CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG TRONG GIAI ĐOẠN THI CÔNG 1. Những khái niệm và tổng quan về quản lý xây dựng: 1. Khái niệm và những lý luận chung trong quản lý dự án xây dựng: 1. Dự án – Dự án đầu tư xây dựng a.
Theo quan điểm chung dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải thực hiện theo một phương pháp riêng, trong khuôn khổ nguồn lực riêng, kế hoạch tiến độ cụ thể nhằm tạo ra một sản phẩm mới. Từ đó cho thấy, dự án có tính cụ thể, mục tiêu rõ ràng xác định để tạo ra một sản phẩm mới. Theo PMBOK® Guide 2000, p. 4, dự án là "một nỗ lực tạm thời được cam kết để tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất".
Theo cách định nghĩa này, hoạt động dự án tập trung vào 2 đặc tính: - Nỗ lực tạm thời: mọi dự án đều có điểm bắt đầu và kết thúc cụ thể. Dự án chỉ kết thúc khi đã đạt được mục tiêu dự án hoặc dự án thất bại. - Sản phẩm và dịch vụ là duy nhất: điều này thể hiện có sự khác biệt so với những sản phẩm, dịch vụ tương tự đã có hoặc kết quả của dự án khác. Tóm lại có thể định nghĩa bằng một câu: Dự án là một chuỗi các công việc (nhiệm vụ, hoạt động), được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện ràng buộc về phạm vi, thời gian và ngân sách.
Các thuộc tính của dự án: Dự án có mục đích, kết quả rõ ràng: Tất cả các dự án thành công đều phải có kết quả được xác định rõ ràng như một tòa nhà chung cư, một hệ thống mạng cơ quan bạn, một hệ thống mạng cáp truyền hình, mỗi dự án bao gồm tập hợp các nhiệm vụ cần thực hiện, mỗi nhiệm vụ cụ thể này khi thực 6 hiện sẽ thu được kết quả độc lập và tập hợp các kết quả đó tạo thành kết quả chung của dự án. Các kết quả này có thể theo dõi, đánh giá bằng hệ thống các tiêu chí rõ ràng. Nói cách khác, dự án bao gồm nhiều hợp phần khác nhau được quản lý, thực hiện trên cơ sở đảm bảo thống nhất các chỉ tiêu về thời gian, nguồn lực (chi phí) và chất lượng. Thời gian tồn tại của dự án có tính hữu hạn: dự án là một sự sáng tạo.
Giống như các thực thể sống, dự án cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển và kết thúc hoàn thành. Nó không kéo dài mãi mãi, khi dự án kết thúc hoàn thành, kết quả dự án được chuyển giao, đưa vào khai thác sử dụng, tổ chức dự án giải tán. Sản phẩm, kết quả của dự án mang tính độc đáo, mới lạ: Khác với các quá trình sản xuất liên tục, có tính dây chuyền, lặp đi lặp lại, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính mới, thể hiện sức sáng tạo của con người. Do đó, sản phẩm và dịch vụ thu được từ dự án là duy nhất, hầu như khác biệt so với các sản phẩm cùng loại.
Tuy nhiên, trong nhiều dự án, tính duy nhất thường khó nhận ra. Vì vậy, mỗi dự án cần phải tạo ra những giá trị mới chẳng hạn thiết kế khác nhau, môi trường triển khai khác nhau, đối tượng sử dụng khác nhau từ đó cho thấy nếu 2 dự án hoàn toàn giống nhau và không tạo được giá trị nào mới, nó thể hiện có sự đầu tư trùng lặp, gây lãng phí, đây là tình trạng phổ biến của các dự án nói chung. Dự án liên quan đến nhiều bên: Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như nhà tài trợ (chủ đầu tư), khách hàng (đơn vị thụ hưởng), các nhà tư vấn, nhà thầu (đơn vị thi công, xây dựng) và trong nhiều trường hợp có cả cơ quan quản lý nhà nước đối với các dự án sử dụng nguồn vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước. Tuỳ theo tính chất của dự án và yêu cầu của nhà tài trợ mà sự tham gia của các thành phần trên có sự khác nhau.
Để thực hiện thành công mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác. 7 Dự án thường mang tính không chắc chắn: Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật liệu và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian giới hạn. Môi trường tổ chức, thực hiện: Quan hệ giữa các dự án trong một tổ chức là quan hệ chia sẻ cùng một nguồn lực khan hiếm như đội ngũ lập yêu cầu hệ thống, kiến trúc sư, kiểm định chất lượng, chuyển giao. Đồng thời, dự án cạnh tranh lẫn nhau về cả tiền vốn, thiết bị.
Đặc biệt, trong một số trường hợp thành viên ban quản lý dự án có "2 thủ trưởng" nên không biết phải thực hiện mệnh lệnh của của cấp trên trực tiếp nào khi mà hai mệnh lệnh có tính mâu thuẫn. Từ đó, có thể thấy rằng, môi trường quản lý dự án có nhiều mỗi quan hệ phức tạp nhưng hết sức năng động. ( Trích QLDA của ThS. Nguyễn Hữu Quốc) b.
Dự án đầu tư xây dựng: i. Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở. Dự án đầu tư xây dựng công trình khác với các dự án khác là dự án đầu tư bắt buộc có liên quan đến xây dựng, dù tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư của phần xây dựng có rất nhỏ.
Vòng đời của dự án đầu tư xây dựng: Các dự án đầu tư xây dựng thường kéo dài nhiều năm và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Mỗi giai đoạn của dự án đầu tư xây dựng đều có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc rõ ràng nên có một vòng đời. Vòng đời của dự án được bắt đầu từ khi xây dựng ý tưởng cho đến việc triển khai nhằm đạt được kết quả và đến khi kết thúc dự án. Thông thường, vòng đời của dự án nói chung và dự án đầu tư xây dựng nói riêng đều có bốn giai đoạn: 8 Hình thành dự án (giai đoạn tiền khả thi): trong giai đoạn này chủ yếu xây dựng ý tưởng ban đầu về đầu tư, xác định các qui mô và chỉ tiêu đánh giá, tính khả thi của dự án xây dựng, các cơ sở thực hiện dự án.
Để xác định mục tiêu phù hợp cho dự án ở giai đoạn này là vô cùng quan trọng và nó hình thành định hướng cho các giai đoạn tiếp theo. Nghiên cứu phát triển (giai đoạn khả thi hay lập dự án đầu tư): chủ yếu giai đoạn này là xây dựng dự án, kế hoạch thực hiện và chuẩn bị nguồn nhân lực, kế hoạch tài chính và khả năng kêu gọi đầu tư, phê duyệt dự án. Trong giai đoạn này đã hình thành và vạch ra các mục tiêu, các nhân tố và cơ sở để thực hiện dự án, hình thành kế hoạch thực hiện dự án, các hiệu quả có thể đạt được trên cơ sở các phân tích đánh giá có căn cứ khoa học trong hồ sơ dự thầu. Thực hiện và quản lý (giai đoạn thi công): sử dụng tất cả các thông tin, các sản phẩm thiết kế quy hoạch và kiến trúc, phê duyệt các phương án thiết kế, tổ chức đấu thầu, lựa chọn nhà thầu, tổ chức thi công các hạng mục công trình trong dự án.
Trong quá trình này thì vai trò quản lý và kiểm soát vô cùng quan trọng vì giai đoạn này hình thành các tài sản cố định để chuẩn bị đưa công trình vào sử dụng. Kết thúc dự án: hoàn thành các công việc xây dựng, các thủ tục hồ sơ hoàn công, hồ sơ thanh quyết toán, cho vận hành thử. Tuy quy trình theo quy định nhà nước cũng khá đơn giản nhưng để hoàn thiện được các khâu thanh quyết toán và vận hành thử để đưa vào khai thác hiện nay vẫn đang còn nhiều khó khăn. Giai đoạn này chính là giai đoạn vận hành hoàn vốn và sinh lợi nhuận (Hình 1.
9 Hình thành Kết Vòng đời Phát thúc dự án triển Thực hiện Hình 1. Vòng đời dự án 1. Quản lý dự án đầu tư xây dựng: i. Theo Viện quản lý dự án Quốc tế PMI: Quản lý dự án đầu tư xây dựng chính là sự áp dụng các hiểu biết, khả năng, công cụ, và kỹ thuật xây dựng vào tập hợp rộng lớn các hoạt động xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu của một dự án đầu tư xây dựng cụ thể.
Trong lĩnh vực xây dựng cụ thể hơn là quá trình lập kế hoạch và tiến độ, tổ chức, thực hiện và kiểm soát tất cả các nguồn nhân vật lực của công ty trong một khoảng thời gian nhất định có thể hoàn thành các mục tiêu và kế hoạch nhất định của dự án đầu tư xây dựng. Quản lý dự án đầu tư xây dựng là "ứng dụng kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động dự án xây dựng để thỏa mãn các yêu cầu của dự án. “Quản lý dự án đầu tư xây dựng là lãnh đạo và phân phối các nguồn lực và vật tư để đạt được các mục tiêu định trước về: phạm vi, chi phí, thời 10 gian, chất lượng và sự hài lòng của các bên tham gia”: theo quan điểm của Ben Obinero Uwakwweh Trường Đại học Cincinnati nước Mỹ. Chức năng và vai trò của quản lý dự án xây dựng: 1.
Chức năng quản lý dự án xây dựng: i. Quản lý quy mô: bao gồm phát triển nội dung thông qua mục tiêu dự án và cơ cấu phân nhỏ, xác định quy mô công việc thông qua cơ cấu phân nhỏ công việc, ủy quyền và thực hiện công việc, theo dõi và kiểm soát tiến độ, nghiệm thu và đánh giá công việc đã hoàn thành. Quản lý tổ chức dự án: mục đích của tổ chức dự án là tập trung các nguồn lực đầy đủ và thích hợp( con người, vật liệu và tài chính) để thực hiện các hoạt động của dự án nhằm đạt được các mục tiêu một cách thành công.