Chương 1 _ _ BANG THỜI HAN BAO QUAN - CÔNG CỤ CHỦ YEU DE XÁC ĐỊNH GIA TRI TAI LIEU HÌNH THÀNH TRONG HOAT DONG CUA CAC CO QUAN, TO CHUC 1. Khái niệm, mục đích, công dung của bảng thời hạn bảo quan tài liệu Trong các nghiệp vụ của công tác lưu trữ như thu thập bổ sung, phân loại, xác định giá trị, thống kê bảo quản, tổ chức sử dụng tài liệu. đều có các công cụ làm căn cứ và phương tiện thực hiện. Mỗi loại công cụ có những vai trò, chức năng riêng nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các nghiệp vụ lưu trữ được thống nhất, khoa học.
Chang han, danh muc hé so co quan, danh muc các cơ quan là nguồn nộp lưu tài liệu vào lưu trữ lich sử là cơ sở dé cán bộ lưu trữ thực hiện việc thu thập, bố sung tai liệu theo phạm vi quản lý và chức năng của lưu trữ cơ quan hay lưu trữ lịch sử; phương án phân loại tài liệu giúp cho việc phân loại tài liệu trong từng kho lưu trữ, phông lưu trữ cụ thé; các loại mục lục, số sách là phương tiện quản lý, thống kê về tình hình tài liệu; để tô chức sử dụng tài liệu thì có các loại mục lục hô sơ, thẻ tài liệu chuyên đê. Đối với việc xác định giá tri tài liệu - một trong những nhiệm vụ quan trọng, phức tạp và mang tính khoa học cao của công tác lưu trữ, việc sử dụng các loại công cụ cũng rất cần thiết và có một vai trò quan trọng. Công cụ xác định giá trị tài liệu là “những phương tiện để thực hiện xác định giá trị được dễ dàng, chính xác, nhằm lựa chọn được những tài liệu có giá tri bô sung vào lưu trữ và loại những tài liệu hết giá trỊ dé huỷ” [2,22]. Các loại công cụ xác định giá trị phổ biến hiện nay bao gồm: Danh mục hồ sơ Bảng thời hạn bảo quản tài liệu Danh mục các cơ quan là nguồn nộp lưu tai liệu vào lưu trữ lịch sử Danh mục thành phần tài liệu nộp lưu vào lưu trữ lịch sử 18 Các công cụ hướng dẫn xác định giá trị tài liệu trên hợp thành một hệ thong công cụ xác định giá tri tài liệu.
Mỗi loại công cụ vừa có tính độc lập và tác dụng riêng, vừa có mỗi quan hệ bé sung và hỗ trợ lẫn nhau. Trong số các công cụ hướng dẫn xác định giá trị tài liệu, bảng thời hạn bảo quản là công cụ chủ yếu và quan trọng nhất. Trước hết, về khái niệm thời hạn bảo quản, Từ điển Lưu trữ Việt Nam do Cục Lưu trữ Nhà nước xuất bản năm 1992 định nghĩa là “khoảng thời gian cần thiết dé lưu giữ tài liệu ké từ khi tài liệu kết thúc ở văn thư. Thời hạn bảo quan chủ yếu áp dụng cho tài liệu ở lưu trữ cơ quan.
Những tai liệu có giá tri lịch sử (bảo quản vĩnh viễn) không là đối tượng để xét thời hạn bảo quản” [2. Như vậy, thời hạn bảo quản là khoảng thời gian được quy định để bảo quản hồ so, tai liệu lưu trữ tinh từ khi tài liệu kết thúc giai đoạn văn thư cho đến khi tài liệu được xem xét dé loại ra tiêu huỷ. Theo định nghĩa này, tài liệu có giá trị lịch sử không là đối tượng để quy định thời hạn bảo quản vì những tài liệu này được bảo quản vĩnh viễn. Tuy nhiên, trên thực tế ở nước ta hiện nay, các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II là các lưu trữ lịch sử nhưng vẫn bảo quan cả những tài liệu bảo quản có thời hạn.
Đối với các lưu trữ địa phương, mặc dù đã có Thông tư số 21 của Bộ Nội vụ quy định về việc thành lập Phòng Văn thư Lưu trữ thuộc Văn phòng UBND tỉnh để thực hiện chức năng quản lý nhà nước công tác văn thư, lưu trữ trên địa ban tinh, còn các Trung tâm Lưu trữ tỉnh là don vi sự nghiệp, song đến thời điểm hiện tại, các Trung tâm Lưu trữ tỉnh vẫn vừa là lưu trữ hiện hành của cơ quan vừa là lưu trữ lịch sử của địa phương, do đó Trung tâm Lưu trữ tỉnh vừa bảo quản cả tài liệu có giá trị lịch sử (bảo quản vĩnh viễn), vừa lưu giữ tải liệu bảo quản có thời hạn. Trong thực tế, dé thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, nhiều loại văn bản được hình thành dé phục vụ cho việc điều hành, giải quyết công việc. Tuy thuộc vào tinh chất, yêu cầu của công việc mà tài liệu có những nội dung khác nhau nên giá trị của chúng cũng không giống nhau và cần có thời hạn bảo quản thích hợp. Do đó, để định thời hạn bảo quản cho mỗi loại sao 19 cho phù hợp với giá trị của chúng, cần có bảng thời hạn bảo quản tài liệu.
Bảng thời hạn bảo quản tài liệu (còn gọi là bảng kê tài liệu) được giải thích là “bang thống kê có hệ thống các loại tài liệu của một hay nhiều cơ quan cùng ngành chủ quản hoặc một bộ phận tải liệu của Phông Lưu trữ Quốc gia, thuộc một thời kỳ lịch sử nhất định, có chỉ rõ thời hạn bảo quản hoặc được quy định cần hay không cần đưa vào Nhà nước bảo quản”. Day là định nghĩa chung nhất về bảng thời hạn bảo quản. Từ định nghĩa trên có thể thấy, bảng thời hạn bảo quản là công cụ chủ yếu dùng dé xác định giá trị tài liệu hình thành trong hoạt động của các cơ quan. Việc xây dựng và sử dụng bảng thời hạn bảo quản tải liệu liên quan đến mục đích của công tác xác định giá trị tài liệu là lựa chọn tài liệu giữ lại dé bảo quản hoặc tiêu huỷ.
Đối với tài liệu giữ lại để bảo quản thì tuỳ thuộc vào giá trị của tài liệu mà định ra thời hạn bảo quản và lựa chọn tài liệu dé đưa vào lưu trữ lịch sử. Đối với các cán bộ, chuyên viên ở các cơ quan, bảng thời hạn bảo quản là căn cứ dé xác định và ghi thời hạn bảo quản cho hồ sơ trong quá trình lập hồ so công việc ở giai đoạn văn thư, giúp cho việc lập hồ sơ và xác định thời hạn bao quan của hồ sơ được dé dàng. Những hồ sơ được ghi thời hạn bảo quản sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ lưu trữ trong việc lựa chọn đầy đủ hồ sơ, tài liệu bổ sung vào lưu trữ hiện hành và xử lý những quy trình nghiệp vụ tiếp theo. Đối với lưu trữ hiện hành, bảng thời hạn bảo quản giúp cho việc chỉ đạo, hướng dẫn lập hồ sơ hiện hành và thu thập tài liệu được dé dang; xác định giá trị tài liệu trong chỉnh lý được chính xác; trên cơ sở đó lựa chọn những tai liệu thực sự có giá trị để giao nộp vào lưu trữ lịch sử.
Đối với lưu trữ lịch sử, tài liệu được thu thập bổ sung trên cơ sở bảng thời hạn bảo quản sẽ tránh được tình trạng tiếp nhận những tài liệu ít giá trị, do đó chất lượng tài liệu trong lưu trữ lịch sử được bảo đảm. Bảng thời hạn bảo quản cũng là căn cứ để xem xét những tài liệu hết giá trị, có thể loại ra để làm thủ tục tiêu huỷ. 20 Căn cứ vào bảng thời hạn bảo quản có thể xây dựng được các công cụ hướng dẫn xác định giá trị khác như: quy định thời hạn bảo quản tài liệu trong danh mục hồ sơ, xây dựng danh mục thành phần tài liệu nộp lưu. Bảng thời hạn bảo quản được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc, tiêu chuẩn về xác định giá trị tài liệu, đồng thời dựa vào các căn cứ pháp lý cũng như thực tế hình thành và nhu cầu sử dụng tài liệu.
Vì vậy, có thé nói bảng thời hạn bao quản có đủ gia tri về mặt khoa học, pháp lý và thực tế để hướng dẫn xác định giá trị tài liệu ở văn thư, lưu trữ hiện hành cũng như lưu trữ lịch sử. Bảng thời hạn bảo quản còn giúp tránh được sự chủ quan, phiến diện khi đánh giá giá trị của tài liệu trong một số trường hợp cụ thé, bởi lẽ nó có ý nghĩa như một phương tiện có tính thống nhất, chuẩn hoá thời hạn bảo quản đối với những loại tài liệu xác định. Sử dụng bảng thời hạn bảo quản cũng tránh được tình trạng tiêu huỷ tài liệu tuỳ tiện hoặc giữ lại tài liệu không đúng theo giá tri va thời gian cần thiết; bảo đảm cho sự toàn vẹn và chất lượng của từng phông lưu trữ nói riêng và Phông lưu trữ Quốc gia nói chung. Các loại bảng thời hạn bảo quản Nhìn chung, bảng thời hạn bảo quản có ý nghĩa là công cụ để xác định giá trị tài liệu như đã nêu trên.
Tuy nhiên, thực tế hoạt động xã hội có nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau nên chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, tổ chức cũng khác nhau, từ đó hình thành nên thành phần, nội dung, khối lượng tài liệu hết sức đa dạng, phong phú, đồng thời giá trị của chúng cũng không đồng nhất. Mỗi loại tài liệu có những giá trị, công dụng riêng, tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tô chức sản sinh ra tài liệu đó và tuỳ thuộc vào mục dich ma tai liệu được hình thành. Do đó, mỗi loại tài liệu lại có yêu cầu bao quan dé phục vu sử dụng theo giá trị của chúng và việc quy định thời hạn bảo quản tài liệu ở các cơ quan, tổ chức cũng không giống nhau. Xuất phát từ thực té nay, cần có một số loại bảng thời hạn bảo quản tai liệu đáp ứng được yêu cầu quản lý và sử dụng tài liệu một cách phù hợp.
Có thể nêu một số loại bảng thời hạn bảo quản tài liệu được sử dụng phô biến trong công tác lưu trữ của nước ta cũng như một số nước trên thế giới như sau: Bảng thời 21 hạn bảo quản tài liệu tiêu biểu hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, bảng thời hạn bảo quản tải liệu chuyên ngành, bảng thời hạn bảo quản mâu, bảng thời hạn bảo quản của từng cơ quan. Bảng thời hạn bảo quản tài liệu tiêu biểu hình thành trong hoạt động của các cơ quan, to chức Có thé nói, tất cả các cơ quan, di ở ngành nào, cấp nao, trong quá trình hoạt động, bên cạnh những tài liệu chuyên môn, chuyên ngành, đều hình thành các nhóm tài liệu quản lý hành chính. Đó là tài liệu về hoạt động quản lý, chỉ đạo, lập kế hoạch, kiểm tra, tài chính, thống kê, tổ chức cán bộ, lao động tiền lương .