Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC LƢU TRỮ TẠI CÁC CHI CỤC VĂN THƢ - LƢU TRỮ 1. Một số khái niệm 1. Tài liệu lưu trữ Tài liệu lưu trữ là tài liệu có giá trị được lựa chọn từ trong toàn bộ khối tài liệu hình thành qua hoạt động của các cơ quan hoạt động của các cơ quan, tổ chức và được bảo quản trong kho lưu trữ. Tài liệu lưu trữ là tài liệu bản gốc; bản chính, hoặc bản sao hợp pháp của tài liệu có giá trị về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ được hình thành trong các hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân qua các thời kỳ lịch sử; không phân biệt xuất xứ, nơi bảo quản, kỹ thuật ghi tin và vật mang tin; được lựa chọn giữ lại bảo quản phục vụ nghiên cứu khoa học, lịch sử và hoạt động thực tiễn [41, tr.
Văn bản có giá trị pháp lý cao nhất về công tác lưu trữ đã khẳng định là: “Tài liệu lưu trữ là tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử được lựa chọn để lưu trữ. Tài liệu lưu trữ bao gồm bản gốc, bản chính; trong trường hợp không còn bản gốc, bản chính thì được thay thế bằng bản sao hợp pháp”. Tài liệu lưu trữ có thể là tài liệu giấy, phim, ảnh, băng hình, đĩa hình, băng âm thanh, đĩa âm thanh hoặc các vật mang tin khác. Lưu trữ cơ quan Lưu trữ cơ quan là tổ chức thực hiện hoạt động lưu trữ đối với tài liệu lưu trữ của cơ quan, tổ chức [43, tr.
Lưu trữ lịch sử Lưu trữ lịch sử là cơ quan thực hiện hoạt động lưu trữ đối với tài liệu lưu trữ có giá trị bảo quản vĩnh viễn được tiếp nhận từ Lưu trữ cơ quan và từ các nguồn khác [43, tr. Công tác lưu trữ Công tác lưu trữ là một lĩnh vực hoạt động của xã hội bao gồm những vấn đề lý luận, thực tiễn và pháp chế liên quan tới quá trình hoạt động quản lý và hoạt động nghiệp vụ nhằm thu thập, bảo quản an toàn và tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ [39, tr. Công tác lưu trữ là một lĩnh vực hoạt động của nhà nước bao gồm tất cả những vấn đề lý luận, thực tiễn và pháp chế liên quan tới việc tổ chức khoa học, bảo quản và tổ chức khai thác, sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ phục vụ công tác quản lý, công tác nghiên cứu khoa học lịch sử và các nhu cầu chính đáng khác của các cơ quan, tổ chức, cá nhân [38, tr. Công tác lưu trữ là toàn bộ quy trình quản lý nhà nước và quản lý nghiệp vụ lưu trữ, nhằm thu thập, bổ sung, bảo quản, bảo vệ an toàn và tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ [41, tr.
Tóm lại, công tác lưu trữ là một ngành hoạt động của nhà nước, hoạt động của xã hội bao gồm tất cả những vấn đề lý luận, thực tiễn và pháp chế có liên quan đến việc bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu chính đáng của công dân. Các loại tài liệu lưu trữ Căn cứ vào nội dung và đặc điểm kỹ thuật, các loại tài liệu lưu trữ được phân thành bốn loại: tài liệu văn tự thành văn (tài liệu hành chính); tài liệu khoa học kỹ thuật và công nghệ; tài liệu nghe nhìn (phim điện ảnh, tài liệu ảnh, ghi âm, ghi hình); tài liệu điện tử, tài liệu kỹ thuật số [40, tr. 11 - Tài liệu văn tự thành văn: Tài liệu văn tự thành văn xuất hiện từ khi có chữ viết, được ghi trên các vật mang tin và ghi tin khác nhau bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn thi hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý nhà nước, văn bản cá biệt, văn bản hành chính thông thường. Đây là loại tài liệu phổ biến và nhiều nhất trong các cơ quan quản lý nhà nước.
Tài liệu này hình thành chủ yếu trên giấy viết thông thường, bằng các phương pháp đánh máy, in rônêô, máy tính, viết tay, được lập hồ sơ ở văn thư và nộp vào lưu trữ hiện hành của cơ quan theo quy định hiện hành [40, tr. - Tài liệu khoa học kỹ thuật: Tài liệu khoa học kỹ thuật phản ánh các hoạt động về khoa học kỹ thuật, chủ yếu là tài liệu của các cơ quan khoa học kỹ thuật, các trường đại học, các cơ sở sản xuất, thiết kế xây dựng, giao thông vận tải, … Tài liệu khoa học kỹ thuật có nhiều loại như: đồ án thiết kế các công trình xây dựng cơ bản; tài liệu thiết kế chế tạo máy; tài liệu về công nghệ; tài liệu về điều tra địa chất, địa hình; tài liệu khí tượng thủy văn; tài liệu nghiên cứu khoa học, tài liệu sáng chế, tài liệu phát minh; tài liệu tiêu chuẩn; tài liệu quản lý khoa học kỹ thuật [40, tr. - Tài liệu nghe nhìn (ảnh, phim điện ảnh, ghi âm, ghi hình): Tài liệu nghe nhìn là tài liệu ảnh, phim điện ảnh, ghi âm, ghi hình phản ánh các sự kiện, hiện tượng trong đời sống xã hội bằng hình ảnh và âm thanh. Tài liệu ảnh, phim điện ảnh, ghi âm, ghi hình gồm có âm bản các bức ảnh, các cuốn phim chụp và quay về các sự kiện, hiện tượng có ý nghĩa chính trị, văn hóa, khoa học lịch sử và những ý nghĩa khác; những băng đĩa ghi âm ghi lại những bài nói, diễn văn của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước; các nhà hoạt động xã hội và hoạt động khoa học nổi tiếng; những lời ca, bản nhạc của các nghệ sĩ xuất sắc [40, tr.
12 - Tài liệu điện tử, tài liệu kỹ thuật số: Tài liệu điện tử hình thành chủ yếu từ hai nguồn: Trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức thiết lập các hồ sơ điện tử (tập hợp các tài liệu điện tử có liên quan với nhau về một vấn đề, một sự việc, một đối tượng cụ thể hoặc có đặc điểm chung, hình thành trong quá trình theo dõi, giải quyết công việc thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân); Số hóa tài liệu lưu trữ trên các vật mang tin khác [40, tr. Từ bốn loại chính trên, tài liệu lưu trữ có thể được tiếp tục chia nhỏ ra các loại như: tài liệu ngôn ngữ học; tài liệu cá nhân, gia đình, dòng họ; tài liệu văn học nghệ thuật; tài liệu dân tộc học; tài liệu vật thật (khảo cổ); tài liệu truyền miệng; tài liệu điện tử, tài liệu đặc biệt quý hiếm… [40, tr. Nội dung nghiệp vụ của công tác Lưu trữ Khoản 1 Điều 2 Luật Lưu trữ (2011) quy định “Hoạt động lưu trữ là hoạt động thu thập, chỉnh lý, xác định giá trị, bảo quản, thống kê, sử dụng tài liệu lưu trữ”. Như vậy, nội dung nghiệp vụ của công tác lưu trữ gồm: - Thu thập, bổ sung tài liệu vào các phòng, kho lưu trữ; - Phân loại, chỉnh lý tài liệu tài liệu lưu trữ; - Xác định giá trị tài liệu lưu trữ; - Thống kê tài liệu lưu trữ; - Bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ.
Quản lý nhà nước đối với công tác lưu trữ Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [37, tr. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo Để quản lý thống nhất về công tác lưu trữ cần phải có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn thực hiện văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý. Việc ban hành, văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn phụ thuộc vào thẩm quyền của từng cơ quan. Tuy nhiên, nguyên tắc chung là những văn bản luật không được trái với hiến pháp, văn bản dưới luật không được trái văn bản luật, văn bản cơ quan cấp dưới không được trái với văn bản cơ quan cấp trên, văn bản ban hành sau không được trái với văn bản ban hành trước.
Và những văn bản này phải phù hợp với hệ thống pháp luật Việt Nam. Tất cả tạo thành một hệ thống giúp cho việc quản lý công tác lưu trữ được thống nhất, hiệu quả. Về thẩm quyền ban hành văn bản để quản lý công tác lun trữ gồm có: - Ở Trung ương: + Quốc hội: ban hành Luật lưu trữ. + Ủy ban thường vụ Quốc hội: ban hành Pháp lệnh.
+ Chính phủ: ban hành Nghị định. + Thủ tướng Chính phủ: ban hành Quyết định, Chỉ thị. + Bộ Nội vụ: Ban hành Thông tư (ngoài ra còn có Thông tư liên lịch do các Bộ phối hợp ban hành). + Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước: ban hành các văn bản hướng dẫn chỉ đạo về công tác lưu trữ trong phạm vi toàn quốc (đối với hệ thống cơ quan nhà nước).
Ngoài ra, các bộ (ngành) như: Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục Hải quan, Bảo hiểm Xã hội đều có các quy định về bảo quản, xác định giá trị tài liệu đối với ngành. 14 - Ở địa phương: + Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: ban hành các quyết định quy phạm pháp luật và các văn bản khác làm cơ sở pháp lý để quản lý thống nhất công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ trong phạm vi toàn tỉnh. Trên cơ sở đó, Sở Nội vụ (trước đây giao cho Văn phòng UBND tỉnh), ban hành các văn bản để hướng dẫn, đôn đốc nhắc nhở việc thực hiện. + Sở Nội vụ: tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo phù hợp với các quy định hiện hành và tình hình kinh tế - xã hội, đặc điểm công tác lưu trữ địa phương.
Mặt khác, Sở Nội vụ có trách nhiệm ban hành các văn bản cụ thể hóa văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ để các cơ quan cấp sở, các phòng Nội vụ quản lý tài liệu lưu trữ theo đúng quy định hiện hành; giúp Ủy ban nhân dân tỉnh kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện tốt các quy định.