Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp lý về chỉnh lý khoa học tài liệu lưu trữ phông ủy ban nhân dân cấp huyện. Thực trạng công tác chỉnh lý tài liệu lưu trữ Phông Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi. Giải pháp nâng cao chất lượng chỉnh lý tài liệu lưu trữ Phông Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CHỈNH LÝ KHOA HỌC TÀI LIỆU LƯU TRỮ PHÔNG ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái quát về tài liệu lưu trữ và công tác lưu trữ 1. Tài liệu lưu trữ Hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong xã hội đã sản sinh ra rất nhiều văn bản, giấy tờ khác nhau (gọi chung là tài liệu). Trong những tài liệu đó, có loại ít có giá trị không cần thiết phải lưu giữ lâu dài, có loại có giá trị về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ, cần được lưu giữ lâu dài để phục vụ cho các yêu cầu của cơ quan, tổ chức, của toàn xã hội và đã trở thành tài liệu lưu trữ.
Khái niệm về tài liệu lưu trữ, ở nước ta cũng như trên thế giới đang có những cách diễn đạt khác nhau trong các công trình nghiên cứu khoa học và các văn bản pháp luật của Nhà nước. Theo Từ điển Lưu trữ Việt Nam của Cục Lưu trữ Nhà nước năm 1992: Tài liệu lưu trữ là những tài liệu có giá trị lựa chọn từ trong toàn bộ khối tài liệu hình thành trong hoạt động của các cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp và cá nhân được bảo quản cố định trong các lưu trữ để khai thác phục vụ các mục đích chính trị, văn hóa, khoa học, lịch sử.của toàn xã hội [55, tr.72] Điều 1 Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia số 34/2001/PL-UBTVQH10 ngày 04/4/2001: Tài liệu lưu trữ quốc gia là tài liệu có giá trị về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ được hình thành trong các thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, trong quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức) và các nhân vật 10 lịch sử, tiêu biểu phục vụ việc nghiên cứu lịch sử, khoa học và hoạt động thực tiễn. Tài liệu lưu trữ quốc gia phải là bản chính, bản gốc của tài liệu được ghi trên giấy, phim, ảnh, băng hình, đĩa hình, băng âm thanh, đĩa âm thanh hoặc các vật mang tin khác; trong trường hợp không còn bản chính, bản gốc thì được thay thế bằng bản sao hợp pháp [28,tr. Hiện nay, ở nước ta, Luật Lưu trữ (2011), là văn bản pháp lý cao nhất, trong đó khái niệm tài liệu lưu trữ đã được ghi rõ: “Tài liệu lưu trữ là tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử được lựa chọn để lưu trữ.
Tài liệu lưu trữ bao gồm bản gốc, bản chính; trong trường hợp không còn bản gốc, bản chính thì được thay thế bằng bản sao hợp pháp”[25, tr. Từ những khái niệm trên cho chúng ta thấy rằng, tài liệu lưu trữ là những tài liệu có giá trị, phục vụ cho hoạt động thực tiễn, giải quyết công việc hàng ngày của các cơ quan, tổ chức; phục vụ nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học lịch sử. Tài liệu lưu trữ có mức độ chính xác cao, là nguồn thông tin gốc quý giá. Vì thế, các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải bảo quản an toàn tài liệu, làm bằng chứng để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình.
Tùy theo chức năng, nhiệm vụ được giao, các cơ quan, tổ chức trong quá trình hoạt động đã sản sinh ra những loại tài liệu lưu trữ khác nhau. Mỗi loại tài liệu có những đặc điểm riêng về nội dung cũng như chất liệu chế tác, hình thức thể hiện. Căn cứ vào những đặc điểm làm ra và nội dung của tài liệu, tài liệu lưu trữ thường được chia thành bốn loại chủ yếu: - Tài liệu hành chính (tài liệu quản lý hành chính): gồm các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính cá biệt, văn bản hành chính thông thường. Đây là loại tài liệu phổ biến nhất và nhiều nhất hình thành trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước.
11 - Tài liệu khoa học kỹ thuật: là tài liệu phản ánh các hoạt động về khoa học kỹ thuật, chủ yếu là tài liệu của các cơ quan khoa học kỹ thuật. Tài liệu khoa học kỹ thuật có nhiều loại như: đồ án thiết kế các công trình xây dựng cơ bản, tài liệu thiết kế chế tạo máy, tài liệu về điều tra địa chất, địa hình, tài liệu khí tượng thủy văn, tài liệu nghiên cứu khoa học. - Tài liệu nghe nhìn: là những tài liệu được ghi lại bằng hình ảnh và âm thanh về nội dung các sự việc, sự kiện diễn ra trong quá trình hoạt động của cơ quan. Tài liệu nghe nhìn có các loại như tấm phim, bức ảnh, phim điện ảnh, băng hình, băng ghi âm.
- Tài liệu điện tử: là loại tài liệu sản sinh ra trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân bằng phương tiện điện tử như công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự. Tài liệu điện tử bao gồm các file dữ liệu, cơ sở dữ liệu (còn được gọi là: “Thông điệp dữ liệu”). Khái niệm Công tác lưu trữ ra đời để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi khách quan của việc quản lý, bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ, nhằm phục vụ các nhu cầu hoạt động của xã hội và của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hiện nay, khái niệm công tác lưu trữ đang có những cách diễn đạt khác nhau.
Cụ thể như: Từ điển Lưu trữ Việt Nam (1992): “Công tác lưu trữ là một ngành hoạt động của Nhà nước (xã hội) bao gồm tất cả những vấn đề về lý luận, pháp chế và thực tiễn về tổ chức khoa học bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ” [55, tr.TS Dương Văn Khảm: “Công tác lưu trữ là toàn bộ các quy trình quản lý nhà nước và quản lý nghiệp vụ lưu trữ, nhằm thu thập, bổ sung, 12 bảo quản, bảo vệ an toàn và tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ” [65, tr. Giáo trình Lý luận và phương pháp công tác lưu trữ do Trường Đại học Nội vụ Hà Nội biên soạn năm 2016 đưa ra định nghĩa về khái niệm công tác lưu trữ như sau: “Công tác lưu trữ là hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức và các cá nhân trong tổ chức bảo quản, thu thập, thống kê và sử dụng tài liệu lưu trữ” [62,tr. Qua các khái niệm đã nêu trên chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất về công tác lưu trữ như sau: Công tác lưu trữ là một hoạt động của các cơ quan, tổ chức bao gồm toàn bộ quy trình quản lý nhà nước và quản lý nghiệp vụ lưu trữ, nhằm thu thập, bổ sung, bảo quản, bảo vệ an toàn và tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ. Nội dung của công tác lưu trữ Công tác lưu trữ là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ cần phải xác định được những nội dung cơ bản của công tác lưu trữ. Theo Từ điển tra cứu nghiệp vụ quản trị văn phòng - văn thư - lưu trữ Việt Nam, năm 2015, nội dung của công tác lưu trữ gồm hai quy trình chính đó là: quản lý nhà nước về công tác lưu trữ và quản lý nghiệp vụ lưu trữ. Hai quy trình đó bao gồm những hoạt động cụ thể như sau: - Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn, văn bản hướng dẫn về nghiệp vụ lưu trữ; - Tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện các quy định của nhà nước, của ngành về công tác lưu trữ; - Tổ chức nghiên cứu ứng dụng công nghệ tiên tiến vào công tác lưu trữ; - Tổ chức đào tạo cán bộ công chức, lưu trữ; - Quản lý hợp tác quốc tế trong lưu trữ; 13 - Thực hiện các quy trình nghiệp vụ lưu trữ như thu thập, bổ sung tài liệu lưu trữ; bảo quản, bảo vệ an toàn tài liệu lưu trữ; tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ cho yêu cầu nghiên cứu của xã hội. a) Quản lý nhà nước công tác lưu trữ Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
Quản lý nhà nước công tác lưu trữ là sự tác động của nhà nước thông qua pháp luật, bộ máy quản lý và các chế độ nghiệp vụ để công tác lưu trữ phát triển theo đúng những mục tiêu đã định của nhà nước và của toàn xã hội. Theo Pháp lệnh lưu trữ Quốc gia, năm 2001, nội dung quản lý nhà nước về lưu trữ bao gồm: - Xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển lưu trữ; - Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lưu trữ; - Quản lý thống nhất tài liệu lưu trữ quốc gia; - Thống kê nhà nước về lưu trữ; - Quản lý thống nhất chuyên môn, nghiệp vụ về lưu trữ; - Tổ chức, chỉ đạo việc nghiên cứu khoa học và ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong hoạt động lưu trữ; - Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức văn thư, lưu trữ; quản lý công tác thi đua, khen thưởng trong hoạt động lưu trữ; - Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về lưu trữ; - Hợp tác quốc tế về lưu trữ. 14 Các nội dung về quản lý nhà nước công tác lưu trữ còn được quy định chi tiết trong Luật lưu trữ (2011) và nhiều văn bản pháp luật về công tác lưu trữ quan trọng khác.