt 3 - Chương Trình 2000 đã có bản in chính thức và sẽ đưa vào giảng dạy trong năm học 2004 - 2005. Riêng sách Tiếng Việt 4 và Tiếng Việt 5 còn ở TLTN 2000, đang được thử nghiệm ở một số trường trên cd nước.
Vậy: CT Tập đọc lớp 4, 5 trong TLTN 2000 có những thay đổi gì nổi bật so với CT CCGD? Việc giảng dạy thử nghiệm có thật sự đã đổi mới hoàn toàn về phương pháp hay chưa? Người viết muốn tìm câu trả lời cho những câu hỏi này bằng một sự nghiên cứu nội dung CT và một cuộc khảo sát thực tế giảng dạy lớp 4, 5 ở TH. Hy vọng với những gì luận văn thu được sẽ đóng góp một phần nhỏ vào việc xem xét nội dung, đồng thời khắc phục những khó khăn, trở ngại và những điểm cần lưu ý về phương pháp và cách thức tổ chức dạy học cho GV lớp 4, 5 trước khi CT chính thức đưa vào dạy đại trà. B/ tốt trú oa nhiém vou aghién atu: * Đối tượng nghiên cứu: chương trình , sách giáo khoa CCGD, TLTN 2000 và việc dạy - học Tập đọc lớp 4, 5. * Để thực hiện dé tài này, người viết sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau: 1.
Khảo sát việc dạy - học phân môn Tập đọc lớp 4, 5 ở một số trường Tiểu học. So sánh, đối chiếu các nội dung môn Tập đọc lớp 4, 5 giữa CT CCGD và TLTN 2000. Seth: Lau Kim (gân tk» Luin van tất nghiệp Gokd: ThS. Fntong Thi Thu Odu 3.
Từ việc thực hiện các nhiệm vụ trên. người viết sẽ tiến hành phân tích, tổng hợp và để xuất một số ý kiến về việc giảng dạy Tập đọc lớp 4, 5 (TLTN 2000 ). C/ Mue dich nghién atu: Những kết quả thực tiễn qua việc tìm hiểu nội dung CT, SGK, thực tế giảng dạy,. mà luận văn thu thập được sẽ đóng góp một phần nhỏ nào đó cho việc biên soạn sách giáo khoa và góp thêm những ý kiến cho việc cải tiến phương pháp day - học Tập đọc lớp 4, 5 ở Tiểu học.
D/ Lich sit odin dé nghién atu: Nhiều bài viết trên báo Tuổi trẻ, tạp chí Thế giới trong ta, Giáo dục, Giáo dục Tiểu học,. đã để cập đến việc đổi mới nội dung, phương pháp môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập đọc nói riêng, đặc biệt là một số nhận xét về Sách giáo khoa lớp 1, 2 (Chương trình Thử nghiệm 2000). Chưa có một tài liệu cụ thể so sánh và phân tích cụ thể những đặc điểm giữa CCGD và TLTN 2000 trong môn Tập đọc lớp 4, 5, cũng như việc giảng dạy thực tế của CT CCGD và TLTN 2000 đang diễn ra hiện nay và việc giảng dạy TLTN 2000 Tập đọc có đúng với tinh thin đổi mới hay không. Vì vậy, người viết muốn thực hiện một việc nghiên cứu về CT cũng như tìm hiểu thực tế giảng dạy môn Tập đọc lớp 4, 5 đang diễn ra như thế nào.
đ⁄ Dhuong pháp nghién cứu: - Phương pháp tham khảo tài liệu. - Phương pháp thống kê. - Phương pháp phỏng vấn, điều tra. South: Lau Kim Wgan 3 -“tuận van tất stgiiệp Gohd: 7ltŠ.
TFriting Chị Thu Oda PHAN NỘI DUNG A/ Cot sở li luận của day Cập đọc ở C726 B/ tội dung Chuong 1: Whiting odin dé chung vé Féip đọc va nội dung phan min Cập đọc lớp 4,5 Chutong 2: So sinh nội dung phan min Cập đọc lép 4, 5 giữa ehutong trinh Cai eich giáo due va Fai liệu Shit aghiém 2000 Chutong 3: Khảo tát vige day oà học phan min Cập đọc lớp 4,5 Soth: Lit Kim Ggan 4 Đọc là một loại hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác. Theo Lê Phương Nga (Lê Phương Nga, Dạy học Tập đọc ở Tiểu học, 2002, NXB Giáo đục, Hà Nội). đặc điểm quá trình này như sau: 1. Đọc được xem như hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau, là việc sử dụng một bộ mã gồm hai phương diện.
Một mặt, đó là quá trình vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh. Thứ hai, đó là sự vận động của tư tưởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ - nghĩa, tức là sự liên hệ giữa các con chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho được nội dung những gì được đọc. Đọc bao gồm những yếu tố như tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của các cơ quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì được đọc. Càng ngày những yếu tố này càng gần nhau hơn, tác động đến nhau nhiều hơn.
Mục đích cuối cùng của việc phát triển kĩ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp giữa những mặt riêng lẻ này của quá trình đọc, đó là điểm phân biệt người mới biết đọc và người đọc thành thạo. Càng có khả năng tổng hợp các mặt trên bao nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác và biểu cảm bấy nhiêu. Ki năng doc là kĩ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dài, được hình thành qua ba giai đoạn: phân tích, tổng hợp (còn gọi là giai đoạn phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động và giai đoạn tự động hóa. > Giai đoạn dạy học van là sự phân tích các chữ cái và đọc từng tiếng theo các âm.
> Giai đoạn tổng hợp thì đọc cả từ trọn vẹn, trong đó sự tiếp nhận "từ” bằng thị giác và phát âm hầu như trùng với nhận thức ý nghĩa. Tiếp theo, sự thông hiểu của “từ” trong cụm từ hoặc câu đi trước sự phát âm, tức là đọc được thực hiện trong sự đoán các nghĩa. Bước sang lớp 2, 3 học sinh bất đầu đọc tổng hợp. Ở giai đoạn lớp 4, 5, đọc ngày càng tự động hóa, nghĩa là người đọc ngày càng ít quan tâm đến quá trình đọc mà chú ý nhiều đến việc chiếm lĩnh vãn bản (bài khóa: nội dung các sự kiện, cảm xúc, chủ đẻ, các phương tiện biểu đạt của nó).
Gần đây, người ta chú trọng hơn đến những mối quan hệ qui định lan nhau của việc hình thành kĩ năng doc và hình thành kĩ năng làm việc với văn bản, nghĩa là đòi hỏi phải tổ chức giờ tập đọc sao cho việc phân tích nội dung của bài đọc đổng thời hướng đến việc hoàn thiện kĩ năng đọc và đọc có ý thức bài đọc. Việc đọc như thế nhằm vào việc nhận thức. Chỉ có thể xem là đứa trẻ biết đọc khi nó đọc mà hiểu được diéu mình đọc. Đọc là hiểu nghĩa của chữ viết.
Nếu trẻ không hiểu những từ ta đưa cho chúng đọc, chúng sẽ không có hứng thú học tập. Do đó, hiểu những gì được đọc sẽ tạo ra động cơ, hứng thú của việc đọc. Đây chính là cơ sở quan trọng trong việc lựa chọn những tác phẩm làm ngữ liệu trong phân môn Tập đọc và đặc biệt với lớp 4, 5 khi kĩ năng đọc đang bước sang giai đoạn tự động hóa. Việc đọc không thể tách rời khỏi việc chiếm lĩnh những công cụ ngôn ngữ (ở đây là tiếng Việt).
Mục đích này chỉ có thể đạt được thông qua con đường luyện giao tiếp có ý thức. Một phương tiện luyện tập quan trọng, cũng đồng thời là một mục tiêu phải đạt tới trong sự chiếm lĩnh ngôn ngữ chính là việc đọc, cả đọc thành tiếng và đọc thầm. Sự tri giác văn bản viết bằng mắt ( đọc thành tiếng, đọc thẩm) đi kèm với những hoạt động của các cơ quan phát âm và các cơ quan thính giác. Điều này thể hiện rõ nhất khi ta đọc thành tiếng.
Lúc đó, cả ba kênh thông tin đều hoạt động đồng thời: mắt nhìn, miệng đọc, tai nghe văn bản đã được đọc lên. Ngay khi đọc thầm, mặc dù không có phát âm và không nghe thấy âm nhưng các cơ quan phát âm vẫn hoạt động âm thẩm. Vi vậy, học sinh nhỏ khi mới tập đọc thầm vẫn cử động, mấp máy môi. Các công trình nghiên cứu về cơ chế đọc cho thấy rằng, khi đọc mat ta “lướt” từ dòng này sang dòng khác.
Việc lướt đi như vậy không thể hiện thành một vận động déu liên tục mà diễn ra thành những bước nhảy liên tiếp. Ở mỗi bước, mất dừng lại để bao quát và khi nhận một đoạn, một mảng nhất định của dòng chữ, sau đó sẽ nhảy qua mảng tiếp theo. Một mảng như thế, bao gồm một số lượng chữ thay đổi tùy theo người đọc, được gọi là trường nhìn (hoặc thị trường). Những thí nghiệm cho thấy là thời gian mỗi lần dùng để chuyển từ bước nhảy này sang bước nhảy khác giữa người đọc giỏi và người đọc kém là bằng nhau (1/3 đến 1/4 giây) Sự khác nhau là ở chỗ người đọc giỏi mỗi lần mắt dừng ghi được nhiều từ hơn người đọc chậm.
Hai là không phải lúc nào mat cũng lướt theo một chiéu duy nhất về phía trước mà thỉnh thoảng phải quay trở lại để nhận biết thêm về những từ ngữ, những dòng chữ đã lướt qua nhưng chưa nắm bắt được, một lần quay trở lại như thế được gọi là một bước hồi qui. Người đọc có trình độ, ít cần đến bước hồi qui, do đó tốc độ tăng lên nhiều.Việc rèn kĩ năng đọc phải hướng đến luyện mở rộng trường nhìn và giảm các bước hồi qui cho học sinh. Quá trình hiểu văn bản bao gồm các bước sau : I)Hiểu các từ, các ngữ 2)Hiểu các câu 3)Hiểu các khối đoạn, tức là những tập hợp câu dùng để phát biểu một ý trọn vẹn mà phức tạp hơn 4) Hiểu được cả bài HS TH không phải bao giờ cũng dé dàng hiểu được những điều mình doc.