Chương 1: TỔNG QUAN 1. Các đặc tính quang học của bột huỳnh quang ứng dụng trong chiếu sáng rắn 1. Sự phát quang của bột huỳnh quang Bột huỳnh quang có cấu tạo gồm hai phần là chất nền và chất pha tạp hay còn gọi là tâm phát quang. Chất nền đóng vai trò chính trong việc tạo ra trường tinh thể tác dụng lên chất pha tạp gây ra hiện tượng tách mức năng lượng của chất pha tạp và ảnh hưởng đến các đặc tính quang của tâm phát quang.
Chất nền được chọn là những chất có độ bền nhiệt, bền cơ học, cấu trúc ổn định, độ rộng vùng cấm lớn. Chất pha tạp (tâm phát quang) là những nguyên tử hay ion có cấu hình điện tử với một số lớp chỉ lấp đầy một phần (các ion đất hiếm có lớp f chưa bị lấp đầy hoặc ion kim loại chuyển tiếp có lớp d chưa lấp đầy), có cấu trúc phù hợp với mạng nền và nhạy quang học. Chất pha tạp đóng vai trò là tâm phát huỳnh quang đa màu trong các mạng nền. Cơ chế phát quang của vật liệu phụ thuộc vào cấu hình điện tử của các tâm phát quang.
Đối với bột huỳnh quang có tâm phát quang là các ion kim loại chuyển tiếp, do có cấu hình điện tử không được điền đầy ở lớp ngoài nên khi đưa vào mạng nền, các ion này sẽ tương tác mạnh với trường tinh thể do mạng nền tạo ra dẫn đến sự phân tách các mức năng lượng của các ion. Sự tách mức năng lượng của ion kim loại chuyển tiếp dưới ảnh hưởng của trường tinh thể làm cho vùng hấp thụ và phát xạ thay đổi.1 mô tả sự phân tách các mức năng lượng của một số ion kim loại chuyển tiếp khi chịu ảnh hưởng của trường tinh thể. Sự phân tách các mức năng lượng của một số ion kim loại chuyển tiếp do tương tác tĩnh điện[26] Tiếp theo, các electron trong ion kim loại chuyển tiếp dịch chuyển lên các mức điện tử của lớp d chưa được điền đầy. Quá trình trở về trạng thái năng lượng ban đầu sẽ phát xạ ánh sáng.2(a) là sơ đồ mức năng lượng Tanabe - Sugano của các ion Mn4+.2(b) là sơ đồ chuyển mức năng lượng của ion trong vật liệu SrMg2La2W2O12: Mn4+ Tóm lại, chính sự dịch chuyển giữa các mức điện tử của lớp d chưa được điền đầy và ảnh hưởng của trường tinh thể do mạng nền gây ra quyết định tính chất quang học của ion kim loại chuyển tiếp trong mạng nền, dẫn đến các đặc tính quang hấp dẫn của bột huỳnh quang pha tạp ion kim loại chuyển tiếp.
Hiện tượng dập tắt huỳnh quang do nồng độ Cường độ phát quang của vật liệu phụ thuộc rất nhạy vào nồng độ các tâm phát quang (nồng độ pha tạp) trong mạng nền. Khi nồng độ các tâm phát quang không quá lớn, nếu tăng dần nồng độ pha tạp thì cường độ phát quang tăng dần bởi sự tăng lên của các tâm phát quang. Khi nồng độ của các tâm phát quang đạt tới giá trị ngưỡng nào đó (giá trị tới hạn), nếu tiếp tục tăng nồng độ pha tạp sẽ làm giảm cường độ phát quang của vật liệu. Hiện tượng này gọi là sự dập tắt huỳnh quang do nồng độ.3 mô tả sự phụ thuộc của cường độ phát quang cực đại của mẫu SrLaAlO4: Mn4+ vào nồng độ Mn4+.
Hiện tượng này xảy ra có thể là do một trong những nguyên nhân sau: - Do sự mất mát năng lượng kích thích từ trạng thái bức xạ khi xảy ra hiện tượng hồi phục ngang giữa các tâm phát quang. - Sự gia tăng nồng độ tâm kích hoạt làm cho năng lượng kích thích của các tâm suy giảm. Đồ thị mô tả sự phụ thuộc của cường độ phát quang cực đại của mẫu SrLaAlO4:Mn4+ vào nồng độ Mn4+[28] Hiện tượng dập tắt này xuất phát từ hiệu ứng truyền năng lượng giữa các ion xảy ra ở nồng độ cao. Xác suất truyền năng lượng tới các ion bên cạnh lớn hơn xác suất phân rã phát xạ.
Vì vậy, đối với mẫu có nồng độ tạp cao, năng lượng được truyền qua nhiều ion kích hoạt mà không phát ra bức xạ. Điều này làm suy giảm cường độ phát quang của mẫu. Hiện tượng này được giải thích thông qua hình 1. Sự dập tắt huỳnh quang khi nồng độ pha tạp thấp (a) và sự dập tắt huỳnh quang do pha tạp với nồng độ cao (b) e 11 Nếu xét đây là quá trình truyền năng lượng giữa các tâm giống nhau, khoảng cách tới hạn RC được định nghĩa là khoảng cách mà xác suất truyền năng lượng bằng xác suất phát xạ của các tâm.
Có hai phương pháp để xác định khoảng cách tới hạn RC là dựa vào phương trình Blasse (1.1) và phương trình Dexter (1.2) cho quá trình truyền năng lượng do tương tác lưỡng cực - lưỡng cực 3V 13 R C = 2( ) (1.2) Trong đó: XC là nồng độ tâm kích hoạt lúc bắt đầu xảy ra hiện tượng dập tắt và -2 N là tổng số tâm kích hoạt trong một ô cơ sở. P là 10 nếu đó là chuyển dời lưỡng cực điện được phép. Giá trị E và ∫fs(E)fa(E)dE được tính toán từ các phổ kích thích và bức xạ đã được chuẩn hóa. Dexter và cộng sự đã cho rằng, toàn bộ quá trình truyền năng lượng gồm gồm 5 bước: (1) sự hấp thụ một photon do tăng nhạy, (2) sự biến dạng của mạng nền do tăng nhạy, (3) truyền năng lượng đến tâm kích hoạt, (4) giải phóng tâm và chất tăng nhạy, (5) phát ra năng lượng.
Nồng độ giới hạn của tâm kích hoạt trong mạng nền ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phát quang của vật liệu[30][31]. Blasse đã chỉ ra rằng, khoảng cách tới hạn RC xấp xỉ bằng hai lần tích của bán kính và thể tích ô cơ sở (phương trình 1. Hiệu suất lượng tử Hiệu suất lượng tử là một đặc trưng của vật liệu huỳnh quang.3) N ht Trong đó: là hiệu suất lượng tử. Npx là số electron phát ra, Npx phụ thuộc vào sai hỏng, nồng độ pha tạp,… e 12 Nht là số electron hấp thụ.
Giá trị hiệu suất lượng tử của các bột huỳnh quang càng cao thì đèn LED hoạt động càng tốt.5 mô tả quang phổ hấp thụ và phát xạ của bột huỳnh quang. Quang phổ hấp thụ và phát xạ của bột huỳnh quang[44] Từ hình 1.5 ta có thể tính được hiệu suất lượng tử của bột huỳnh quang.5, có ba phổ: phổ ánh sáng kích thích từ nguồn (excited light -reference), excited light - sample biểu diễn phổ của phần ánh sáng không bị hấp thụ hết hoặc bị phản xạ, phổ phát xạ (luminescence light). Số photon phát xạ được tính bằng diện tích mặt phẳng bên dưới tạo bởi phổ luminescence light gọi là diện tích phổ phát quang. Số photon hấp thụ được tính bằng diện tích phần nằm giữa hai phổ excited light - reference và excited light.
Tóm lại, từ phổ hấp thụ và phát xạ ta có thể tính được hiệu suất lượng tử bằng cách xác định tỷ số giữa diện tích phổ phát xạ với diện tích phố hấp thụ. Độ ổn định nhiệt độ Nhiệt độ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng mạnh đến cấu trúc, hình thái và tính chất quang của bột huỳnh quang. Ở điều kiện nhiệt độ thích hợp, bột huỳnh quang sẽ phát xạ với cường độ tốt nhất. Đối với mỗi loại bột huỳnh quang nhất định, cần tìm ra nhiệt độ phát xạ tốt nhất và giữ bột huỳnh quang ổn định ở nhiệt độ đó.
Độ ổn định nhiệt độ của bột huỳnh quang ảnh hưởng lớn đến hiệu suất phát quang của bột huỳnh quang. Bột huỳnh quang cho phát xạ tốt ở nhiệt độ phòng và vẫn cho phát xạ tốt ở nhiệt độ từ 60 - 80 oC. Ở nhiệt độ cao hơn 125oC, hiệu suất phát quang của đèn huỳnh quang giảm. Do đó, cần chú ý đến độ ổn định nhiệt độ của bột huỳnh quang để đảm bảo hiệu suất phát quang của bột huỳnh quang.6 (a) mô tả cường độ phát quang của bột huỳnh quang ở các nhiệt độ khác nhau, Hình 1.6 (b) mô tả hiệu suất phát quang ở các nhiệt độ khác nhau.
(a) mô tả cường độ phát quang của bột huỳnh quang ở các nhiệt độ khác nhau, (b) mô tả hiệu suất phát quang ở các nhiệt độ khác nhau.[45] Dựa vào hình 1.6 (b), ở nhiệt độ khoảng 60oC thì bột huỳnh quang sẽ có hiệu suất phát quang tốt nhất. Bắt đầu từ nhiệt độ lớn hơn 150 oC thì sự dập tắt e 14 huỳnh quang sẽ xảy ra. Do vậy, cần chú ý đến độ ổn định nhiệt độ của bột huỳnh quang để đảm bảo hiệu suất phát quang. Hình thái và kích thước Hình dạng, kích thước của hạt vật liệu có vai trò quan trọng, ảnh hưởng lớn đến hiệu suất phát quang của vật liệu.
Khi sự phát quang xảy ra, các tia bức xạ sẽ bị tán xạ, khúc xạ, tương tác với hạt vật liệu. Trong vật liệu huỳnh quang, các hạt đồng đều nhau và có dạng hình cầu thì hiệu suất phát quang sẽ cao hơn. Kích thước của các hạt thường từ nanomet đến vài micromet tùy từng lĩnh vực. Các loại bột huỳnh quang 1.
Bột huỳnh quang truyền thống Bột huỳnh quang truyền thống sử dụng nguyên liệu calcium halophosphate. Bột huỳnh quang calcium halophosphate được hoạt hóa với các ion Sb3+, Mn2+ hấp thụ bước sóng 254nm do hơi thủy ngân phát ra và phát ra ánh sáng nhìn thấy. Bột huỳnh quang calcium halophosphate được hoạt hóa ion Sb3+ và Mn2+ ứng dụng chủ yếu trong các đèn huỳnh quang phát ra ánh sáng trắng trong công nghiệp. Halophosphate với thành phần Ca5(PO4)3X (X= F, Cl) đóng vai trò là mạng nền.
Ion Sb3+ và Mn2+ có khả năng thay thế Ca2+ trong mạng nền và đóng vai trò chính trong sự phát quang của bột huỳnh quang. Quá trình phát ánh sáng trắng như sau: Ion Sb3+ hấp thụ bức xạ từ hơi thủy ngân (~254nm) và phát ra ánh sáng xanh da trời[32]. Mn2+ hầu như không hấp thụ bức xạ từ hơi thủy ngân mà chỉ nhận năng lượng hấp thụ bởi Sb3+ và phát ra ánh sáng đỏ - cam (~580nm). Ánh sáng xanh do Sb3+ phát ra kết hợp với ánh sáng đỏ - cam do Mn2+ phát ra tạo ra ánh sáng trắng.7 là phổ phát huỳnh quang của calcium halophosphate A: ion Sb3+, B: ion Mn2+, C: Halophosphate phát ánh sáng trắng.8 mô tả phổ huỳnh quang của bóng đèn sử dụng bột Halophosphate e 15 Hình 1.
Phổ phát huỳnh quang của calcium halophosphate A: ion Sb3+, B: ion Mn2+, C: Halophosphate phát ánh sáng trắng[32] Hình 1.8 Phổ huỳnh quang của bóng đèn sử dụng bột Halophosphate[32] Đèn huỳnh quang sử dụng bột huỳnh quang calcium halophosphate là nguyên liệu rẻ góp phần giảm giá thành sản xuất. Tuy nhiên, đèn huỳnh quang e 16 tỏa ra lượng nhiệt khá lớn.