Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Cây ngô có tên khoa học là Zea mays L. thuộc chi Maydeae, họ hoà thảo Poaceae, bộ nhiễm sắc thể 2n = 20. Ngô là cây hàng năm với hệ thống rễ chùm phát triển, là loài cây giao phấn có hoa đơn tính cùng gốc. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NGÔ TRÊN THẾ GIỚI 1.
Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô là cây ngũ cố c có vai trò quan tro ̣ng trong nề n kinh tế nên ngày càng đươ ̣c quan tâm và phát triể n. Trong hơn 50 năm qua, ngô là cây trồng có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong ba cây lương thực chủ yếu (lúa mì, lúa nước, ngô), đặc biệt là năng suất. Năm 1961, diê ̣n tić h trồ ng ngô trên thế giới chỉ đa ̣t 105,5 triê ̣u ha, năng suấ t 19,4 ta ̣/ha và tổ ng sản lươ ̣ng là 205,0 triê ̣u tấ n. Đế n năm 2014, diê ̣n tích trồ ng ngô đã lên tới 183,3 triê ̣u ha với năng suấ t 56,64 ta ̣/ha và tổ ng sản lươ ̣ng đa ̣t 1.038,28 triê ̣u tấ n (Bảng 1.
So với năm 1961, diê ̣n tích trồ ng ngô tăng 74,5%, năng suấ t tăng 184% và tổ ng sản lươ ̣ng vươ ̣t 395%. Mức tăng trưởng bình quân hàng năm trong sản xuất ngô trên toàn thế giới giai đoạn 1961 - 2013 về diện tích là 1,4%, năng suất là 3,5% và sản lượng là 7,4%. Trong những năm gần đây diện tích trồng ngô trên toàn thế giới không tăng mạnh như những năm cuối thế kỷ XX do diện tích đất canh tác có giới hạn, tuy nhiên sản lượng ngô vẫn có xu hướng tăng là do năng suất ngô ngày càng được cải thiện nhờ áp dụng các giống ngô lai vào sản xuất. Mỹ luôn là cường quốc số một về ngô: chiếm vị trí thứ hai về diện tích và đứng đầu về sản lượng ngô, đồng thời cũng là một trong những nước có năng suất ngô cao nhất.
Mỹ là nước sử dụng giống ngô lai vào sản xuất đại trà đầu tiên trên thế giới, nhờ đó mà năng suất ngô bình quân từ 15 ta ̣/ha năm 1930 lên 39 ta ̣/ha năm 1961 và 95,9 ta ̣/ha vào năm 2010. Năm 2014, diện tích gieo trồng ngô ở Mỹ là 33.64 triệu ha, năng suất trung bình đạt 107,33 ta ̣/ha và sản lượng đạt 361,09 triệu tấn [59]. Hiện nay 100% diện tích trồng ngô ở Mỹ được sử dụng giống ngô lai trong đó 90% là giống lai đơn. Tin ̀ h hin ̀ h sản xuấ t ngô của mô ̣t số vùng ngô lớn năm 2014 Diê ̣n tić h Năng suấ t Sản lươ ̣ng Khu vực (ha) (ta ̣/ha) (triê ̣u tấ n) Thế giới 183.709 42,29 40,63 Nguồn: FAOSTAT, 2016 [59] Xu hướng phát triển của cây ngô trên phạm vi toàn thế giới có những thay đổi đáng chú ý.
Nếu những năm 1970, hơn một nửa sản lượng ngô toàn thế giới tập trung ở Mỹ, thì những năm gần đây diện tích và sản lượng ngô tăng lên đáng kể ở các khu vực khác trên toàn cầu. Nhịp độ tăng trưởng cao được đánh dấu ở các nước thuộc khu vực châu Á, đặc biệt ở Trung Quốc và Ấn Độ. Trung Quốc là nước đứng đầu về diện tích trồng ngô trên thế giới và có năng suất ngô trung bình cao hơn năng suất bình quân thế giới. Năm 2014, diện tích trồng ngô ở Trung Quốc là 35.98 triệu ha với năng suất 59,98 ta ̣/ha và sản lượng là 215,81 triệu tấn.
Đứng thứ 3 về diện tích trồng ngô trên thế giới là Brazil đạt 15,43 triệu ha, tiếp theo là Ấn Độ (8,6 triệu ha)[59]. Tình hình tiêu thụ ngô trên thế giới Năm 2013, Brazin là nước xuất khẩu ngô lớn nhất thế giới, tuy nhiên nhiều năm liền trước đó Mỹ luôn đứng đầu thế giới về xuất khẩu ngô. Tiếp theo là Argentina, Ukraina, Pháp, Ấn Độ…(Bảng 1. Các nước xuất khẩu ngô lớn trên thế giới năm 2013 Đơn vị tính: Tấn TT Tên nước 2009 2010 2011 2012 2013 1 Braxin 7.890 10 Liên bang Nga 1.750 Nguồn: FAOSTAT, 2016 [74] Nhật Bản là nước nhập khẩu ngô nhiều nhất trong nhiều năm với 14.910 tấn năm 2013, tiếp theo là Triều Tiên, Mexico, Ai Cập… Việt Nam đứng thứ 16 trong số những quốc gia nhập khẩu ngô [74].
Các nước nhập khẩu ngô lớn trên thế giới năm 2013 Đơn vị tính: Tấn TT Tên nước 2009 2010 2011 2012 2013 1 Nhật Bản 16.770 5 Tây Ban Nha 4. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NGÔ Ở VIỆT NAM 1. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Ở nước ta cây ngô giữ vị trí là cây màu số một và là cây lương thực thứ hai sau cây lúa. Viê ̣t Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cây ngô sinh trưởng và phát triển.
Trên cả nước có 8 vùng trồng ngô chính, mỗi vùng với những đặc trưng riêng 10 về vị trí cây ngô trong hệ thống trồng trọt, thời vụ và hiệu quả kinh tế trong sản xuất ngô. Từ đầ u thâ ̣p niên 90 của thế kỷ XX, khi các giố ng ngô lai đươ ̣c đưa vào sản xuấ t đã ta ̣o ra những bước tiến nổi bật trong sản xuất ngô ở nước ta. Năm 1991, diện tích trồng ngô lai toàn quốc mới chỉ là 500 ha chiếm 0,1% tổng diện tích trồng ngô. Năm 1996 diện tích ngô lai đã lên tới 230 ngàn ha chiếm 40% diện tích và 74% về sản lượng [1].
Năm 2000, diện tích trồng ngô lai chiếm 65% góp phần đưa năng suất ngô bình quân cả nước đạt 2,75 tấn/ha. So với các nước có nghề trồng ngô phát triển trên thế giới thì tốc độ sử dụng giống ngô lai ở nước ta được đánh giá là khá nhanh và vững chắc. Đến năm 2015, với diện tích trồng ngô 1.300 ha, trong đó khoảng 90% diện tích là sử dụng các giống ngô lai đã góp phần quan trọng trong việc nâng năng suất ngô trung bình toàn quốc lên 4,48 tấn/ha (tăng khoảng 61 % so với năm 2000), đạt tổng sản lượng 5. Năm 2015, trong các vùng sản xuấ t ngô chính trên cả nước, Trung du và miề n núi phiá Bắ c có diê ̣n tić h trồ ng ngô lớn nhấ t với 519,3 nghin ̀ ha, chiế m 44,0% cả nước.
Tiế p theo là Tây Nguyên (240,9 nghìn ha), Bắ c Trung bô ̣ và Duyên hải Miề n Trung (210,4 nghiǹ ha), đồ ng bằ ng sông Hồ ng (91,3 nghin ̀ ha), Đông Nam Bô ̣ (79,3 nghiǹ ha), đồ ng bằ ng sông Cửu Long (38,1 nghin ̀ ha) là những vùng có diê ̣n tić h ngô ít hơn và có xu hướng giảm theo thời gian. Các tỉnh có diê ̣n tích ngô lớn là Sơn La (159,9 nghiǹ ha), Đắ k Lắ k (117,8 nghin ̀ ha), Nghê ̣ An (58,9 nghin ̀ ha), Đắk Nông (51,3 nghìn ha), Gia Lai (51,6 nghìn ha), Hà Giang (54,8 nghìn ha), Đồ ng Nai (52,2 nghiǹ ha), Thanh Hóa (56,8 nghin ̀ ha), Cao Bằ ng (39,9 nghin ̀ ha). Các tỉnh có năng suấ t ngô cao là Kiên Giang (130,0 tạ/ha), Đồ ng Tháp (76,7 ta ̣/ha), An Giang (75,1 ta ̣/ha), Ba ̣c Liêu (70,0 ta ̣/ha), Đồ ng Nai (70,3 ta ̣/ha), Đắ k Nông (63,6 ta ̣/ha), Bình Thuận (62,6 tạ/ha). Các tin ̉ h có sản lươ ̣ng ngô lớn gồ m Đắ k Lắ k (650,4 nghìn tấ n), Sơn La (588,7 nghìn tấ n), Đồ ng Nai (366,9 nghìn tấ n), Đắ k Nông (326,4 nghiǹ tấ n), Thanh Hóa (243,6 nghin ̀ tấ n), Nghê ̣ An (235,4 nghin ̀ tấ n), Gia Lai (219,3 nghìn tấ n), Hà Giang (187,1 nghìn tấ n), Hòa Bình (162,6 nghìn tấ n) và Cao Bằ ng (133,0 nghiǹ tấ n) [30].
Tin ̀ h hin ̀ h sản xuất ngô ta ̣i mô ̣t số vùng ngô chính Viêṭ Nam Năm 1995 2000 2005 2010 2015 Vùng trồ ng ngô Diêṇ tích (1.000 ha) Cả nước 556,8 730,2 1052,6 1125,7 1179,3 Đồ ng bằ ng sông Hồ ng 98,2 97,8 88,3 97,6 91,3 Trung du và miề n núi phiá Bắ c 211,3 282,5 371,5 460,6 519,3 Bắ c Trung bô ̣ và Duyên hải Miề n Trung 97,1 144,1 225,6 213,2 210,4 Tây Nguyên 48,7 86,8 236,6 236,8 240,9 Đông Nam Bô ̣ 81,3 100,0 95,7 79,8 79,3 Đồ ng bằ ng sông Cửu Long 20,2 19,0 34,9 37,7 38,1 Năng suấ t (tạ/ha) Cả nước 21,1 27,5 36,0 41,1 44,8 Đồ ng bằ ng sông Hồ ng 26,0 29,9 40,4 45,2 48,0 Trung du và miề n núi phiá Bắ c 15,8 22,7 28,1 33,3 36,8 Bắ c Trung bô ̣ và Duyên hải Miề n Trung 17,6 24,5 35,5 39,9 44,0 Tây Nguyên 23,2 36,9 40,7 50,0 53,7 Đông Nam Bô ̣ 27,2 34,7 45,4 52,0 61,7 Đồ ng bằ ng sông Cửu Long 41,6 27,3 54,4 53,2 59,1 Sản lươ ̣ng (1.281,0 Đồ ng bằ ng sông Hồ ng 255,4 292,5 356,4 441,0 438,1 Trung du và miề n núi phía Bắ c 333,5 640,4 1043,3 1535,4 1.909,7 Bắ c Trung bô ̣ và Duyên hải Miề n Trung 170,5 353,7 799,8 849,8 952,2 Tây Nguyên 112,9 320,3 963,1 1184,2 1.293,9 Đông Nam Bô ̣ 220,9 347,2 434,8 414,9 488,9 Đồ ng bằ ng sông Cửu Long 84,0 51,8 189,7 200,4 225,2 Nguồn: Tổng cục thống kê 2016 [30] 12 1. Tình hình tiêu thụ ngô ở Việt Nam Năm 2015, Việt Nam nhập khẩu 7.674 tấn ngô hạt trị giá 1.123 USD, đứng thứ 3 trong số những nước nhập khẩu ngô nhiều nhất, tăng 60,15% về lượng và tăng 35,89% về trị giá so với cùng kỳ năm trước [5]. Trong năm 2014, nhập khẩu ngô Việt Nam đạt 4.917 tấn, trị giá 1.991 USD, tăng 119,05% về lượng và tăng 81,4% về trị giá so với năm 2013 [37]. Thực trạng xuất nhập khẩu ngô của Việt Nam Xuất khẩu Nhập khẩu Nhập-Xuất TT Năm SL Giá trị SL Giá trị SL Giá trị (tấn) (1000USD) (tấn) (1000USD) (tấn) (1000USD) 2005 2.767 Nguồn: FAOSTAT, 2016 [74] Trong vòng 10 năm, kể từ năm 2006 lượng ngô nhập khẩu của Việt Nam tăng 17 lần về lượng và 23 lần về giá trị cho thấy nhu cầu ngô làm nguyên liệu cho chế biến thức ăn chăn nuôi tăng ngày càng mạnh đòi hỏi sản xuất ngô trong nước phải tăng diện tích, năng suất và tăng mùa vụ để đáp ứng nhu cầu phục vụ chế biến thức ăn chăn nuôi.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÀ SẢN XUẤT NGÔ CỦA CÁC TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM Hình 1. Bản đồ vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam [75] 1. Điều kiện tự nhiên và xã hội Miền núi Đông Bắc Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa với hai mùa cơ bản: mùa Đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc (thường kéo dài từ tháng 11 năm trước đến hết tháng 4 năm sau) và mùa Hè chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam (thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10).