mở đầu gồm : - Lý do chọn để tài : giới thiêu để tài và lịch sử vấn để. Phương pháp nghiên cứu : là những thao tác chính trong quá trình thực hiện luận vin, - Bố cục : là kết cấu của luận văn. + Trong ph4n nội dung gồm ba chương : được chia theo thời gian và sự phát triển củu căn cứ địa Dương Minh Châu qua các thời kỳ. Chương |: giỏi thiệu vể vùng đất, con người và truyền thống đấu tranh của nhân dân Dương Minh Châu.
Chương 2 : xự ra đời của chiến khu Trà Vong - Dương Minh Chau, lý giải nguyên nhân tại sae chọn vùng Bắc Tây Ninh làm vân cứ địa. Những leet động của tạ và dich từ năm 1945 đến khi inanh iập huyện căn cử Dương Minh Châu. k, Sal TRƯỜNG ĐẠI HỌCVaan SURE Cục miền Nam, cũn cứ của Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miễn Đông cho đến những odin thắng cuối cùng của cuộc chiến tranh. + Trong phần kết luận : Rút ra các đặc điểm, tính chất, vai trò của căn cứ Dương Min h Châu và những bài học kinh nghiệin qua công tác xây dựng và bảo vệ căn cứ.
VÀINÉTVỀCHIẾƯNÂƠUKHGIDƯƠNGMIH LUANWANOTNGHIER - TRUONG ĐẠT HỌC SUIPHAM TP HCM| 1. Điều kiện tư nhiên : Nằm trong vùng trung du miễn Dong Nam Độ, huyện Dương Minh Châu ngày nay nằm về phía Đông Bắc tỉnh ly, cách thị xi Tây Ninh 20 km theo đường liên tinh 13, phía Bắc giáp huyện Tân Châu, Dong Hắc giáp tỉnh Bình Dương, Đông Nam giáp huyện Trảng Bàng, Tây Nam giáp huyền Gò Dau và Tây giáp huyện Hoà Thành. Mặc dù đến năm 1951 huyện căn cứ Dương Minh Châu mới được thành lập, nhưng vùng đất này ngay từ những ngày đấu chong thực din Pháp xâm lược Mn thứ hai ,nơi đây đã được các đơn vị bộ đôi chon lầm nơi đứng chân, Các căn cứ cách mạng đã lần lượt ra đời như căn cứ How Lat (Bau Chanh), Yên The, Lam Sua, Trà Vong,. và Dương Minh Châu sau này.
Tdy từng thời ky, có lúc là những căn cứ riêng re, có khi là cả vùng căn cứ rộng lớn, thậm chí mở rộng trên cả vùng rừng núi Bắc Tây Ninh lên đến biên giới Campuchia với tên gọi Dương Minh Châu, trở thành nơi nhân dân Nam Bộ hướng về để nuôi dưỡng ý chi và niềm tin vào cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Diện tích tự nhiên vùng Dương Minh Chiu hấu hết là rừng với nhiều loại gỗ quí và cây an quả. Sau khi nhân dân dến đây khai hoang, lập ấp, bắt đầu khai thác rừng và dẫn dẫn xóm làng, ruộng rẫy hình thành. Tuy nhiên, diện tích rừng vốn còn tất lớn.
Trong rừng có đủ loại danh mộc như trắc, cẩm lai, gõ đỏ, sao, sến, mun, căm xe,. và các loại cây phổ biến khác. Có những loại cây lấy thân và lá làm nguyên liệu xây dựng nhà cửa như tre, nứa, lổ ổ, lá buông, lá trung quân. Ở ting thấp có nhiều cây thuốc quý như bạch truật, cam thio, xâm, mã tiền, hà thủ ô,.
rất nhiều cây, lá củ ăn được như củ mài, củ chụp, măng, cải trừi, tàu bay, lá bép, lá bướm,. Các loại động vật nhiệt đới có mặt trong rừng tự nhiên ở miền Đông Nam Bộ thì hầu như cũng có đủ mặt ở rừng Dương Minh Châu, các loại thú lớn như voi, cọp, beo, gấu, đến các loại thú vừa và nhỏ như hươu, nai,.và nhiều loại chim muông khác. Chiến khu Dương Minh Châu có địa hình khá đặc biệt, nằm giữa hai con sông : sông Vàm Cỏ Đông ở phía Tây và sông Sài Gòn ở phía Đông. Nơi đây có một vị trí quan trọng là cầu nối từ vùng rừng núi bạt ngàn.Nam Tây Nguyên xuống vùng đồng bằng Nam Bộ và đô thị lớn như Sài gòn.
con sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ tỉnh Svây-Riêng (Campuchia), chdy từ ‘Tay Hắc xuống Dong Nam qua địa bàn Dương Minh Châu xuống đến Cần Dước rồi đổ ra cửa xông Soài Rạp, đáy sông sâu, chịu ảnh hưởng củu thủy triểu lên xuống mỗi ngày, tầu thuyển di lại để dàng. Do đặc điểm đó nên sông Vàm Cỏ cũng là một con dường giao thông quan trong từ Tây Ninh xuống Đồng bằng Nam bộ, sang Campuchia và ngược lại, Mặt khác, rừng bạt ngàn từ Dương Minh Châu lên đến biên giới Bắc Tây Ninh sang Campuchia, nối liền căn cứ dia của ta với vùng Đông Nam Campuchia, là vùng vựa lúa, giầu nhân lực vật lực của nước bạn. Còn ở phía nam, có rừng vừa và nhỏ lan xuống đường liền tỉnh 13 giáp với vùng ~ z2x<vÖN | Se LUẬN ĂÀNHỐT NGHIỆP : TRƯỜNG ĐẠIHỌCSU PHAM TP HCM` dan cư và đô thị. Ngoài ru con có nhiều dường thủy bộ tiếp cân thành phố Sài Gòn, nơi đặt cơ quan đầu não cho cuộc xâm: lực của dich (cách Sài Gòn 70 km theo đường chim bay ).
Núi Bà Đen cao 986m, nổi lên giữa một vùng đồng bằng như là một trạm gác tự nhiên. Thuan lợi cho vice quan sit và phát hiện địch từ xa. Tóm lại, địa lý tự nhiên của vùng Dương Minh Châu có núi, có rừng xen kế với trắng rộng, hổ ao, nhưng cũng có đất dai trồng trọt được các loại lương thực hoa màu. Vị trí vùng này gần đô thị, cách trung tâm thị xã Tây Ninh chưa đến 230km đường chim bay, Do đó, nơi đây hội dé các tính chất cơ bản của bavùng chiến lược, trong đó yếu tố rừng núi chiếm vị tri đặc biệt, có thể kết hợp với cúc yếu tỏ khúc để phát huy sức mạnh tổng hợp của mình.
Ở day, lực lượng ta vừa có thế tiến vừa có thế lùi vừa có thế áp sát đô thị. Như vậy, đây là một vùng đất có mới quan hệ vé mọi mặt quân sự, chính trị, kinh tế với các địa phương khúc trong toàn Nam Bộ và sang cả Campuchia láng giểng. Truyền thống yêu nước và dấu tranh cách mạng của nhân dân vùng Dương Minh Châu : Để hình thành nên một cin cứ dịu không thể chỉ đơn giản là địa hình, địa thế mà còn một yếu tố quan trọng là con người. "Con người Tây Ninh nói chung và Dương Minh Châu nói riêng là rất cách mạng”, đó là lời phát biểu trong Hội thảo Khoa học về căn cứ địa ở Tây Ninh, năm1982, của ông Hai Chiến”, một cán bộ cách mạng lão thành từng lăn lộn chiến đấu ở chiến trường Tây Ninh.
Quả thật, nhân dân ở đây mang đặc điểm của những người di mở dat; khí khái, hào hiệp và có truyền thống đoàn kết chống thiên tai, địch hog, gide cướp để bảo vệ cuộc sống của chính mình cũng như của xóm làng. Từ cuối thế kỷ XVI, Tây Ninh, mảnh đất tiến tiêu ở phía tây bắc phủ Gia Định đã được các vị lãnh binh triểu đình Huế coi là nơi có dia hình, vị ui thuận lợi làm căn cứ chống giặc cướp bảo vệ nhân dân dja phương và giữ gìn bờ cõi. Không kể các sự kiện đã bị thời gian xóa đi các vết tích, khoảng năm 1837 nhân dân dia phương đã cùng các vị lãnh binh Huy Công Giãng tông lú Trà Vong) đánh đuổi giặc cướp giữ yên biên giới Tây nam. Ngày nay, miếu ông lớn Trà Vong còn ở nhiều nơi phía bắc tỉnh Tây Ninh (ấp Tua Hai, xã Thái Bình, huyện Châu Thành).(2) Thực dân Pháp xâm hase nước ta, triểu đình phong kiến nhà Nguyễn hèn yếu đã đi từ nhượng bộ này đến nhướng bộ khoác, Năm 1862, ký hòa ước cất ba tỉnh miễn Đông Nam Kỳ cho Pháp, Nhân dân "Váy Ninh đã cùng với các vị Linh Binh Tong, Lãnh Binh Két lợi dụng thế rừng tập hơi: lực lượng chống giặc Nghĩa quân do Lãnh ' Hai Chiến tực Huỳnh Thành Mua.
Trích Wii phất biểu (ái Hội thầu Khoa học về cần cử dja Bắc Tây Ninh, năm 1983, hồ sơ lưu tại Ban toyên giầo tinh Tây Ninh 2 Trịch: Sơ thảo cân cử địa Bấc Tây Ninh ofim 1983 SVTH NGUYÊN THI LAN ES +: no: Binh Tòng chỉ huy cũng đã từng kéo xé tiếp viện ở dén Chí Hoà khi đồn Chí Hòa dang bị uy hiếp, Ở phía Bắc Tỉnh, Kham Văn Tuding chống lại lệnh bãi binh của triều đình lui quân về phủ An Cơ (xã Hảo Đước ngày nay) xây dựng lực lượng kháng chiến. Nghĩa quần của ông đã hoạt dong nhiều nam, gầy không ít kinh hoàng cho giặc. Ngày nay, ở Bến Thứ xã Hảo Dude vẫn còn đến this Gng và dấu tích hào thành xưa. Trong các phong trào kháng chiến chống Phdp khác, giai dogn này, nổi bật là lực lượng nghĩa quân do Trương Quyền lãnh đạo.
Sau khi "Trương Định hy sinh oanh liệt ở Gò Công, Trương Quyển đưa quân về Tây Ninh tiếp tục tổ chức đánh Pháp ở vùng Truông Mit. Nghĩu quân do ông chỉ huy đã dựa vào địa thế rừng Bắc Tây Ninh ẩn hiện đánh Pháp ở nhiều nơi : rừng Trà Vong, rừng Hòa Hội, rừng Truông Mit. Về sau, ông phối hợp với nghĩa quân Khư-me của Pôcumpô, Liên quân Việt-Khơ-me đã tiến vào thị xã Tây Ninh, giặc Phấp phải nhiều lin cấu cứu viện binh từ Sài Gòn lên bằng đừơng thủy và bộ để đối phó với nghĩa quân, Chúng đã trả một giá đắt khi xâm chiếm đất này : tên Tinh trưởng Lare Leauze, quan ba Pind, quan một Le Sage bị giết ở bến Trường Đôi sát thị xã Tây Ninh, Tén quan tự Marchaise bỏ thây ở rạch Vịnh,.và nhiều sĩ quan binh lính Pháp phải phơi thầy ở khắp cúc vùng rừng, trắng, dim lẩy, những nơi nghĩa quân lựi dụng dia hình thuận Idi phục kích giết giặc. Trong những nam tháng đen tối thuộc Pháp, vùng rừng phía bắc Tây Ninh cũng là nơi dung thân của nhiều nông dân, không chịu nổi sư hóc lột tàn tệ của bọn địa chủ và thực dân thống trị, đã bỏ xứ lên đây vỡ đất làm ăn xinh xống.
Trong những năm 30 của thế kỷ XX, nhiều cán bộ Dang viên của Đảng đã dựa vào địa hình rừng núi Tây Ninh trú ẩn và hoạt động. Năm 1930, phía rừng Giống Nẵng, Long Giang, Long Khánh đã có các nhóm đẳng hoạt động. Những năm 1934-1945, phía Bầu Sen, Bàu Dài (xã Phươc Hội ), Quán Cơm (xã Thái Bình - Chau Thanh) thành lập nhóm đẳng. Đến năm 1938-1939, ở Thanh Điển, Trí Bình có phong trào đấu tranh của công nhân cao su do đẳng viên lãnh đạo.