ĐẶT VẤN ĐỀ Nấm Linh chi được xếp hàng đầu trong danh mục nấm dược liệu và từ lâu đã được xem là dược liệu quý trong đông y. Biết được những tác dụng quý của các hoạt chất trong nấm Linh chi, ngày càng nhiều nơi trên thế giới quan tâm nghiên cứu và bào chế các sản phẩm có thành phần hoạt chất từ nấm Linh chi, trong đó có Việt Nam. Ngày nay, qua nhiều công trình nghiên cứu khoa học hiện đại đã xác định được trên 100 hợp chất, dẫn xuất của nấm Linh chi và đã được chứng minh có tác dụng chữa bệnh, hỗ trợ cho hệ thống miễn dịch, thần kinh, phòng chống bệnh, bồi bổ sức khỏe và kéo dài tuổi thọ (De Clercq et al. Nấm Linh chi chứa nhiều thành phần có hoạt tính sinh học như triterpenoid, polysaccharide, meroterpenoid, sesquiterpenoid, steroid, alkaloid,….
Qua nhiều nghiên cứu từ các phòng thí nghiệm, các hợp chất này được tuyên bố là có khả năng chống lại các chất độc (Koyama et al., 1997), chống ung thư ( Ha et al., 2000) và khối u (Chen and Zhong, 2011) và cũng có khả năng chống viêm và kháng oxy hóa (Chan et al. Cùng đó, các hoạt chất sinh học có tác dụng dược lý mạnh của nấm Linh chi đều có bản chất Triterpennoid và polysacharide trong đó có cả hoạt chất kìm hãm α-glucosidase (AGIs). Cơ chế tác dụng là AGIs kết hợp với α- glucosidase ở ruột làm kìm hãm sự thủy phân tạo thành glucose, ngăn hấp thụ glucose đường huyết sau ăn, có tác dụng chống bệnh đái tháo đường và thừa cân béo phì (Holman, 1998). Trên thế giới đã có các nghiên cứu về chiết xuất và ứng dụng hoạt chất AGIs từ nấm Linh chi.
AGIs được tìm thấy trong nhiều trong quả thể nấm Linh chi, được đánh giá cao về hoạt tính kìm hãm α-glucosidase, ứng dụng hỗ trợ trị bệnh ĐTĐ và thừa cân béo phì. Sử dụng nấm Linh chi để thu nhận hoạt chất AGIs đang là hướng mới cho chất chiết xuất có hoạt tính kìm hãm α-glucosidase. Sản phẩm AGIs từ nấm Linh chi hiện đang được phát triển, với mục đích hỗ trợ kiểm soát đường huyết, hỗ trợ kiểm soát thừa cân béo phì. Trong thời gian gần đây, ở trong nước đã có một số nghiên cứu được tiến hành nhằm phát triển công nghệ và sản phẩm mới từ nấm Linh chi.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ chiết xuất có hỗ trợ bằng siêu âm để chiết xuất các hoạt chất sinh học từ nấm Linh chi vẫn còn rất hạn chế. Việc nghiên cứu 1 c ứng dụng sóng siêu âm để chiết xuất các hoạt chất sinh học từ nấm Linh chi nhằm tạo ra các sản phẩm thương mại có ý nghĩa khoa học và có tính thiết thực vì có thể mang lại lợi ích về kinh tế xã hội ở Việt Nam. Chính vì thế, việc nghiên cứu thu nhận AGIs từ các nguồn nấm Linh chi nguyên liệu trong nước và hướng ứng dụng ở điều kiện hiện tại của Việt Nam là vấn đề cấp thiết, mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao“Nghiên cứu thu nhận chất chiết có khả năng kìm hãm α- glucosidase từ nấm Linh chi” là một việc làm cấp thiết hiện nay. MỤC TIÊU - YÊU CẦU ĐỀ TÀI 1.
Mục tiêu Sử dụng nấm Linh chi để thu nhận được hoạt chất kìm hãm α-glucosidase đạt chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm, dùng cho chế biến thực phẩm chức năng đạt TCVN, góp phần đa dạng hóa sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe trên thị trường Việt Nam. Yêu cầu - Khảo sát và lựa chọn nấm Linh chi nguyên liệu cho hoạt tính kìm hãm α- glucosidase cao; - Tối ưu hóa quá trình tách chiết nấm Linh chi để thu nhận chất chiết hoạt tính kìm hãm α-glucosidase; - Xác định điều kiện làm khô của chất chiết từ nấm Linh chi. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Nước ta có nguồn nguyên nấm dược liệu nói chung và nấm Linh chi là rất đa dạng và phong phú. Trong sản xuất AGIs từ thiên nhiên cho hiệu quả giảm đường huyết đối với người bệnh ĐTĐ cao, sử dụng an toàn và không có tác dụng phụ.
Đó là lý do thúc đẩy nghiên cứu chọn các nấm Linh chi sản xuất trong nước làm nguyên liệu để chiết xuất AGIs. Các nấm Linh chi khảo sát và lựa chọn từ các nguồn nguyên liệu mẫu nấm Linh chi tại các hộ sản xuất ở các tỉnh khác nhau: Sa Pa (Lào Cai), TP Hưng Yên, Thạch Thành (Thanh Hóa), Đơn Dương (Đà Lạt), Yên Khánh (Ninh Bình). Phương thức chiết xuất chất chiết hoạt tính kìm hãm α-glucosidase với hỗ trợ chiết xuất bằng sóng siêu âm. 2 c Làm khô dịch chiết và tạo chế phẩm chất chiết AGIs từ nấm Linh chi giúp hỗ trợ điều trị ở người bệnh ĐTĐ và người thừa cân béo phì.
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ TÍNH THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN - Về mặt khoa học, đề tài đã đưa ra một số điểm mới: + Bước đầu đã lựa chọn được nấm Linh chi nguyên liệu ở Việt Nam cho chiết xuất dịch chiết có hoạt tính kìm hãm α-glucosidase cao; + Bước đầu xác định được quy trình chiết xuất, thu nhận chất chiết hoạt tính kìm hãm α-glucosidase AGIs từ nấm Linh chi với hỗ trợ sóng siêu âm và ứng dụng chế phẩm chất chiết AGIs từ nấm Linh chi cho sản xuất bột uống liền; - Kết quả luận án là công trình ở Việt Nam nghiên cứu bước đầu về thu nhận chất chiết hoạt tính kìm hãm α-glucosidase AGIs từ nấm Linh chi bằng hỗ trợ sóng siêu âm (từ việc lựa chọn nấm Linh chi nguyên liệu, các điều kiện chiết AGIs, làm khô dịch chiết tạo chế phẩm chất chiết AGIs từ nấm Linh chi), góp phần làm phong phú thêm nguồn thu các chất có hoạt tính kìm hãm α- glucosidase để ngăn ngừa bệnh ĐTĐ và béo phì. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NẤM LINH CHI 2. Nguồn gốc, phân loại và đặc điểm thực vật của nấm Linh chi 2.
Nguồn gốc Nấm Linh chi (Ganoderma lucidum) được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới. Nó thường mọc trên những thân cây mục hay còn gọi là Linh chi thảo, do vậy nhiều tác giả đã cho rằng đây là một loại cây cỏ thực ra Linh chi là một loại nấm. Trong tự nhiên, nấm Linh chi chỉ mọc ở rừng rậm, ít ánh sáng và có độ ẩm cao, thường thấy xuất hiện trên những thân cây mục (Nguyễn Hữu Đống và cs. Trung Quốc được coi là cái nôi phát hiện nấm Linh chi, từ đầu thế kỷ 17 nấm Linh chi đã được biết đến, nuôi trồng và sử dụng như nguồn dược liệu quý.
Tại Nhật Bản, đến năm 1971, hai giáo sư của trường đại học Kyoto là Yukio Naoi và Zenzabuno Kasai đã nghiên cứu thành công công nghệ gây giống và từ đó nấm Linh chi mới sản xuất được ở quy mô lớn (Lê Xuân Thám, 1996). Phân loại Tên gọi: Nấm Linh chi, Nấm lim, Nấm trường thọ… Tên khoa học: Ganoderma lucidum Nấm Linh chi có vị trí phân loại được thừa nhận rộng rãi hiện nay (Nguyễn Lân Dũng, 2001): Giới (regnum): Nấm (Fungi); Ngành (phylum): Nấm đảm (Basidiomycota); Lớp (class): Agaricomycetes; Bộ (ordo): Polyporales; Họ (familia): Nấm gỗ (Ganodermataceae); Chi (genus): Ganoderma; Loài (pecies): Ganoderma Lucidum Linh chi được chia thành hai nhóm là Cổ Linh chi và Linh chi - Cổ Linh chi: Tên khoa học là Ganoderma applanatum (Pers) Past, còn 4 c gọi là Linh chi đa niên nhiều tầng và có hàng chục loài khác nhau. Đây là các loài nấm gỗ không cuống hoặc cuống rất ngắn, có nhiều tầng, mỗi năm thụ tầng lại phát triển thêm một lớp mới chồng lên. Mũ nấm hình quạt, màu từ nâu xám đến đen sẫm, bề mặt trên sù sì thô ráp.
Nấm rất cứng, cứng như gỗ lim nên còn gọi là nấm lim. - Linh chi: Tên khoa học là Ganoderma lucidum (Leyss ex fr) kart, có nhiều loài khác nhau. Kết quả thống kê cho thấy, chủng loại Linh chi rất phong phú, ước tính thống kê trên thế giới có trên 200 loài nấm Linh chi, có loài hình nấm nhưng mũ không tròn mà nhăn nheo, có loài hình giống như trái thận, có loài giống như sừng hươu. Các loại nấm Linh chi 2.
Đặc điểm thực vật của nấm Linh chi Nấm Linh chi thường có ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Trong tự nhiên, nấm thường chỉ có ở nơi rừng rậm, ít ánh sáng và có độ ẩm cao (Trương Thị Hòa và cs. Linh chi có cấu tạo 2 phần: Phần cuống và mũ nấm. Cuống nấm biến dị rất lớn từ rất ngắn 0,5 cm; cho đến dài cỡ hàng 5 - 10 cm hoặc rất dài 20 – 25 cm.
Cuống có thể đính ở bên hoặc đính gần tâm do quá trình lên tán mà thành. Mũ nấm dạng thận gần tròn, đôi khi xoè hình quạt hoặc ít nhiều dị dạng. Trên mặt mũ có vân gợn đồng tâm và có tia rãnh phóng xạ, màu vàng nâu, vàng cam, đỏ cam, đỏ nâu, nâu tím hoặc nâu đen, nhẵn bóng như láng vecni. Kích thước tán biến động từ 2 – 30 cm; dày 0,8 - 2,5 cm.
5 c Thịt nấm dày từ 0,4 - 1,8 cm; màu vàng kem, nâu nhạt hoặc trắng. Nấm mềm, dai khi tươi và trở nên chắc cứng và nhẹ khi khô, hệ sợi kiểu trimitic, đầu tận cùng của sợi phình hình chuỳ, màng rất dày đan khít vào nhau tạo thành lớp vỏ láng phủ trên mũ và bao quanh cuống (Nguyễn Đức Tiến, 2006). Thành phần hóa học Cho đến nay, các nhà khoa học đã tìm ra nấm Linh chi có chứa các hoạt chất quý như triterpenoid, polysaccharide, peptid, steroid, acid amin, khoáng chất (Dược liệu học, 2013), và không no (Nguyễn Anh Dũng, 1995), protein, alkaloid, nucleosid (Huang S., 2010), ergosterol (American Herbal Pharmacopoeia and Therapeutic Compendium) và các vitamin (Gow T. et al, 2008; Paterson R.
Hàm lượng một số thành phần hợp chất chính trong nấm Linh chi gồm: nước 12-13%; cellulose 54-56%; lignin 13-14%; hợp chất có nitơ 1,6-2,1%; hợp chất phenol 4-5%; chất béo 1,9-2%; kali 1,9-2%; natri 0,08-0,12%; canxi 1-1,2% (Ngô Thanh Vân, 2016). Trong số các thành phần hóa học của nấm Linh chi thì polysaccharide và triterpenoid được chú ý hơn cả vì những tác dụng sinh học đáng kể của chúng (Bao X. et al, 2001; Iris F. Polysaccharide Các polysaccharide được phân lập từ bào tử, quả thể và sợi nấm Linh chi hoặc tách từ dung dịch môi trường nuôi cấy nấm (Huie C.
Polysaccharide là một trong những thành phần có hàm lượng cao của G. Dây nối (1,3)-β-D-glucan làm cho mạch polysaccharide có dạng xoắn tương tự như tinh bột. (1,3)-β-D-glucan tan trong nước nóng và tan một phần trong nước lạnh. Dung dịch nước của các (1,3)-β-D-glucan ở nồng độ cao có độ nhớt cao (Dược liệu học, 2013).