Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu; 12 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu; Chương 3: Thực trạng và Phương pháp nghiên cứu; Chương 4: Phân tích kết quả và kiểm định mô hình nghiên cứu; Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. Ngoài ra, đề tài còn có danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục đính kèm. 13 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2.1 Khái niệm về du lịch Theo Trần Đức Thanh (2006), thu ở ban đầ u , con người đã cho rằng du lịch đơn thuần là các chuyến đi xa khỏi nơi cư trú để thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu về thế giới xung quanh. Thuật ngữ du lịch theo tiếng Hy lạp có nghĩa là đi một vòng.
Sau đó, thuật ngữ này được Latinh hóa thành thành tornus và sau đó thành tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh). Theo Robert Lanquar, từ tourist lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800. Trong tiếng Việt, thuật ngữ tourism được dịch thông qua tiếng Hán. Du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải Tuy nhiên, người Trung Quốc gọi tourism là du lãm với nghĩa là đi chơi để nâng cao nhận thức.
Tại Hội nghị Liên hiệp Quốc về du lịch họp tại Roma – Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” Theo Luật Du lịch năm 2017: ”Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.2 Khái niệm khách du lịch nội địa Theo Trần Đức Thanh (2006) thì tại Hội nghị Liên hiệp Quốc về du lịch họp tại Roma – Italia (21/8 – 5/9/1963) thống nhất quan niệm và sau này được 14 tổ chức du lịch thế giới (WTO) chính thức thừa nhận: ”Khách du lịch nội địa là những người đang sống trong một quốc gia, không kể quốc tịch nào, đi thăm một nơi khác không phải là nơi cư trú thường xuyên trong quốc gia đó trong thời gian ít nhất 24 giờ và không quá một năm với mục đích nào đó ngoài việc hành nghề để kiếm tiền tại nơi đến. Còn theo theo Luật Du lịch năm 2017 thì quy định: ”Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam”.3 Khái niệm về điểm du lịch và điểm đến du lịch Theo Luật Du lịch năm 2017 thì quy định: ”Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch được đầu tư, khai thác phục vụ khách du lịch” Điểm đến du lịch (Tourism destination) là một trong những khái niệm rất rộng và đa dạng – được dùng để chỉ một địa điểm (place) có sức hút với tập du khách khác biệt cao hơn so với địa điểm cùng cấp so sánh xung quanh bởi tính đa dạng tài nguyên, chất lượng và một loạt các tiện nghi và hoạt động (trong đặc biệt quan trọng là hoạt động quảnlý và marketing) cung cấp cho du khách ; do ở đây tồn tại các yếu tố sơ cấp đặc thù (khí hậu, sinh thái, truyền thống văn hoá, các kiến thức truyền thống, loại hình vùng đất) cùng các yếu tố thứ cấp như các khách sạn, giao thông – vận tải và các khu vui chơi giải trí và hoạt động được quy hoạch và quản lý như một hệ thống “mở”. Điểm đến có thể hiểu đơn giản là các địa điểm du lịch như các công viên chủ đề, những câu lạc bộ khách sạn và các làng du lịch.
Những nơi này có thể là các điểm đến cho một chuyến đi trong ngày, một kỳ nghỉ ngắn hoặc dài ngày.4 Khái niệm tài nguyên du lịch Theo Luật Du lịch năm 2017: ”Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du 15 lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn”. Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ cho du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hoá, khảo cổ, kiến trúc, di tích lịch sử - văn hoá, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác được sử dụng với mục đích phục vụ du lịch.5 Khái niệm sản phẩm du lịch Theo Luật Du lịch năm 2017: ”Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch” Theo định nghĩa trên thì sản phẩm du lịch có thể là món hàng cụ thể như phòng ngủ khách sạn và các tiện nghi, các món ăn, đồ uống của nhà hàng, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ hoặc một món hàng không cụ thể như điều kiện thiên nhiên nơi ở nghỉ mát, chất lượng phục vụ của các công ty vận chuyển hành khách (hàng không, tàu hoả, tàu thuỷ, ôtô.) trong nhiều trường hợp sản phẩm du lịch là sự kết hợp những món hàng cụ thể và không cụ thể.6 Phân loại du lịch Có thể phân chia loại hình du lịch theo các căn cứ như sau: + Theo phạm vi của chuyến đi du lịch: Du lịch nội địa là chỉ du lịch do cư dân trong nước rời khỏi nơi cư trú của mình tới một nơi khác trong nước để du lịch.
+ Theo thời gian du lịch, bao gồm: (i) Du lịch ngắn ngày: thường được tổ chức vào những ngày nghỉ cuối tuần, thường là từ 1 đến 2 ngày; loại hình du lịch này thì thường chỉ đến những điểm du lịch gần nơi cư trú; (ii) Du lịch dài ngày: là những chuyến đi du lịch kéo dài từ một đến vài tuần, thường là tổ chức đi đến những điểm du lịch xa nơi cư trú. 16 + Theo vị trí địa lý của nơi đến tham quan du lịch, bao gồm:(i) Du lịch biển: loại hình có tính chất mùa vụ rõ rệt, loại hình này chủ yếu diễn ra vào mùa hè, được phát triển ở những vùng có bãi biển đẹp; (ii) Du lịch thôn quê: Khách du lịch chủ yếu là những người sống ở thành thị muốn tìm nơi yên tĩnh để nghỉ ngơi hoặc muốn thưởng thức hương vị của đồng quê với những món ăn lạ của vùng quê; (iii) Du lịch miền núi: Khách thường tìm đến những vùng núi có khí hậu trong lành, cảnh quan thiên nhiên đẹp để vui chơi, giải trí. + Theo chuyên đề đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, bao gồm: (i) Du lịch văn hoá: là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống;(ii) Du lịch tôn giáo: đây là hình thức du lịch cổ xưa, hình thức du lịch này nhằm thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng của những người theo đạo giáo khác nhau; (iii) Du lịch thể thao: loại hình du lịch này thu hút những du khách có nhu cầu gắn liền với thể thao; (iv) Du lịch nghỉ ngơi, giải trí: nhằm hưởng thụ sự vui chơi, giải trí sau những ngày lao động mệt mỏi để phục hồi sức khoẻ, tinh thần cho con người.7 Hành vi chi tiêu của khách du lịch 2.1 Khái niệm về hành vi tiêu dùng “Hành vi người tiêu dùng là sự tương tác năng động của các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và môi trường mà qua sự thay đổi đó con người thay đổi cuộc sống của họ” (Leon Schiffman, David Bednall, Elizabeth Cowley, Aron O’Cass, Judith Watson, Leslie Kanuk, 2001. Hành vi người tiêu dùng là những phản ứng của khách hàng, dưới tác động của những kích thích bên ngoài và quá trình tâm lý bên trong diễn ra thông qua quá trình quyết định lựa chọn hàng hóa, dịch vụ.2 Mô hình hành vi người tiêu dùng Dựa trên nghiên cứu tâm lý hành vi người tiêu dùng.
Philip Kotler đã đưa ra mô hình lý giải hành vi mua, lựa chọn sản phẩm, thương hiệu, nơi bán như hình 2. 17 Yếu tố môi trường Hộp đen ý thức Quyết định của người mua Kích thích Kích thích khác: Đặc điểm Quá trình ra quyết Marketing người mua định - Sản phẩm - Kinh tế - Văn hóa - Nhận thức vấn đề - Lựa chọn sản phẩm - Giá - Công nghệ - Xã hội - Tìm kiếm thông tin - Lựa chọn nhãn hiệu - Địa điểm - Chính trị - Tâm lý - Đánh giá - Lựa chọn nhà cung ứng - Chiêu thị - Văn hóa - Cá tính - Quyết định - Định thời gian mua - Hành vi sau khi mua - Định số lượng mua Hình 2.1 Mô hình hành vi của người tiêu dùng (Nguồn: Philip Kotler (2001), Quản trị Marketing, Nhà xuất bản Thống kê) Các yếu tố kích thích gồm có hai nhóm: - Nhóm 1: Các yếu tố kích thích marketing bao gồm 4 phần tử: Sản phẩm, giá, các địa điểm phân phối và chiêu thị. - Nhóm 2: Các tác nhân kích thích khác bao gồm những lực lượng thuộc môi trường của người mua như: Môi trường kinh tế, công nghệ, chính trị và văn hóa. Những phản ứng của người mua có thể quan sát được bộc lộ qua hành vi của người mua trong việc lựa chọn sản phẩm, lựa chọn nhãn hiệu, lựa chọn nhà cung ứng, định thời gian và số lượng mua.
- Những đặc tính của người mua: Có ảnh hưởng cơ bản đến việc người mua tiếp nhận các tác nhân kích thích và phản ứng đáp lại với những tác nhân đó như thế nào. - Quá trình quyết định mua của người tiêu dùng: kết quả của việc mua sắm hàng hóa sẽ phụ thuộc vào những quyết định này. Đây là hai nội dung cơ bản của việc nghiên cứu hành vi mua của người tiêu dùng. Như vậy, hành vi người tiêu dùng là những phản ứng của khách hàng dưới tác động của những kích thích bên ngoài và quá trình tâm lý bên trong diễn ra thông qua quá trình quyết định lựa chọn hàng hóa, dịch vụ.