CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIỚI THIỆU VỀ CÂY ĐU ĐỦ Đu đủ (Carica Papaya L. Nguồn gốc Châu Mỹ được trồng khắp nơi ở nước ta.
Phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở nước ta có một chi và một loài [1]. Cây Đu đủ có tên khoa học là Carica papaya Linn. Cây nhỏ hoặc nhỡ, cao từ 2-4 mét, thân thẳng, không phân nhánh.
Lá to, mọc so le, tập trung ở ngọn. Cuống lá rất dài, xẻ 5-7 thùy sâu, gốc hình tim, đầu nhọn, mỗi thùy lại chia tiếp thành nhiều thùy nhỏ không đều, gân lá hình chân vịt, hai mặt nhẵn [1]. Cây Đu đủ còn được gọi Thù đủ, Phiên mộc, Cà lào, Phiên qua, Phan qua thụ, Lô hong phlê (Campuchia), Mắc hung (Lào), Má hống (Thái). Đu đủ thường là cây đồng chu, nhưng Đu đủ có thể xếp thành 3 loại trên phương diện giới tính: cây đực, cây lưỡng tính và cây cái.
Vài cây Đu đủ cũng có thể thuộc cả ba loại nói trên. Ngoài ra cũng có cây ra hoa không hẳn hoàn toàn đực, cái hay lưỡng tính mà lại pha lẫn nhiều ít đặc tính của ba loại hoa (Hình 1. Khuynh hướng thay đổi giới tính phần lớn do thời tiết gây ra như khô hạn và thay đổi nhiệt độ [6]. A: hoa cái B: hoa lưỡng tính C: hoa đực D: trái của cây cái E: trái lưỡng tính F: cây đực Hình 1.
Hình ảnh Đu đủ SVTH: Mai Thị Hoàng Yến - 14CHD 4 Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS. Đỗ Thị Thúy Vân 1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA HOA ĐU ĐỦ TRONG NƯỚC Năm 2015, Giang Thị Kim Liên và Đỗ Thị Lệ Uyên khảo sát thành phần hóa học của hoa Đu đủ đực. Kết quả cho thấy sự có mặt của alcaloid, este, acid béo, một số sterol trong hoa Đu đủ đực thu hái tại Đà Nẵng [5].
Năm 2016, Trần Thanh Hải đã phân lập được 2 hợp chất Kaempferol và Kaempferol-3-O-β-glucopyranosid từ phân đoạn ethyl acetatee trong hoa Đu đủ đực thu hái trên địa bàn tỉnh Quảng Nam [4]. Năm 2017, Lê Thị Thanh Phương đã phân lập được 2 hợp chất Kaempferol và β- sitosterol glucoside từ phân đoạn chloroform trong hoa Đu đủ đực thu hái trên địa bàn Quảng Nam - Đà Nẵng [12]. NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA HOA ĐU ĐỦ NGOÀI NƯỚC Năm 2015, Stephen Chinwendu và cộng sự công bố thành phần hóa học của hoa Đu đủ ở Nigeria. Cho kết quả trong hoa chứa saponin (0,07%), alcaloid (0,05%), tannin (0,002%) và flavonoid (2,8%).
Ngoài ra còn chứa các nguyên tố vô cơ Na, Ca, Mg, P và các vitamin như B1, B2, B3, C [11]. Cũng trong năm 2015, Marline Nainggolan và Kasmirul công bố kết quả trong hoa Đu đủ đực có chứa các thành phần gồm triterpenoid, steroid, flavonoid, tannin, glycoside và saponin [14]. Tóm lại đã phân lập được Kaempferol, Kaempferol-3-O-β-glucopyranosid (Glucosinolate), β-sitosterol glucoside (Sterol) trong hoa Đu đủ đực. Như vậy, thành phần hóa học hoa Đu đủ đực đã được nghiên cứu.
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu còn khá ít. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA HOA ĐU ĐỦ Tác dụng chống ung thư SVTH: Mai Thị Hoàng Yến - 14CHD 5 Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS. Đỗ Thị Thúy Vân Năm 2015, Marline Nainggolan và Kasmirul công bố nghiên cứu dịch chiết ethanol của hoa Đu đủ đực có tác dụng gây độc tế bào trên MCF-7 dòng tế bào ung thư vú [14]. Năm 2017, Đỗ Thị Thúy Vân và Giang Thị Kim Liên đã công bố kết quả sàng lọc thử hoạt tính gây độc tế bào ung thư của một số dịch chiết từ hoa Đu đủ đực thu hái ở Quảng Nam-Đà Nẵng.
Kết quả cho thấy phân đoạn dịch chiết chloroform có hoạt tính gây độc tế bào tốt trên 3 dòng ung thư phổi A549, ung thư gan Hep3B và ung thư vú MCF-7 ở hai nồng độ thử nghiệm 30 µg/mL và 100 µg/mL. Tác dụng chống oxy hóa Gốc tự do là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra nhiều loại bệnh trong cơ thể, trong đó có ung thư. Gốc tự do được tạo ra trong cơ thể bởi nhiều cách khác nhau như: ô nhiễm môi trường, chất phóng xạ, thuốc-hóa chất, căng thẳng thần kinh,. Công dụng trong dân gian Trong dân gian hoa Đu đủ đực tươi hoặc phơi khô hấp với đường phèn dùng chữa bệnh ho, viêm cuống phổi, khàn tiếng hoặc mất tiếng ở người lớn, nhất là ở trẻ em.
Ngoài ra hoa Đu đủ đực được dùng để chữa sỏi thận hiệu quả [6,11]. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HOẠT TÍNH GÂY ĐỘC TẾ BÀO Hoạt tính gây độc tế bào được thử theo phương pháp của Scudiero D. và cộng sự [18]. Đây là phương pháp thử độ độc tế bào in vitro được viện Ung thư Quốc gia (NIC) Maryland, Hoa Kỳ xác nhận là phép thử độ độc tế bào chuẩn, nhằm sàng lọc, phát hiện các chất có khả năng kìm hãm sự phát triển hoặc diệt tế bào ung thư ở điều kiện in vitro.
Trong những năm gần đây, một số phương pháp so màu nhanh đã được miêu tả trong thử nghiệm trên các dòng tế bào ung thư ở mức độ in vitro, hiện nay hai phương pháp thường được sử dụng là: phương pháp MTT và phương pháp SRB. Phương pháp MTT Phương pháp này lần đầu tiên được miêu tả bởi Tim Mosmann trên tạp chí Immunological Methods năm 1983 [9]. Theo tác giả, muối tetrazolium được dùng để triển khai phép thử so màu, qua đó đánh giá về sự sống sót và khả năng phát triển của tế bào động vật. Nguyên lý của phép thử là vòng tetrazolium bám chặt vào ti thể của tế bào SVTH: Mai Thị Hoàng Yến - 14CHD 6 Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS.
Đỗ Thị Thúy Vân hoạt động, dưới tác dụng của enzym dehydrogenase, màu vàng của MTT biến đổi thành màu tím formazan. Kết quả đọc trên máy quang phổ và có độ chính xác cao. Phương pháp được dùng để đo độ độc của chất nghiên cứu, khả năng phát triển và hoạt động của tế bào. Phương pháp SRB Phép thử SRB được phát triển bởi Philip Skehan và cộng sự năm 1990 để đánh giá độc tính của chất nghiên cứu và khả năng phát triển của tế bào trong ứng dụng sàng lọc thuốc ở qui mô lớn.
Nguyên tắc của phép thử là khả năng nhuộm màu của SRB lên protein SRB nhuộm bằng cách phá vỡ màng tế bào, những mảnh vỡ tế bào không bị nhuộm, do đó không ảnh hưởng đến số liệu thực nghiệm. Phương pháp SRB dựa trên khả năng liên kết tĩnh điện và sự phụ thuộc vào pH của các dư lượng amino acid của các protein. Dưới các điều kiện môi trường acid nhẹ, SRB liên kết với các dư lượng amino acid trên các protein của các tế bào đã được cố định bằng trichloroacetic acid (TCA) và sử dụng bazơ yếu như Tris-base để hòa tan và đo mật độ quang của dịch chiết từ tế bào một cách định lượng. SVTH: Mai Thị Hoàng Yến - 14CHD 7 Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS.
Đỗ Thị Thúy Vân CHƯƠNG 2. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. NGUYÊN LIỆU, HÓA CHẤT, THIẾT BỊ NGHIÊN CỨU 2. Nguyên liệu Nguyên liệu hoa của cây Đu đủ đực được thu hái tại.
Quảng Nam- Đà Nẵng vào tháng 01 năm 2017. Hoa Đu đủ đực – đã được định danh, sau khi được thu hái sẽ được rửa sạch, phơi, sấy khô và xay nhỏ thành bột để sử dụng cho nghiên cứu. Cây Đu đủ đực được chọn lấy hoa cao khoảng 1,5 m – 2,0 m có nhiều lá và hoa. Hoa Đu đủ đực nở theo chùm, màu trắng, hoa nở nhiều, còn nhiều nụ, không bị sâu.
Cuống hoa hình trụ, màu xanh lục, thân xốp. Bột hoa Đu đủ đực hơi thô, màu vàng nhạt, được bảo quản trong bình hút ẩm. Hoa Đu đủ đực và Bột hoa Đu đủ đực 2. Hóa chất và thiết bị nghiên cứu Dung môi chiết n-hexane, ethyl acetate, chloroform, methanol, ethanol và nước cất.
Một số hóa chất khác cũng được sử dụng. Các thiết bị xác định cấu trúc chất: Phổ khối GC-MS. Ngoài ra còn dùng một số trang thiết bị khác như máy quay cất chân không, tủ sấy, tủ nung, máy siêu âm, cân phân tích, cốc thủy tinh, bình tam giác, các loại pipet, bình định mức, giấy lọc,… 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Xác định chỉ số vật lí Độ ẩm SVTH: Mai Thị Hoàng Yến - 14CHD 8 Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS. Đỗ Thị Thúy Vân Tiến hành: Chuẩn bị các cốc được rửa sạch, được đánh số thứ tự, và được sấy khô trong tủ sấy đến khối lương không đổi m0. Sấy xong bỏ vào bình hút ẩm cho đến khi đạt nhiệt độ phòng thì cân khối lượng các cốc sứ. Mẫu để xác định độ ẩm là mẫu hoa Đu đủ đực, cân lấy khối lượng chính xác m1 trên cân phân tích, cho vào cốc sứ chuẩn bị sẵn và đem đi sấy ở nhiệt độ 1000C.
Cứ sau 2 giờ lấy ra để trong bình hút ẩm cho nguội đến nhiệt độ phòng rồi cân đến khối lượng mẫu không đổi m2. Cách tính độ ẩm: Độ ẩm của mỗi mẫu là hiệu số khối lượng giữa khối lượng mẫu trước và sau khi cân. Suy ra độ ẩm trung bình của 5 mẫu. Độ ẩm được tính theo công thức sau Trong đó: m0: Khối lượng cốc sứ (g) m1: Mẫu bột hoa Đu đủ đực (g) m2: Cốc sứ chứa bột hoa đu đủ sau khi sấy (g) W: Độ ẩm của mẫu (%) Độ ẩm chung là độ ẩm trung bình của 5 mẫu.
Hàm lượng tro Tro toàn phần: Là khối lượng cặn còn lại sau khi nung cháy hoàn toàn một mẫu thử trong điều kiện nhất định. Tiến hành: Cân 5 mẫu hoa Đu đủ đực sấy khô ở trên với khối lượng m1 đem than hóa sơ bộ trên bếp điện rồi cho vào lò nung ở 400-4500C trong thời gian từ 4 đến 6 tiếng, cho đến khi thu được tro trắng. Lấy mẫu ra làm nguội đến nhiệt độ phòng trong bình hút ẩm, cân lại mẫu. SVTH: Mai Thị Hoàng Yến - 14CHD 9 Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD:ThS.
Đỗ Thị Thúy Vân Sau đó cho vào nung 2 tiếng lấy mẫu ra làm nguội đến nhiệt độ phòng trong bình hút ẩm, cân lại mẫu đến khối lượng m2 không đổi. Khối lượng các chất hữu cơ tổng được tính là tổng chất hữu cơ bị đốt cháy, là hiệu số giữa khối lượng mẫu ban đầu và khối lượng tro sau khi nung. Cách tính kết quả: Hàm lượng tro được tính bằng công thức: Trong đó: m0: Khối lượng cốc sứ m1: Mẫu hoa Đu đủ đực sau khi sấy khô (g) m2: Khối lượng của cốc sứ và hoa Đu đủ đực sau khi tro hóa (g) Hàm lượng tro được lấy trung bình từ các mẫu trên.