CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Lý luận về giảm nghèo bền vững và thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm về giảm nghèo bền vững Một quốc gia được xem là phát triển bền vững khi chất lượng cuộc sống của Nhân dân được nâng cao, không còn hộ nghèo. Chính vì vậy, giảm nghèo bền vững là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững của một quốc gia.
Ở nước ta hiện nay, một trong những mục tiêu quan trọng của Chương trình quốc gia về giảm nghèo mà Đảng và Nhà nước đang hướng đến là giảm nghèo bền vững. Qua nghiên cứu và tìm hiểu, có thể hiểu giảm nghèo và giảm nghèo bền vững như sau: Giảm nghèo hiểu theo cách đơn giản nhất là làm cho một bộ phận người dân có sự chuyển biến nâng cao về mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Giảm nghèo có thể được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau. Có thể hiểu giảm nghèo là một quá trình chuyển một bộ phận người dân nghèo lên một mức sống cao hơn, vượt qua mức nghèo.
Giảm nghèo hiểu theo góc độ quản lý nhà nước là cách thức, phương thức mà Nhà nước vận dụng các nguồn lực cả về vật chất lẫn tinh thần từ Nhà nước và xã hội để triển khai thực hiện các dự án, chương trình, kế hoạch tác động đến người nghèo, người cận nghèo giúp họ nâng cao thu nhập, mức sống, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của cuộc sống thường ngày ngày một tốt hơn. Việc đánh giá công tác giảm nghèo hiện nay thường dựa trên tỷ lệ phần trăm người nghèo trên tổng dân số và số lượng người nghèo được kéo giảm xuống. Bền vững được hiểu là vững chắc, khó lay chuyển được và duy trì bền lâu trong thời gian dài. Trong Văn kiện Đại hội lần thứ VIII (năm 1996) của Đảng, Đảng ta đã chỉ rõ là “phải khuyến khích Nhân dân vươn lên làm giàu, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo …từng bước thực hiện công bằng xã hội, tiến tới làm cho mọi người, mọi nhà đều trở nên khá giả”.
9 Đến Đại hội IX (tháng 4 năm 2001), quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giảm nghèo bền vững được thể hiện lần đầu trong Nghị quyết: “.phải rất coi trọng việc tạo nguồn lực cần thiết để Nhân dân ở các vùng nghèo, xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng nhanh thu nhập… Nâng dần mức sống của các hộ dân đã thoát nghèo, tránh tình trạng tái nghèo trở lại”. Có thể nói, bắt đầu từ nghị quyết Đại hội IX của Đảng, quan điểm về giảm nghèo chuyển sang giảm nghèo bền vững. PGS-TS Trần Đình Thiên đã thể hiện quan điểm về giảm nghèo trong Hội thảo chiến lược giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2020 do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Viện Kinh tế Việt Nam và Cơ quan phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổ chức là: “Không thể xóa nghèo nhanh, tức thời thông qua việc tặng phương tiện sống để giúp người nghèo thoát nghèo - Đây là cách không bền vững. Mà phải cấp cho người nghèo một phương thức sản xuất, phương thức phát triển mới, ưu tiên cho vùng có khả năng, có điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể nhân rộng cho các vùng lân cận thì mới xóa nghèo bền vững được”.
Từ phân tích, đánh giá các quan điểm, nhận định trên, có thể hiểu: “Giảm nghèo bền vững là việc thực hiện và duy trì thường xuyên các biện pháp, cách thức để giảm nghèo, trong đó tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo có tư liệu và phương tiện sản xuất phù hợp để họ tự phát triển kinh tế gia đình, nâng cao thu nhập, vươn lên thoát nghèo; tạo cơ hội để người nghèo được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản; đảm bảo người nghèo thoát nghèo và không tái nghèo trở lại” [43, tr. Khái niệm về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững Chính sách giảm nghèo là tập hợp các quyết định của Nhà nước xoay quanh việc xác định các giải pháp sáng tạo, đặt ra mục tiêu rõ ràng, và sử dụng các công cụ chính sách hiệu quả nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống toàn diện cho cộng đồng có rủi ro nghèo. Bằng cách này, chính sách không chỉ hướng đến cải thiện điều kiện sống vật chất mà còn tập trung vào khía cạnh tinh thần, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của người dân và giảm thiểu khoảng cách xã hội, vùng miền, dân tộc và các nhóm dân cư. 10 Chính sách giảm nghèo bền vững là tập hợp các quyết định của Nhà nước đặt ra những lựa chọn thông minh về giải pháp, mục tiêu, và công cụ chính sách, nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần cho nhóm người nghèo một cách bền vững và chặt chẽ.
Chính sách này không chỉ hướng tới việc cải thiện điều kiện sống mà còn đặt nặng vào khía cạnh tinh thần, tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định của cộng đồng và đồng thời giúp giảm thiểu khoảng cách xã hội, vùng miền, dân tộc, và các nhóm dân cư. Thực hiện Chính sách giảm nghèo bền vững là một khâu trung tâm, kết nối các khâu khác trong chu trình chính sách giảm nghèo bền vững, nhằm chuyển hóa ý chí của Nhà nước thành hiện thực với các đối tượng nhằm đạt mục tiêu giảm nghèo bền vững. Nội dung thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững Công tác giảm nghèo và thực hiện chính sách giảm nghèo luôn được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Để triển khai và thực hiện hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững thì phải có những đường lối, chủ trương lãnh đạo đúng đắn của Đảng để định hướng cho việc hoạch định chính sách giảm nghèo bền vững của Nhà nước, của Chính phủ.
Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, giai đoạn 2011 - 2016 đã khẳng định rõ: Thực hiện chính sách giảm nghèo một cách linh hoạt, đáp ứng hiệu quả theo từng giai đoạn; đa dạng hóa nguồn lực và cách tiếp cận để đảm bảo giảm nghèo bền vững, đặc biệt là tại các vùng nghèo nhất và những khu vực đặc biệt khó khăn. thông qua việc áp dụng các chính sách và giải pháp linh hoạt nhằm giảm thiểu sự chênh lệch về giàu nghèo và giảm bớt khoảng cách về mức sống giữa nông thôn và thành thị. Trong các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng từ Đại hội IX đến Đại hội XIII đều quan tâm, đưa chỉ tiêu giảm nghèo vào chỉ tiêu trọng tâm phải thực hiện trong phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể: - Đại hội IX của Đảng là: “Cơ bản xoá hộ đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 10% vào năm 2005”. 11 - Đại hội X của Đảng là: “Tỉ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) giảm xuống còn 10 - 11% vào năm 2010”.
- Đại hội XI của Đảng là: “Tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/năm”. - Đại hội XII của Đảng là: “Tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 1- 1,5%/năm”. - Đại hội XIII của Đảng là: “Tỉ lệ nghèo đa chiều duy trì mức giảm 1- 1,5%/năm”. Trên cơ sở, Nghị quyết lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Thủ tướng, đã được đề xuất và hướng dẫn về chiến lược, chương trình và chính sách liên quan đến giảm nghèo bền vững.
Mục tiêu của họ là tạo ra một hệ thống pháp lý linh hoạt, có khả năng điều chỉnh các mối quan hệ và hành vi liên quan đến mọi hoạt động giảm nghèo bền vững. Điều này sẽ không chỉ hỗ trợ việc thực hiện quản lý nhà nước một cách hiệu quả mà còn đảm bảo rằng mọi hành động được thực hiện đúng theo hướng dẫn, mục tiêu, và đường lối của Đảng, cũng như chính sách của Nhà nước. Một số văn bản cụ thể như: - Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ đưa ra mục tiêu cần đạt được trong giai đoạn từ 2011 đến 2020. - Quyết định số 2324/QĐ-TTg ngày 19 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Kế hoạch hành động triển khai đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020.
- Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02 tháng 9 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020; Quyết định số 1614/QĐ-TTg ngày 15 tháng 9 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án tổng thể <chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020=; Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020. - Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18 tháng 01 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững 12 giai đoạn 2021 - 2025; Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025. Trong giai đoạn hiện tại, Chính phủ của chúng ta đã đặt ra mục tiêu quan trọng trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025 tập trung vào thực hiện là:“Thực hiện giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo; hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lên mức sống tối thiểu, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống; hỗ trợ các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo thoát khỏi tình trạng nghèo, đặc biệt khó khăn”. Mục tiêu này không chỉ đơn thuần là giảm nghèo mà còn nhấn mạnh vào khía cạnh đa chiều, bền vững và ngăn chặn hiện tượng tái nghèo cùng xuất hiện nghèo mới.
Chú trọng đến việc hỗ trợ những người nghèo và hộ nghèo vượt lên trên mức sống tối thiểu, đồng thời đảm bảo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Ngoài ra, Chính phủ cũng đặt ra biện pháp hỗ trợ đặc biệt cho các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn ở vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo, nhằm giúp họ thoát khỏi tình trạng nghèo, đặc biệt là những vùng đất đang gặp phải những thách thức đặc biệt khó khăn.