Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ hoá học của tác giả Hoàng Hải Hiền với đề tài "Nghiên cứu chế tạo các blend trên cơ sở cao su thiên nhiên" được thực hiện tại Khoa Hoá học – Trường Đại học Vinh phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Vật liệu Polyme và Compozit – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS Bùi Chương và PGS. TS Hoàng Văn Lựu. Công trình thuộc chuyên ngành Hoá hữu cơ (mã số 62.14), bảo vệ năm 2014 tại Nghệ An.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Việt Nam là quốc gia có sản lượng xuất khẩu cao su thiên nhiên lớn với diện tích canh tác đạt khoảng 910.000 ha và sản lượng đạt 863.600 tấn. Cao su thiên nhiên (CSTN) là nguồn nguyên liệu dồi dào, giá thành thấp, thân thiện với môi trường và có độ bền cơ lý cao nhờ khả năng tự kết tinh khi kéo căng. Tuy nhiên, CSTN có nhược điểm lớn là kém bền nhiệt, kém bền thời tiết và không có khả năng kháng các loại dung môi không phân cực như xăng, dầu và mỡ.
Ngược lại, các loại cao su tổng hợp phân cực như cao su butadien nitril (NBR) có tính năng kháng dầu mỡ và chịu nhiệt vượt trội nhưng độ bền cơ học khi không có chất độn lại thấp và giá thành cao. Việc chế tạo vật liệu polyme blend từ CSTN và cao su tổng hợp (NBR, SBR, CSE) kết hợp với các chất độn kích thước nano là giải pháp kỹ thuật nhằm tận dụng ưu điểm của từng cấu tử, tạo ra vật liệu mới có tính năng cơ lý cao, bền dầu và hạ giá thành sản phẩm. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là do sự khác biệt lớn về độ phân cực và thông số độ tan, các pha cao su trong blend thường không tương hợp nhiệt động, dẫn đến cấu trúc dị thể phân tách pha thô và làm suy giảm cơ tính nếu không có quy trình công nghệ và hệ chất tương hợp phù hợp.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nâng cao tính chất sử dụng của cao su thiên nhiên bằng cách chế tạo blend của nó với các cao su tổng hợp (NBR, SBR), cao su thiên nhiên biến tính (CSE) và sử dụng các chất độn nano silica nhằm định hướng ứng dụng trong các sản phẩm kỹ thuật chịu dầu và chịu lực.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
- Hệ blend giữa cao su thiên nhiên (SVR 3L) và cao su butadien nitril (NBR KNB 35L chứa 34% acrylonitril).
- Hệ blend giữa cao su thiên nhiên và cao su thiên nhiên epoxy hoá (CSE-20 với 20% nhóm epoxy và CSE-50 với 50% nhóm epoxy).
- Hệ blend giữa cao su thiên nhiên và cao su butadien styren (SBR 1502).
- Các chất tương hợp và chất lưu hoá động: dicumyl peroxyt (DCP), cao su cloropren cắt mạch (CR Baypren 110), benzoyl peroxyt (BPO).
- Chất độn nano silica (WL180GR) được biến tính bề mặt bằng chất liên kết bis (3-trietoxysilyl propyl) tetrasunfit (TESPT).
- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát ảnh hưởng của các phương pháp hỗn luyện nóng chảy, tỷ lệ phối trộn các cấu tử, hàm lượng chất tương hợp, hàm lượng chất độn nano đến cấu trúc hình thái, đặc trưng lưu biến, tính chất cơ học, độ bền nhiệt và độ trương trong dung môi xăng A92 và dầu nhờn.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp chế tạo và tỷ lệ phối trộn đến tính chất cơ lý và độ bền môi trường của vật liệu blend CSTN/NBR.
- Nghiên cứu nâng cao khả năng tương hợp của blend CSTN/NBR bằng các chất tương hợp đơn lẻ và hệ tương hợp kết hợp (DCP, CSE-20, CSE-50, CR); ứng dụng phần mềm Design-Expert để tối ưu hóa hàm lượng chất tương hợp.
- Chế tạo và khảo sát cấu trúc, tính chất của vật liệu nanocompozit trên cơ sở blend CSTN/NBR gia cường bằng nano silica biến tính silan TESPT.
- Nghiên cứu chế tạo và đánh giá tính chất của các hệ blend khác trên cơ sở cao su thiên nhiên: blend CSTN/CSE-20 (và nanocompozit CSTN/CSE-20/nanosilica) và blend CSTN/SBR (1:1) tương hợp bằng BPO.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về vật liệu polyme blend và polyme nanocompozit:
Các hướng nghiên cứu quốc tế
- Nghiên cứu về tương hợp và hình thái pha CSTN/NBR: Các tác giả Baker, Hallam và Smith đã khảo sát quá trình lưu hoá của blend CSTN và NBR (41% acrylonitril), chỉ ra sự suy giảm độ bền kéo ở các tỷ lệ trung gian do sự bất tương hợp pha và hiện tượng cắt mạch trong quá trình trộn hợp. Ahmad và Wheelans phân tích sự thay đổi cơ tính và cấu trúc hình thái của blend CSTN/NBR (41% AN), chứng minh tốc độ rotor máy trộn Banbury và thời gian hỗn luyện ảnh hưởng lớn đến kích thước pha NBR.
- Nghiên cứu về thông số độ tan và nhiệt động học: Bohn và Corish công bố bảng thông số độ tan của CSTN ($8{,}25\text{ (cal.cm}^{-3})^{1/2}$) và các loại NBR ($8{,}93\text{ (cal.cm}^{-3})^{1/2}$ cho NBR 20% AN; $9{,}92\text{ (cal.cm}^{-3})^{1/2}$ cho NBR 40% AN; $10{,}5\text{ (cal.cm}^{-3})^{1/2}$ cho NBR 45% AN), cho thấy độ phân cực của NBR càng cao thì khả năng tương hợp với CSTN càng giảm.
- Nghiên cứu về phân bố chất độn và phụ gia: Craig, Fowler, Hess, Marsh, Eckert, Callan và Scott đã chứng minh than đen có ái lực cao hơn với pha NBR phân cực so với pha CSTN, dẫn đến sự phân bố không đồng đều chất độn giữa hai pha. Koning và các cộng sự tổng kết các giải pháp nâng cao độ tương hợp cho polyme blend như sử dụng copolyme khối/ghép, lưu hoá động chọn lọc, peroxyt hữu cơ và chất độn hoạt tính.
- Nghiên cứu về nanocompozit: Ansarifar, Qinfu Liu, Yuko Ikeda, Kurakami, Ou, Tangpasuthadol và Zheng Peng đã phát triển các phương pháp chế tạo polyme nanocompozit gia cường bằng nano silica thông qua trộn hợp nóng chảy, trộn hợp dung dịch, phương pháp sol-gel và trùng hợp in situ.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
- Các nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Vật liệu Polyme và Compozit (Đại học Bách khoa Hà Nội), Viện Hoá học Vật liệu (Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự) và Viện Kỹ thuật Nhiệt đới đã chế tạo các hệ blend CSTN/CR làm khe co dãn và gối cầu, blend PVC/NBR và PVC/CSE chống cháy, blend CSTN/LDPE làm đệm chống va đập tàu biển và đế giày.
- Các công trình của Đỗ Quang Kháng, Nguyễn Phi Trung nghiên cứu hệ blend CSTN/NBR/PVC, CSTN/NBR/CSE chịu môi trường phục vụ chế tạo đệm ray tàu hỏa, gioăng đệm máy biến thế; nghiên cứu của Hạnh, Đào Thế Minh sử dụng DCP làm tác nhân lưu hoá động cho blend cao su – nhựa nhiệt dẻo.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Mặc dù blend CSTN/NBR đã được khảo sát ở nhiều góc độ, việc thiết lập quy trình hỗn luyện tối ưu nhằm kiểm soát sự phân bố pha, sử dụng hệ chất tương hợp kết hợp giữa peroxyt hữu cơ (DCP) và cao su biến tính/cắt mạch (CR, CSE), áp dụng mô hình toán học tối ưu hóa đa mục tiêu bằng quy hoạch thực nghiệm và gia cường bằng nano silica biến tính silan TESPT phân tán đồng đều ở kích thước nanomet trong nền blend cao su vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và nguyên lý hoá lý
- Nhiệt động học quá trình trộn hợp polyme: Điều kiện để hai polyme tạo thành hệ blend tương hợp nhiệt động là biến thiên năng lượng tự do trộn lẫn mang giá trị âm:
$$\Delta G_{Tr} = \Delta H_{Tr} - T \cdot \Delta S_{Tr} < 0$$
và đạo hàm bậc hai theo phần thể tích cấu tử phải dương:
$$\frac{\partial^2 (\Delta G_{Tr})}{\partial \phi^2} > 0$$
Do khối lượng phân tử polyme rất lớn nên biến thiên entropy $\Delta S_{Tr}$ rất nhỏ, trong khi nhiệt trộn lẫn $\Delta H_{Tr}$ giữa CSTN không phân cực và NBR phân cực thường mang giá trị dương, dẫn đến hệ blend CSTN/NBR là hệ không tự tương hợp nhiệt động và cần tác nhân tương hợp.
- Cơ chế tương hợp bằng peroxyt hữu cơ (DCP, BPO): Dưới tác dụng của nhiệt độ gia công ($110 - 170^\circ\text{C}$ đối với DCP), liên kết oxy-oxy phân cắt tạo các gốc tự do $\text{RO}^\bullet$. Các gốc tự do này giật proton hydro ở vị trí cacbon $\alpha$-metylen trên mạch cao su CSTN và NBR/SBR, tạo ra các gốc tự do đại phân tử. Sự kết hợp giữa các gốc đại phân tử khác loại tại bề mặt phân cách pha hình thành copolyme ghép/khối đóng vai trò cầu nối liên kết liên pha.
- Cơ chế lưu hoá bằng lưu huỳnh: Quá trình lưu hoá tạo các cầu nối mono-, di- và polysunfua giữa các mạch phân tử cao su nhờ hệ xúc tiến thiazol (DM/MBTS) kết hợp thiuram (TMTD) và các chất trợ xúc tiến (ZnO, axit stearic).
Phương pháp và quy trình thực nghiệm
| Tên nguyên liệu / Hoá chất |
Ký hiệu / Chủng loại |
Nguồn gốc / Đơn vị cung cấp |
Vai trò trong hệ vật liệu |
| Cao su thiên nhiên |
SVR 3L |
Cao su Phú Riềng (Việt Nam) |
Pha nền đàn hồi, chịu lực |
| Cao su butadien nitril |
KNB 35L (34% AN) |
Kumho (Hàn Quốc) |
Pha phân tán tăng tính kháng dầu |
| Cao su butadien styren |
SBR 1502 |
Kumho (Hàn Quốc) |
Cấu tử phối trộn đàn hồi, chịu mài mòn |
| Cao su cloropren |
Baypren 110 |
Bayer (Đức) |
Chất tương hợp sau cắt mạch |
| Cao su epoxy hoá |
CSE-20 và CSE-50 |
ĐHBK Hà Nội / Viện KH-CNQS |
Pha phối trộn / Chất tương hợp |
| Nano silica biến tính |
WL180GR + TESPT |
TT Polyme - ĐHBK Hà Nội |
Chất độn gia cường kích thước nano |
| Dicumyl peroxyt |
DCP |
Trung Quốc |
Chất tương hợp / Lưu hoá động |
| Benzoyl peroxyt |
BPO |
Trung Quốc |
Chất tương hợp cho hệ CSTN/SBR |
| Kẽm oxit / Axit stearic |
ZnO / $\text{C}{17}\text{H}{35}\text{COOH}$ |
Trung Quốc |
Hệ chất trợ xúc tiến lưu hoá |
| Xúc tiến DM / TMTD |
MBTS / Thiuram |
Trung Quốc |
Chất gia tốc lưu hoá lưu huỳnh |
| Phòng lão RD |
TMQ |
Trung Quốc |
Chất chống oxy hoá, dập gốc tự do |
Phương pháp phân tích và thử nghiệm tính chất
- Thử nghiệm cơ tính: Độ bền kéo đứt, độ dãn dài khi đứt theo tiêu chuẩn ASTM D412; độ bền xé theo ASTM D624; độ cứng Shore A.
- Đánh giá độ hồi phục ứng suất và diện tích vòng trễ năng lượng cơ học (Hysteresis loop).
- Đánh giá mức độ lưu hoá và thông số công nghệ: Mô men xoắn cực đại ($M_{max}$), năng lượng hỗn luyện, độ dẻo ban đầu $P_0$, chỉ số duy trì độ dẻo PRI, độ nhớt Mooney.
- Xác định độ trương bão hoà trong môi trường dung môi: Đo độ tăng khối lượng mẫu trong xăng A92 và dầu nhờn công nghiệp theo thời gian ngâm.
- Phân tích nhiệt: Phân tích nhiệt trọng lượng (TGA) và vi phân nhiệt trọng lượng (DrTGA) trên thiết bị TGA để xác định nhiệt độ phân hủy và độ ổn định nhiệt.
- Phân tích cấu trúc hình thái: Kính hiển vi điện tử quét (SEM) quan sát bề mặt gãy giòn trong nitơ lỏng và bề mặt phá huỷ do kéo đứt.
- Phương pháp quy hoạch thực nghiệm: Sử dụng phần mềm Design-Expert phiên bản 8.1 xây dựng mô hình hồi quy bậc hai tối ưu hóa hàm lượng hệ chất tương hợp kết hợp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 tổng thuật chi tiết lý thuyết về polyme blend và polyme nanocompozit. Tác giả trình bày các định nghĩa về hệ đồng thể, dị thể, tương hợp nhiệt động, tương hợp kỹ thuật; các phương pháp chế tạo blend (nóng chảy, dung dịch, latex, lưu hoá động); các phương pháp đánh giá độ tương hợp thông qua nhiệt độ thuỷ tinh hoá ($T_g$), kính hiển vi và phương pháp cơ nhiệt động. Tác giả phân tích cấu trúc, tính chất của CSTN, NBR, SBR, CSE; cơ chế phản ứng tạo gốc tự do của DCP và BPO; cơ chế lưu hoá bằng lưu huỳnh với các xúc tiến DM, TMTD, chất trợ xúc tiến ZnO, axit stearic và chất phòng lão RD. Chương này cũng tổng quan các phương pháp chế tạo polyme nanocompozit (trộn hợp nóng chảy, trộn hợp dung dịch, sol-gel, trùng hợp in situ) và vai trò của nano silica biến tính silan TESPT.
Chương 2: Phương pháp thực nghiệm
Chương 2 mô tả chi tiết nguồn gốc, thông số kỹ thuật của toàn bộ nguyên liệu, hoá chất và thiết bị chế tạo (máy trộn kín Brabender, máy cán hở, máy ép lưu hoá). Tác giả trình bày 12 đơn phối số liệu thực nghiệm (Bảng 2.1 đến Bảng 2.12), bao gồm các đơn chế tạo blend CSTN/NBR không có chất tương hợp theo 4 quy trình, đơn blend có DCP, đơn blend có CSE-20, CSE-50, CR, đơn blend có hệ tương hợp kết hợp CR-DCP, đơn nanocompozit CSTN/NBR/nano silica, đơn blend CSTN/CSE-20 (và nanocompozit tương ứng) và đơn blend CSTN/SBR tương hợp bằng BPO. Tác giả chuẩn hoá các phương pháp đo cơ lý, độ trương trong xăng dầu, TGA/DrTGA, mật độ khâu mạch, SEM và thiết lập ma trận quy hoạch thực nghiệm trên Design-Expert 8.1.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
1. Chế tạo vật liệu blend CSTN/NBR không có chất tương hợp
- Ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn CSTN/NBR: Khảo sát các tỷ lệ phối trộn từ 100/0, 80/20, 60/40, 50/50, 40/60, 20/80 đến 0/100. Khi tăng tỷ lệ NBR, độ trương bão hoà của blend trong xăng A92 và dầu nhờn giảm rõ rệt (tính kháng dầu tăng). Tỷ lệ CSTN/NBR = 80/20 (4/1) duy trì được độ bền kéo cao và độ bền xé tốt trong khi cải thiện đáng kể khả năng chịu dầu so với CSTN nguyên chất.
- Ảnh hưởng của quy trình chế tạo (4 phương pháp):
- Đánh giá năng lượng tiêu thụ, mô men xoắn cực đại, cơ tính và độ trương của mẫu chế tạo theo 4 quy trình.
- Quy trình 4 (trộn NBR với hóa chất lưu hoá trước, sau đó mới cho CSTN vào) cho thấy mô men xoắn và năng lượng hỗn luyện ổn định nhất, phân bố chất lưu hoá đồng đều hơn giữa hai pha. Mẫu theo Quy trình 4 đạt độ bền kéo và độ dãn dài cao nhất, thời gian hồi phục ứng suất ngắn, diện tích vòng trễ thấp và độ trương trong dầu nhờn giảm. Giản đồ DrTGA và ảnh SEM bề mặt gãy giòn của mẫu chế tạo theo Quy trình 4 thể hiện sự phân tán pha NBR mịn hơn vào nền CSTN so với các quy trình 1, 2 và 3.
2. Nghiên cứu tăng cường khả năng tương hợp cho blend CSTN/NBR (4/1)
- Tương hợp bằng Dicumyl Peroxyt (DCP): Khảo sát hàm lượng DCP từ 0 đến 2,5 phần khối lượng (PKL). Khi có mặt DCP (tối ưu ở 1,5 PKL), độ bền kéo, modun đàn hồi tăng, độ trương trong dầu nhờn giảm và độ ổn định nhiệt tăng (thể hiện qua giản đồ TGA/DrTGA). Ảnh SEM cho thấy kích thước hạt phân tán giảm và ranh giới phân pha mờ đi nhờ các liên kết ngang C-C tạo ra tại bề mặt tiếp xúc pha.
- Tương hợp bằng cao su thiên nhiên epoxy hoá (CSE-20 và CSE-50):
- CSE-20 và CSE-50 đóng vai trò cấu tử trung gian do chứa cả mắt xích không phân cực (isopren) và phân cực (epoxy). Bổ sung 5 PKL CSE-20 hoặc CSE-50 giúp tăng độ bền kéo, giảm diện tích vòng trễ cơ học. Khi kết hợp CSE-20 với 1,5 PKL DCP, tính chất cơ lý và độ kháng trương trong xăng A92/dầu nhờn được cải thiện rõ rệt so với khi chỉ dùng đơn lẻ từng chất.
- Tương hợp bằng cao su cloropren cắt mạch (CR):
- Khảo sát hàm lượng CR từ 3 đến 10 PKL. Hàm lượng CR ở mức 7 - 10 PKL làm tăng độ bền kéo, độ bền xé, giảm thời gian hồi phục ứng suất và giảm độ trương trong xăng A92. Phân tích DrTGA cho thấy nhiệt độ bắt đầu phân huỷ nhiệt dịch chuyển về vùng nhiệt độ cao hơn.
- Tối ưu hoá hệ tương hợp kết hợp CR và DCP bằng Design-Expert 8.1:
- Thiết lập mô hình hồi quy đa thức bậc hai với 2 yếu tố biến đổi: hàm lượng CR ($X_1$) và hàm lượng DCP ($X_2$).
- Các hàm mục tiêu tối ưu gồm: Độ bền kéo ($Y_1$), Độ bền xé ($Y_2$), Độ trương bão hoà trong dầu nhờn ($Y_3$) và Độ giảm tổn hao năng lượng vòng trễ ($Y_4$).
- Kết quả tính toán từ mô hình phù hợp với số liệu thực nghiệm kiểm chứng (Bảng 3.25 đến Bảng 3.28), cho phép xác định chính xác vùng hàm lượng CR và DCP tối ưu để đạt cơ tính và độ bền dầu theo yêu cầu kỹ thuật cụ thể. Ảnh SEM tại điểm tối ưu (Hình 3.36) xác nhận cấu trúc hình thái đồng đều với kích thước pha phân tán nhỏ nhất.
3. Chế tạo vật liệu nanocompozit trên cơ sở blend CSTN/NBR (4/1) và nano silica
- Ảnh hưởng của hàm lượng nano silica biến tính silan TESPT: Khảo sát hàm lượng nano silica từ 10 đến 50 PKL. Nano silica biến tính phân tán tốt trong nền blend, kích thước hạt phân tán đạt từ 30 đến 300 nm nhờ cầu nối liên kết silica - TESPT - cao su.
- Tính chất cơ lý và độ bền môi trường: Khi tăng hàm lượng nano silica lên đến 30 PKL, độ bền kéo, độ bền xé và độ cứng của vật liệu tăng mạnh; độ trương trong xăng A92 và dầu nhờn giảm sâu. Tuy nhiên, khi vượt quá 40 - 50 PKL, hiện tượng kết tụ hạt nano xuất hiện làm giảm nhẹ độ dãn dài khi đứt.
- So sánh mẫu sử dụng nano silica biến tính và không biến tính: Mẫu chứa nano silica biến tính TESPT cho mô men xoắn cao hơn, cơ tính vượt trội và khả năng kháng trương nở trong dung môi tốt hơn hẳn do tương tác liên pha giữa silica và cao su được tăng cường.
4. Nghiên cứu các hệ blend khác trên cơ sở cao su thiên nhiên
- Hệ blend CSTN/CSE-20 và nanocompozit CSTN/CSE-20/nano silica:
- CSTN và CSE-20 có độ tương hợp tốt do cùng nền mạch polyisopren. Khi tăng hàm lượng CSE-20, modun 300% và mật độ khâu mạch của blend tăng lên.
- Chế tạo thành công nanocompozit CSTN/CSE-20 với 10 - 30 PKL nano silica; các hạt nano silica phân tán đều trong nền blend, tăng cường đáng kể độ bền kéo và độ ổn định nhiệt (Bảng 3.34, Hình 3.51 - 3.55).
- Hệ blend CSTN/SBR (1:1) tương hợp bằng Benzoyl Peroxyt (BPO):
- BPO đóng vai trò chất khơi mào tạo gốc tự do, tạo liên kết khâu mạch đồng thời giữa pha CSTN và pha SBR trong quá trình trộn nóng chảy.
- Bổ sung BPO làm tăng mô men xoắn, tăng độ bền kéo, giảm thời gian hồi phục ứng suất và cải thiện độ ổn định nhiệt của blend CSTN/SBR (Bảng 3.35 - 3.38). Ảnh SEM (Hình 3.59) chỉ ra bề mặt gãy giòn của mẫu có BPO đồng nhất hơn, ranh giới giữa pha CSTN và SBR không còn rõ rệt.
| Hệ vật liệu |
Thành phần cấu tử chính |
Chất tương hợp / Phụ gia chính |
Đặc tính nổi bật ghi nhận từ thực nghiệm |
| Blend CSTN/NBR |
CSTN / NBR (tỷ lệ 80/20 đến 20/80) |
Không có chất tương hợp |
Tỷ lệ 80/20 gia công theo Quy trình 4 cho cơ tính tối ưu và kháng dầu tốt |
| Blend CSTN/NBR |
CSTN / NBR (4/1) |
DCP (0 - 2,5 PKL) |
1,5 PKL DCP giúp tăng độ bền kéo, mờ ranh giới pha trên ảnh SEM |
| Blend CSTN/NBR |
CSTN / NBR (4/1) |
CSE-20 / CSE-50 (5 PKL) |
Tăng độ tương hợp, cải thiện độ bền kéo và độ dãn dài |
| Blend CSTN/NBR |
CSTN / NBR (4/1) |
CR cắt mạch (3 - 10 PKL) |
7 - 10 PKL CR tăng độ bền xé, giảm độ trương trong xăng A92 |
| Blend CSTN/NBR |
CSTN / NBR (4/1) |
CR kết hợp DCP |
Tối ưu hoá bằng Design-Expert 8.1, nâng cao đồng thời cơ tính và độ bền dầu |
| Nanocompozit |
Blend CSTN/NBR (4/1) + DCP |
Nano silica biến tính TESPT (10 - 50 PKL) |
Hạt phân tán 30 - 300 nm, tăng mạnh độ cứng, độ bền xé và giảm độ trương |
| Blend CSTN/CSE |
CSTN / CSE-20 |
Nanosilica (10 - 30 PKL) |
Tương hợp pha tốt, tăng modun 300% và mật độ khâu mạch |
| Blend CSTN/SBR |
CSTN / SBR (1:1) |
BPO (Benzoyl peroxyt) |
Tăng mô men xoắn, tăng độ bền nhiệt TGA, làm mịn cấu trúc pha SEM |
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới của luận án
- Luận giải cơ sở khoa học của phương pháp trộn hợp tối ưu: Dựa trên các số liệu thực nghiệm về mô men xoắn, động học hồi phục ứng suất, diện tích vòng trễ và ảnh SEM, tác giả đã luận giải cơ sở khoa học của Quy trình 4 (trộn NBR với hệ hoá chất lưu hoá trước, sau đó đưa CSTN vào hỗn luyện) là phương pháp tối ưu để chế tạo blend CSTN/NBR, giúp phân bố chất lưu hoá hợp lý và giảm kích thước pha phân tán.
- Xây dựng mô hình toán học tối ưu hóa bằng Design-Expert 8.1: Đã ứng dụng phần mềm Design-Expert 8.1 thiết lập thành công mô hình toán học mô tả mối quan hệ định lượng giữa hàm lượng hệ chất tương hợp kết hợp (DCP và CR) với các tính chất cơ lý, độ trương trong dầu nhờn và tổn hao năng lượng của blend CSTN/NBR (4/1). Mô hình có độ tương thích cao với thực nghiệm và cho phép chủ động lựa chọn hàm lượng phụ gia cho các mục tiêu công nghệ khác nhau.
- Chế tạo thành công polyme nanocompozit từ blend CSTN/NBR và nano silica: Bằng phương pháp trộn hợp nóng chảy, đã phân tán thành công chất độn nano silica biến tính silan TESPT vào nền blend CSTN/NBR đạt kích thước hạt phân tán trong khoảng 30 - 300 nm với hàm lượng nạp cao từ 10 đến 50 PKL, nâng cao đồng thời cơ tính và tính kháng dung môi.
- Phát triển các hệ blend CSTN/CSE và CSTN/SBR: Chế tạo thành công hệ blend CSTN/SBR (1:1) sử dụng BPO làm chất tương hợp khâu mạch pha, đồng thời chế tạo compozit CSTN/CSE-20 gia cường bằng nano silica, mở rộng khả năng biến tính và ứng dụng cao su thiên nhiên.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Bổ sung dữ liệu thực nghiệm và cơ sở lý luận về quá trình phân bố pha, động học lưu hoá chọn lọc, cơ chế tương hợp hóa học bằng peroxyt/copolyme và tương tác bề mặt vô cơ - hữu cơ trong các hệ blend cao su đa cấu tử và nanocompozit.
- Ý nghĩa thực tiễn: Quy trình công nghệ sử dụng thiết bị trộn kín và máy cán sẵn có trong nước, tận dụng nguồn cao su thiên nhiên Việt Nam để chế tạo các sản phẩm cao su kỹ thuật chịu dầu, chịu va đập (như gioăng phớt, đệm chống va tàu cảng dầu khí, đế giày chịu dầu, đệm chống rung), thay thế sản phẩm cao su tổng hợp nhập ngoại và nâng cao giá trị thương mại cho CSTN.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Luận án tập trung khảo sát trên các thiết bị gia công quy mô phòng thí nghiệm (máy trộn kín dung tích nhỏ, máy cán phân tích); chưa mở rộng khảo sát trên dây chuyền đùn ép liên tục quy mô công nghiệp lớn.
- Các đánh giá độ bền môi trường chủ yếu tập trung vào độ trương trong xăng A92 và dầu nhờn thương dụng ở nhiệt độ phòng và nhiệt độ giới hạn; chưa khảo sát đầy đủ độ bền lão hoá nhiệt - ẩm - ozon dài hạn trong điều kiện khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Hoàn thiện công nghệ sản xuất thử nghiệm ở quy mô pilot đối với các sản phẩm cao su kỹ thuật cụ thể (đệm chống va tàu biển, gioăng phớt chịu dầu mỡ).
- Nghiên cứu sâu hơn về động học lưu hoá động liên tục trên máy đùn trục vít đôi và khả năng tái chế của các vật liệu blend cao su nanocompozit sau sử dụng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Hoá hữu cơ, Hoá học Polyme, Công nghệ Vật liệu Cao su và Compozit: Tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu tương hợp pha polyme, kỹ thuật phân tích cấu trúc hình thái (SEM, TGA/DrTGA, đo vòng trễ năng lượng) và phương pháp quy hoạch thực nghiệm tối ưu hoá công thức pha chế.
- Giảng viên và cán bộ nghiên cứu tại các trường đại học khối kỹ thuật và viện nghiên cứu chuyên ngành: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy và định hướng nghiên cứu phát triển vật liệu đàn hồi kỹ thuật cao từ nguồn nguyên liệu tự nhiên trong nước.
- Kỹ sư công nghệ và nhà sản xuất tại các doanh nghiệp chế biến cao su (như các công ty cao su kỹ thuật, sản xuất phụ tùng ô tô, thiết bị giao thông, thiết bị dầu khí): Tham khảo trực tiếp các đơn pha chế cụ thể (Bảng 2.1 - 2.12), chế độ công nghệ hỗn luyện 4 phương pháp và tỷ lệ chất tương hợp DCP/CR/BPO để ứng dụng vào thực tế sản xuất.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao blend CSTN/NBR lại cần sử dụng chất tương hợp và phương pháp trộn hợp đặc thù?
Cao su thiên nhiên (CSTN) là polyme không phân cực (chỉ chứa cacbon và hydro, thông số độ tan $8{,}25\text{ (cal.cm}^{-3})^{1/2}$), trong khi cao su NBR là polyme phân cực mạnh do có nhóm acrylonitril ($-\text{C}\equiv\text{N}$, thông số độ tan $9{,}92 - 10{,}5\text{ (cal.cm}^{-3})^{1/2}$). Sự khác biệt này khiến năng lượng tự do trộn lẫn $\Delta G_{Tr} > 0$, hai pha cao su tách pha thô và chất lưu hoá phân bố không đều. Luận án đã áp dụng Quy trình trộn 4 và sử dụng các chất tương hợp (DCP, CR, CSE) để tạo liên kết liên pha và phân tán đồng đều pha NBR vào nền CSTN.
2. Quy trình 4 trong chế tạo blend CSTN/NBR được thực hiện như thế nào và vì sao cho kết quả tốt nhất?
Trong Quy trình 4, cao su NBR được đưa vào máy trộn kín và hỗn luyện trước với toàn bộ hệ hoá chất lưu hoá, xúc tiến và trợ xúc tiến; sau đó mới đưa CSTN vào trộn hợp ở giai đoạn cuối. Do NBR có độ nhớt cao hơn và ái lực với hoá chất khác biệt, việc trộn trước giúp phụ gia phân tán đều trong pha NBR. Khi đưa CSTN vào, hệ đạt được sự cân bằng lưu hoá giữa hai pha, giúp cải thiện độ bền kéo, giảm thời gian hồi phục ứng suất, giảm diện tích vòng trễ và tăng khả năng kháng trương nở trong dầu nhờn.
3. Chất tương hợp Dicumyl Peroxyt (DCP) hoạt động theo cơ chế nào trong hệ blend CSTN/NBR?
Ở nhiệt độ hỗn luyện ($110 - 170^\circ\text{C}$), DCP bị phân cắt nhiệt liên kết peroxyt $(-\text{O}-\text{O}-)$ tạo thành các gốc tự do $\text{RO}^\bullet$. Các gốc này bứt nguyên tử hydro ở vị trí cacbon $\alpha$-metylen trên mạch phân tử CSTN và NBR, tạo thành các gốc tự do đại phân tử. Sự tái kết hợp giữa gốc CSTN và gốc NBR tại bề mặt tiếp xúc pha tạo thành liên kết ngang $\text{C}-\text{C}$ trực tiếp (copolyme tại chỗ), giúp liên kết hai pha cao su chặt chẽ và tăng độ ổn định nhiệt của vật liệu.
4. Phần mềm Design-Expert 8.1 đóng vai trò gì trong việc tối ưu hóa hệ chất tương hợp?
Design-Expert 8.1 được tác giả sử dụng để thiết lập mô hình quy hoạch thực nghiệm trực giao bậc hai khảo sát ảnh hưởng đồng thời của 2 yếu tố: hàm lượng cao su cloropren cắt mạch (CR, từ 3 đến 10 PKL) và hàm lượng DCP (từ 0,3 đến 1,0 PKL). Mô hình toán học đã giải quyết bài toán tối ưu hóa đa mục tiêu, tìm ra tỷ lệ phối hợp tối ưu giữa CR và DCP để đạt cực đại độ bền kéo, độ bền xé, độ giảm tổn hao năng lượng vòng trễ và cực tiểu độ trương bão hoà trong dầu nhờn.
5. Nano silica biến tính bằng silan TESPT có ưu điểm gì so với nano silica không biến tính khi đưa vào blend cao su?
Nano silica thông thường có bề mặt ưa nước chứa nhiều nhóm silanol $(-\text{Si}-\text{OH})$, dễ bị vón tụ và kém tương tác với nền cao su kỵ nước. Khi được biến tính bằng silan TESPT, một đầu phân tử silan phản ứng với nhóm $-\text{Si}-\text{OH}$ trên bề mặt hạt nano, đầu còn lại chứa nhóm tetrasunfit $(-\text{S}_4-)$ có khả năng tham gia vào mạng lưới lưu hoá của cao su. Nhờ đó, nano silica biến tính TESPT phân tán mịn đạt kích thước $30 - 300\text{ nm}$, tạo cầu nối liên kết bền vững silica - TESPT - cao su, làm tăng mạnh độ cứng, độ bền cơ lý và khả năng chịu dầu mỡ của compozit.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Hải Hiền đã giải quyết một cách có hệ thống các vấn đề khoa học và công nghệ trong việc chế tạo vật liệu polyme blend và nanocompozit trên cơ sở cao su thiên nhiên phối trộn với NBR, SBR và CSE. Công trình đã xác lập quy trình hỗn luyện tối ưu, làm rõ cơ chế tương hợp của các hệ phụ gia DCP, CR, CSE, BPO và ứng dụng thành công phần mềm Design-Expert 8.1 trong tối ưu hoá thành phần. Kết quả chế tạo nanocompozit gia cường bằng nano silica biến tính silan TESPT đã tạo ra vật liệu đàn hồi có cơ tính cao và tính kháng dầu vượt trội, mở ra hướng ứng dụng thực tiễn giá trị cho ngành công nghiệp chế biến cao su kỹ thuật tại Việt Nam.