CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các nghiên cứu điển hình về mối liên hệ giữa chi phí đại diện với chính sách chi trả cho nhà quản lý của công ty cổ phần Vấn đề chi phí đại diện mặc dù đã được đề cập từ khá sớm trong nhiều tài liệu khác nhau, tuy nhiên đây vẫn là một nội dung đang được bàn luận phổ biến và là thách thức lớn đối với hoạt động của các công ty cổ phần (CTCP) trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Đối với các CTCP với cơ cấu sở hữu đa dạng, bên cạnh việc phải tìm kiếm các biện pháp khuyến khích mạnh đối với các nhân sự quản lý chủ chốt thì việc hạn chế mâu thuẫn về lợi ích giữa các nhà quản lý và các cổ đông cũng là vấn đề phức tạp.
Một chính sách chi trả đãi ngộ đối với nhà quản lý không tốt sẽ tạo ra một sự khuyến khích nhằm tối đa hóa thu nhập hiện hành mà không quan tâm đến thu nhập trong tương lai. Thậm chí, giá trị cho các cổ đông của công ty trong tương lai có thể bị hy sinh bằng cách tạo ra những kết quả cao trong ngắn hạn. Theo Jensen và Meckling (1976), Fama và Jensen (1983), vấn đề người đại diện có thể tồn tại giữa người sở hữu (các cổ đông) với người đại diện (HĐQT và Ban điều hành), thậm chí ngay cả giữa HĐQT với Ban điều hành, được biểu hiện rõ nhất khi tính độc lập và chức năng giám sát của HĐQT không hiệu quả. Giải pháp để hạn chế vấn đề người đại diện giữa các cổ đông với ban điều hành, đó là một mặt phải gia tăng chức năng giám sát của HĐQT, mặt khác phải hoàn thiện cấu trúc gói thù lao cho ban điều hành để tổng hòa được lợi ích của cả hai bên.
Thật vậy, người quản lý có thể ảnh hưởng đến các quyết định của hội đồng quản trị, kể cả những quyết định liên quan đến chính sách chi trả. Trong nghiên cứu “Theory of the firm: Managerial behavior,agency cost, and ownership structure - Lý thuyết công ty: Hành vi quản lý, chi phí đại diện và cấu trúc sở hữu”, Jensen và Meckling (1976) đã tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa chi phí đại diện với vốn chủ, nợ vay; đòn bẩy tài chính và cơ cấu vốn. Đặc biệt, hai ông đã đưa ra bốn nhận định cơ bản sau: Chi phí đại diện gắn với cấu trúc vốn hiệu quả; Chi phí đại diện là quan hệ cơ bản chủ sở hữu và ban điều hành; Chi phí đại diện góp phần tối ưu vốn chủ; Chi phí đại diện tối ưu nợ và gia tăng cơ hội đầu tư.” Từ đó, hai tác giả đi đến kết luận rằng ở các công ty cổ phần luôn luôn tồn tại chi phí đại diện như là một vấn đề của sự tách biệt giữa quyền kiểm soát/điều hành (của nhà quản lý) và quyền sở hữu (của cổ đông). Giải pháp để hạn chế vấn đề đại diện giữa cổ đông với nhà quản lý (ban điều hành) là gia tăng chức năng giám sát 8 của HĐQT đối với ban điều hành và cấu trúc chính sách chi trả cho nhà quản lý chủ chốt để tổng hòa lợi ích giữa các bên.
Dựa trên nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976), nhiều tác giả đã xác định và sử dụng các thước đo khác nhau cho chi phí đại diện. Trong nhiều nghiên cứu tiếp cận về vấn đề chi phí đại diện, có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu bàn về mối liên hệ giữa chi phí đại diện với vấn đề chi trả cho nhà quản lý của CTCP, bao gồm: * Hai nghiên cứu của nhóm tác giả Zajac và Westphal (1994) và Su, Xu và Phan (2008) đã sử dụng chi trả thù lao ban điều hành (Board Compensation) làm thước đo trung gian biểu hiện cho biến chi phí đại diện trong mô hình nghiên cứu tại các công ty niêm yết ở Hoa Kỳ và Trung Quốc. Theo đó, các nhóm tác giả khẳng định có sự đồng thuận ngày càng nhiều giữa các nghiên cứu rằng các công ty có thể tăng cường kiểm soát đối với nhà quản lý cấp cao bằng cách sử dụng một chính sách chi trả khuyến khích cao cho nhà quản lý, đồng thời kết hợp với sự giám sát chặt chẽ của Hội đồng quản trị. * Nghiên cứu của Core, Holthausen, Larcke (1999) cũng đã chỉ ra rằng một chính sách chi trả không hợp lý có thể buộc các nhà quản lý sử dụng tài sản của chủ sở hữu vì lợi ích riêng của họ.
Một cơ chế sửa đổi chính sách chi trả định kỳ và một hệ thống các ưu đãi thích hợp có thể thúc đẩy các nhà quản lý làm việc chăm chỉ hơn để có hiệu suất tốt hơn của công ty, cắt giảm chi phí đại diện và theo đó các chủ sở hữu có thể tối đa hóa sự giàu có của họ. * Juie Ann Elston và Lawrence G. Bằng việc sử dụng nguồn dữ liệu nghiên cứu từ các công ty niêm yết ở Đức, các tác giả đã chỉ ra rằng tương tự như các công ty ở Hoa Kỳ, các công ty ở Đức cũng tồn tại vấn đề đại diện gây ra bởi sự tách biệt quyền sở hữu khỏi quyền kiểm soát, với sự phân tán quyền sở hữu dẫn đến mức chi trả cao hơn cho ban điều hành. * Trong nghiên cứu “How Well Does Agency Theory Explain Executive Compensation?” (tạm dịch là Lý thuyết đại diện giải thích thế nào về vấn đề chi trả ban điều hành?), George-Levi Gayle và cộng sự (2018) đã kết luận rằng chính sách chi trả cho ban điều hành của các công ty cổ phần được khảo sát trong các nghiên cứu tiền nhiệm nhìn chung phù hợp với lý thuyết sở hữu-đại diện.
Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể, các biến được sử dụng phải được mô hình hóa, đồng thời được xác định một cách rõ ràng và ước tính cẩn thận. Thông qua việc khảo 9 sát các đặc trưng khác nhau giữa các mô hình sở hữu-đại diện được tóm tắt trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã đi đến tổng kết 2 nội dung chính: Một là, hơn 80% tổng mức chi trả cho ban điều hành ở các CTCP trong mẫu nghiên cứu là từ phí bảo hiểm rủi ro được chi trả nhằm giải quyết vấn đề đại diện (Gayle và Miller, 2009 hay Gayle, Golan và Miller, 2015); Hai là, quy mô phí bảo hiểm rủi ro hầu hết được lý giải bởi quy mô công ty. * Lucian Arye Bebchuk & Jesse M.Fried (2003) đã tập trung vào phân tích vai trò của chính sách chi trả ban điều hành như một biện pháp quan trọng trong việc xử lý các vấn đề đại diện (Agency Problem) ở các công ty niêm yết mà không có sự kiểm soát của cổ đông. Cụ thể, các tác giả đi sâu vào phân tích/so sánh hai phương pháp tiếp cận chủ đạo trong việc xây dựng chính sách chi trả cho nhà quản lý mà nhiều kinh tế học tài chính đã trình bày trong các nghiên cứu trước đó bao gồm phương pháp tiếp cận hợp đồng tối ưu (“Optimal Contracting”) và phương pháp tiếp cận quyền lực quản lý (“managerial power”).
Từ đó, hai tác giả nhấn mạnh việc cần phải thiết kế chính sách chi trả cho nhà quản lý một cách hợp lý hơn và phù hợp hơn để có thể tạo động lực cho họ tối đa hóa giá trị cho các cổ đông. Trong nghiên cứu này, hai tác giả đã trình bày những luận cứ lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ hai phương pháp tiếp cận chủ đạo trong việc thiết kế cơ chế chi trả ban điều hành ở các tập đoàn kinh tế Hoa Kỳ bao gồm phương pháp tiếp cận hợp đồng tối ưu và phương pháp tiếp cận quyền lực quản lý. Cụ thể, hai tác giả đã chỉ rõ những hạn chế của phương pháp tiếp cận hợp đồng tối ưu trong việc thiết kế cơ chế chi trả ban điều hành của các công ty ở Hoa Kỳ những năm 1990 như: các công ty trao cho ban điều hành quá nhiều đặc quyền, không đánh giá một cách chính xác giá trị đóng góp của các giám đốc điều hành vào công ty, chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa mức chi trả với các kết quả hoạt động của công ty. Chính điều đó lý giải sự tăng lên đáng kể các khoản chi trả cho các nhà quản lý của các công ty cổ phần ở Hoa Kỳ những năm 1990, thậm chí có nhiều công ty có kết quả hoạt động nghèo nàn.
Đồng thời, hai tác giả còn có những phát hiện đối với những công ty áp dụng việc xây dựng cơ chế chi trả điều hành dựa trên tiếp cận quyền lực quản lý; Đó là: (i) Trong suốt giai đoạn những năm1990, gần như quyền lực của các CEO đã bị hạn chế và có sự kiểm soát, do đó việc chi trả tăng lên không phải nguyên nhân do quyền lực quản lý mà là do những những yếu tố khác; (ii) cơ chế chi trả thì có mối tương quan với kết quả hoạt động (performance), vốn hóa thị trường (market capitalization) – giá cổ phiếu. Bằng việc quan sát hoạt động của các công ty cổ 10 phần ở Hoa Kỳ và phân tích các nghiên cứu trước đó, hai tác giả đi đến minh họa giá trị tiềm năng của phương pháp tiếp cận quyền lực quản lý bằng cách đưa ra 4 vấn đề để thảo luận và phân tích; bao gồm: (i) Mối quan hệ giữa quyền lực và mức chi trả; (ii) Việc sử dụng các tư vấn chính sách chi trả; (iii) Các khoản chi trả vô hình; (iv) Các khoản chi trả bồi thường hợp đồng để thu hút các nhà quản lý từ các công ty khác. Từ những phân tích đó, hai tác giả cũng đưa ra một số gợi ý về việc xây dựng cấu trúc chính sách chi trả tối ưu với 3 nội dung chính: Chính sách chi trả không nằm ngoài kết quả kinh doanh (Pay without performance), Kế hoạch quyền chọn phải loại trừ được sự may rủi (Option Plans that Fail to Filter Out “Windfalls”), thay đổi phương thức Quyền chọn từ Out-of-the-money sang At-the-money. Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu của công trình này bao gồm phân tích kịch bản tác động của từng phương pháp tiếp cận đến chính sách chi trả cho các nhà quản lý điều hành dựa trên các mô hình kinh tế học.
Đồng thời, dựa trên việc phân tích các nguồn dữ liệu thứ cấp, hai tác giả đã vận dụng những phương pháp tổng hợp thống kê để xem xét diễn biến hoạt động bồi thường điều hành của các công ty cổ phần ở Hoa Kỳ.