mở đầu cho việc tranh đua của các lý thuyết và những giả thuyết để chuẩn bị cho nghiên cứu thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề cổ tức trong trường hợp thị trường vốn không hoàn hảo. Ví dụ, lý thuyết chú chim trong lòng bàn tay (the bird in the hand theory) (trước nghiên cứu của Miller và Modigliani) giải thích rằng nhà đầu tư thích cổ tức (chắc nhận được) hơn lợi nhuận giữ lại (chưa chắc nhận được). Vì vậy, công ty nên trả cổ tức nhiều để tối đa hóa giá trị cổ phiếu (Fisher, 1961; Brigham và Gordon, 1968). Đầu những năm 1970 và 1980, một vài nghiên cứu đề cập đến lý thuyết về sự ưu tiên của thuế (tax preference theory) (Brennan, 1970).
Lý thuyết này cho rằng cổ tức chịu thuế cao hơn lợi nhuận vốn cổ phần. Lý thuyết này còn tranh luận rằng cổ tức bị đánh thuế trực tiếp, trong khi thuế đánh trên lợi nhuận vốn cổ phần thì không thực hiện đến khi cổ phiếu được bán. Do đó, với lý do thuế, nhà đầu tư thích giữ lại lợi nhuận của công ty hơn là chia cổ tức bằng tiền mặt. Lợi nhuận vốn cổ phần là giải pháp tốt thu hút nhà đầu tư thích tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hơn là chi trả cổ tức cao.
Đầu những năm 1980, lý thuyết tín hiệu đã được nghiên cứu. Nó phát biểu rằng thông tin bất cân xứng giữa người điều hành doanh nghiệp và cổ đông bên ngoài cho phép người điều hành doanh nghiệp sử dụng cổ tức như là một công cụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 để báo hiệu thông tin riêng về triển vọng của công ty ra bên ngoài (Aharony và Swary, 1980). Sự giải thích khác về chính sách cổ tức được dựa trên lý thuyết chi phí giao dịch và thặng dư (residual theory). Lý thuyết này chỉ ra rằng công ty gánh chịu chi phí giao dịch lớn sẽ buộc phải giảm cổ tức chi trả để tránh chi phí tài chính nội bộ (Mueller, 1967).
Giải thích khác nhận được ít tranh luận hơn lý thuyết chi phí đại diện những năm 1980 (La Porta et al, 2000). Trong trường hợp lý thuyết chi phí đại diện, là chi phí gánh chịu trong việc giám sát người quản lý công ty để ngăn chặn những hành vi không hợp lý. Chi trả cổ tức nhiều để giảm dòng tiền mặt của công ty, buộc người quản lý tìm nguồn tài chính từ bên ngoài, bằng cách này làm cho người quản lý chịu sự giám sát của bên cung ứng vốn, vì vậy làm giảm chi phí đại diện (Rozeff, 1982). Cơ sở thực nghiệp của lý thuyết dòng tiền mặt tự do Giải thích quan trọng tại sao công ty chi trả cổ tức là giả thuyết dòng tiền mặt tự do (Jensen,1986), giả thuyết này giải thích chính sách cổ tức như là công cụ để làm giảm chi phí đại diện của dòng tiền mặt tự do.
Giả thuyết dòng tiền mặt tự do là nền tảng căn bản cho những tranh luận rằng có mâu thuẫn lợi ích giữa nhà quản trị và cổ đông. Nhà quản lý không hành động vì mục tiêu tối đa hóa lợi ích cổ đông, thay vào đó nhà quản lý phân bổ nguồn tài nguyên của công ty vì lợi ích của chính mình (Jensen và Meckling, 1976). Hành vi ích kỷ của nhà quản lý bao gồm chi tiêu lãng phí cho văn phòng xa xỉ và mua bán sát nhập vô lý. Do đó, tiền mặt dư thừa có tao ra vấn đề đầu tư quá mức bởi vì chúng có thể được sử dụng để tài trợ cho những dự án có NPV âm.
Để làm giảm vấn đề đầu tư quá mức, Easterbrook (1984) và Jensen (1986) cho rằng công ty hoàn trả lượng tiền mặt dư thừa cho nhà cổ đông bằng cổ tức hay mua lại cổ phần. Nghiên cứu này cũng xác định có phải việc tăng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 cổ tức được sử dụng như là một kỹ thuật để làm giảm chi phí đại diện của dòng tiền mặt tự do. Ẩn ý của giả thuyết dòng tiền mặt tự do cho rằng công ty có nhiều tiền mặt là công ty trưởng thành với cơ hội tăng trưởng thấp có xu hướng đối mặt với vấn đề đầu tư quá mức. Vì vậy, thông báo tăng cổ tức của công ty nên được đi kèm với thị trường cổ phiếu phản ứng tích cực khi nó phát tín hiệu tới cổ đông đó là sẽ sử dụng không lãng phí dòng tiền của công ty.
Lang và Litzenberger (1989) tập trung vào kiểm tra đặc tính này của giả thuyết dòng tiền tự do. Theo kinh nghiệm, họ đã sử dụng chỉ số Q của Tobin để xác định nhóm công ty đầu tư quá mức. Đặc biệt, chỉ số Q của Tobin nhỏ hơn một cho thấy vấn đề đầu tư quá mức trong khi chỉ số Q của Tobin lớn hơn 1 chỉ ra rằng công ty cam kết tối đa hóa giá trị cho nhà đầu tư. Nghiên cứu một mẫu 429 công ty thay đổi cổ tức đều đặng giữa năm 1979 và 1984, Lang và Litzenberger phát hiện ra thông báo lợi tức trung bình của thay đổi cổ tức lớn cho thấy dấu hiệu lớn hơn đối với những công ty có Q Tobin hơn những công ty có Q Tobin cao.
Dấu hiệu này phù hợp với giả thuyết dòng tiền tự do, việc tăng cổ tức của những công ty đầu tư quá mức cho thấy mục đích của nhà quản lý làm giảm vấn đề đầu tư quá mức, đây là nguyên nhân gây nên phản ứng lớn trên thị trường chứng khoán. Trong một nghiên cứu 55 thưởng cổ phần và 60 thông báo cổ tức giữa năm 1979 và 1989, Howe, He và Kao (1992) cho thấy không có tín hiệu liên quan giữa thông báo lợi nhuận và Q Tobin, một phát hiện tương phản với nghiên cứu của Lang và Litzenberger (1989). Họ chạy thêm những hồi quy giữa những thông báo lợi nhuận và dòng tiền của công ty trước đó và tương tác giữa Q Tobin và dòng tiền. Tuy nhiên, kết quả không tìm thấy dấu hiệu mối quan hệ giữa thông báo lợi nhuận và hiện tượng đầu tư quá mức của công ty.
Vì vậy, kết quả của họ không cho thấy bằng chứng để giải thích cho giả thuyết dòng tiền mặt tự do. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Yoon và Stark (1995) khảo sát một mẫu 4179 thay đổi cổ tức giữa năm 1969 và 1988. Họ phát hiện ra rằng chỉ số Q thấp của lợi nhuận bất thường trung bình cao hơn nhiều chỉ số Q của những công ty có cổ tức tăng. Tuy nhiên, không có sự khác nhau về độ lớn của phản ứng giá cổ phiếu giữa hai nhóm sau khi kiểm tra lại độ lớn của thay đổi cổ tức, tỷ suất cổ tức và giá trị thị trường của công ty.
Kết quả này mâu thuẫn với nghiên cứu của Lang và Litzenberger (1989), hai nhà nghiên cứu này đã tìm ra phản ứng rất lớn của giá cổ phiếu đối với công ty có chỉ số Q thấp hơn công ty có chỉ số Q cao. Những chi phí vốn của những công ty mà họ nghiên cứu sau khi thay đổ cổ tức cho thấy có dấu hiệu tăng (giảm) chi phí vốn sau khi cổ tức tăng (giảm) đối với công ty bất chấp chi phí cơ hội đầu tư của những công ty, kết quả này trái ngược với giả thuyết dòng tiền mặt tự do. Sử dụng một mẫu gồm 6.777 thông báo thay đổi cổ tức giữa năm 1962 và 1988 để xác định mối quan hệ giữa thông báo thay đổi cổ tức và phản ứng của giá cổ phiếu, Denis, Denis và Sarin (1994) phát hiệu ra rằng lợi nhuận bất thường gần bằng mức cổ tức thay đổi có mối quan hệ dương với độ lớn mức cổ tức thay đổi và mức độ của tỷ suất cổ tức (dividend yiel), nhưng không liên quan đến chỉ số Q của Tobin. Thêm vào đó, kết quả của họ cũng chỉ ra rằng các nhà phân tích xem xét lại dự báo của họ về thu nhập trong tương lai sau thông báo thay đổi cổ tức và chỉ số Q của công ty thấp thực sự tăng (giảm) chi phí vốn sau khi cổ tức tăng (giảm).
Nói chung, phát hiện của họ không ủng hộ giả thuyết dòng tiền mặt tự do. Nghiên cứu 570 công ty trả cổ tức, 7.417 thông báo tăng cổ tức đều đặn và 207 thông báo tự mua lại cổ phần, Lie (2000) phát hiện công ty có xu hướng có tiền mặt dư thừa trước khi thông báo thanh toán và tác động đến giá cổ phiếu của những công ty này đối với những thông báo có liên quan lớn tới quỹ tiền dư thừa và cơ hội đầu tư của công ty, được đo lường bằng chỉ số Q Tobin, đối với việc tự mua lại cổ phiếu và cổ tức đặc biệt lớn nhưng không liên quan tới cổ tức tăng đều đặn và cổ tức đặc biệt nhỏ. Nói chung, kết quả nghiên cứu của ông ta phù hợp với giả thuyết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 dòng tiền tự do, chi trả tiền mặt giúp cắt giảm đầu tư quá mức tiềm năng của nhà quản lý. Cơ sở thực nghiệm của lý thuyết vòng đời kinh doanh Fama và French (2001) nghiên cứu xu hướng trả cổ tức của các công ty Mỹ từ năm 1926 đến 1999.
Họ phát hiện ra rằng tỷ lệ phần trăm các công ty chi trả cổ tức giảm đáng kể sau 1978, tỷ lệ cổ tức chi trả đạt đỉnh 66.5% vào năm 1978 nhưng sau đó giảm xuống chỉ còn 20. Bằng chứng này chỉ ra rằng tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hơn, một phần do những công ty mới niêm yết nhỏ và có khả năng sinh lời thấp nhưng bên cạnh đó cũng có những công ty có cơ hội đầu tư hấp dẫn nên không bao giờ trả cổ tức. Một nghiên cứu toàn diện bao gồm một mẫu 7,642 thông báo thay đổi chi trả cổ tức giữa những năm 1967 và 1993, (Grullon, Michaely, Swaminathan, 2002) cho thấy cổ tức của công ty tăng không làm tăng chi phí vốn của họ trong sau những năm cổ tức tăng. Hơn nữa, rủi ro hệ thống của việc tăng cổ tức công ty có dấu hiệu giảm gần bằng mức thông báo chi trả tăng, kết quả là giảm chi phí vốn của họ.
Grullen chỉ ra rằng giảm rủi ro hệ thống là tín hiệu để xác định tác động tích cức của giá cổ phiếu đối với công ty có cổ tức tăng. Do đó, họ nhận thấy việc tăng tỷ lệ chi trả cổ tức thường xuyên của các công ty tăng cổ tức. Kết quả là những công ty có thể duy trì cổ tức cao phù hợp với phát hiện của Lintner (1956), Lintner phát hiện ra những nhà quản lý cố gắng không thay đổi cổ tức.