Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh khung pháp lý về công bố thông tin (CBTT) trên thị trường chứng khoán Việt Nam liên tục được hoàn thiện qua các thời kỳ. Từ Thông tư số 38/2007/TT-BTC, cơ quan quản lý đã bốn lần sửa đổi, bổ sung và ban hành các văn bản thay thế gồm Thông tư số 52/2012/TT-BTC, Thông tư số 155/2015/TT-BTC và gần đây nhất là Thông tư số 96/2020/TT-BTC hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán. Đi kèm với lộ trình pháp lý này là yêu cầu cấp thiết từ các cơ quan quản lý nhằm kiểm soát gian lận báo cáo tài chính, giải quyết tình trạng thông tin bất cân xứng và lành mạnh hóa hệ sinh thái tài chính trong giai đoạn tái cơ cấu nền kinh tế trọng tâm là hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM).
Báo cáo thường niên (BCTN) đóng vai trò là kênh cung cấp thông tin toàn diện về tài chính, phi tài chính và quản trị cho cổ đông cùng các bên liên quan. Mặc dù nhiều nghiên cứu quốc tế đã ghi nhận tác động của chất lượng CBTT tới hiệu quả hoạt động ngân hàng, chủ đề này tại Việt Nam còn hạn chế và chủ yếu tập trung vào khía cạnh phát triển bền vững hoặc trách nhiệm xã hội. Do đó, khóa luận lựa chọn đề tài "Ảnh hưởng của chất lượng công bố thông tin trên báo cáo thường niên đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại niêm yết tại Việt Nam" để đo lường mức độ minh bạch và xác định tác động thực nghiệm của nó.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu bao trùm của khóa luận là đo lường mức độ ảnh hưởng của chất lượng CBTT trên BCTN đến hiệu quả hoạt động của các NHTM cổ phần đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất lượng CBTT và hiệu quả hoạt động của các NHTM.
- Đo lường mức độ CBTT của các NHTM niêm yết dựa trên Thông tư số 96/2020/TT-BTC kết hợp với việc tổng hợp danh mục thông tin được công bố trong BCTN.
- Xác định mức độ ảnh hưởng của chất lượng CBTT trên BCTN tới hiệu quả hoạt động của các NHTM thông qua mô hình kinh tế lượng.
- Đánh giá kết quả thực nghiệm và đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao chất lượng CBTT tại các NHTM.
Tương ứng với nhiệm vụ, nghiên cứu đặt ra 6 câu hỏi nghiên cứu:
- Kết quả của các nghiên cứu trước đây về chất lượng CBTT và ảnh hưởng của nó tới hiệu quả hoạt động của NHTM ra sao?
- Chất lượng CBTT là gì và có thể xây dựng những tiêu chí nào để đo lường tại các NHTM?
- Hiệu quả hoạt động của các NHTM có thể được đánh giá dựa trên những chỉ tiêu nào?
- Thực trạng CBTT của các NHTM niêm yết hiện nay như thế nào?
- Chất lượng CBTT trên BCTN ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM ra sao?
- Có thể đề xuất những giải pháp nào nhằm nâng cao chất lượng CBTT và hiệu quả hoạt động của các NHTM?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng CBTT trên BCTN và hiệu quả hoạt động của các NHTM cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Các NHTM cổ phần niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 8 năm, từ năm 2015 đến năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm nền tảng
Nghiên cứu lấy Lý thuyết Thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information Theory) do George Akerlof khởi xướng năm 1970 làm nền tảng cốt lõi. Trong thị trường chứng khoán, sự chênh lệch thông tin giữa nhà quản trị ngân hàng và nhà đầu tư bên ngoài dễ dẫn đến hiện tượng lựa chọn đối nghịch (adverse selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard). Việc chủ động nâng cao chất lượng CBTT đóng vai trò là cơ chế phát tín hiệu tích cực ra thị trường, giúp nhà đầu tư định giá đúng tài sản và giảm thiểu rủi ro.
Về khái niệm, tác giả tiếp cận định nghĩa CBTT theo Healy và Palepu (2001) – công cụ cung cấp dữ liệu hoạt động kinh doanh và quản trị công ty cho cổ đông, cơ quan quản lý và các tổ chức xã hội; đồng thời đối chiếu với nguyên tắc cơ bản của thị trường chứng khoán nêu bởi Tạ Thanh Bình (2016).
Để đo lường hiệu quả hoạt động, nghiên cứu kết hợp hai góc độ:
- Giá trị sổ sách (kế toán): Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận sau thuế và vốn chủ sở hữu bình quân.
- Giá trị thị trường: Hệ số Tobin's Q (TBQ), phản ánh tiềm năng phát triển và mức độ tin tưởng của thị trường, xác định theo công thức của Fiori và cộng sự (2007):
$$\text{Tobin's Q} = \frac{\text{EMV} + \text{LMV}}{\text{EBV} + \text{LBV}}$$
Trong đó: EMV và LMV lần lượt là giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu và nợ phải trả; EBV và LBV là giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
Phương pháp nghiên cứu và quy trình xử lý dữ liệu
Khóa luận kết hợp song song phương pháp định tính (tổng thuật tài liệu, phân tích khung chính sách) và phương pháp định lượng (thống kê mô tả, ma trận tương quan, hồi quy dữ liệu bảng).
Quy trình nghiên cứu định lượng gồm các bước:
- Đo lường biến độc lập (Chỉ số chất lượng CBTT - ký hiệu $P$): Tác giả xây dựng bộ chỉ số gồm 64 tiêu chí dựa trên Phụ lục IV Thông tư số 96/2020/TT-BTC kết hợp danh mục thông tin tự nguyện của Assili (2017). Bộ tiêu chí phân thành 6 nhóm: Thông tin chung; Tình hình hoạt động; Báo cáo và đánh giá của Ban điều hành; Quản trị ngân hàng; Phát triển bền vững; Báo cáo tài chính. Sử dụng phương pháp tính điểm bình quân không trọng số (unweighted average method) với kỹ thuật đánh giá nhị phân (gán 1 nếu công bố, gán 0 nếu không công bố):
$$P_i = \frac{\sum d_i}{n_i}$$
- Kỹ thuật ước lượng kinh tế lượng: Phân tích dữ liệu bảng với các mô hình Pooled OLS, mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn giữa FEM và REM; kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian multiplier nhằm phát hiện phương sai sai số thay đổi; kiểm định Wooldridge kiểm tra hiện tượng tự tương quan; hệ số phóng đại phương sai (VIF) phát hiện đa cộng tuyến. Trường hợp mô hình vi phạm giả định hồi quy cổ điển, phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) được sử dụng để khắc phục khuyết tật.
Nguồn dữ liệu
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thường niên, báo cáo tài chính đã kiểm toán và cổng thông tin điện tử của 14 NHTM niêm yết trên HOSE và HNX giai đoạn 2015–2022, trích xuất qua Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và trang tin Vietstock. Tổng số quan sát đạt 112 quan sát ($14 \times 8$). Quy mô mẫu thỏa mãn tiêu chuẩn kinh nghiệm của Tabachnick và Fidell (1996) cũng như Nguyễn Đình Thọ (2011) đối với hồi quy đa biến ($N \ge 50 + 8p = 50 + 8 \times 7 = 106$).
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Tổng quan nghiên cứu
Chương I tổng thuật hệ thống các công trình trong và ngoài nước chia theo ba nhánh: nghiên cứu về công bố thông tin, nghiên cứu về hiệu quả hoạt động ngân hàng, và nghiên cứu về mối liên hệ giữa chất lượng CBTT với hiệu quả hoạt động.
- Nghiên cứu quốc tế: Các tác giả Hawashe (2014), Assili (2017), Bhasin và cộng sự (2015), Forte và cộng sự (2016) tập trung vào mức độ CBTT tự nguyện; Haralayya (2021), Syafri (2012), Tomola (2013), Saeed (2014), Panditharathna và Kawshala (2017) xác định các nhân tố ảnh hưởng tới ROA, ROE. Về mối quan hệ giữa hai yếu tố, Aisjah và cộng sự (2013), Buallay (2019) chứng minh CBTT tác động tích cực đến hiệu quả tài chính và Tobin's Q. Ngược lại, Abdallah và Bahloul (2021), Al-Homaidi và cộng sự (2020) ghi nhận tác động tiêu cực đối với hệ thống ngân hàng Hồi giáo; còn Khanifah và Hardiningsih (2020) chỉ tìm thấy mối liên hệ với ROA mà không có ý nghĩa với ROE hay Tobin's Q.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Nguyễn Ngọc Thủy (2018, 2021) phân tích thực trạng CBTT và khả năng sinh lời nhưng không tìm thấy mối liên hệ có ý nghĩa; Trần Quốc Thịnh và cộng sự (2021) nhận thấy CBTT trách nhiệm xã hội tác động ngược chiều đến ROA, NIM.
| Tác giả |
Mẫu nghiên cứu |
Phương pháp |
Kết quả chính |
| Aisjah và cs (2013) |
15 NHTM Indonesia (2008–2011) |
OLS, phân tích đường dẫn |
CBTT ảnh hưởng tích cực đến ROA, ROE và Tobin's Q |
| Buallay (2019) |
235 ngân hàng châu Âu (2007–2016) |
Hồi quy dữ liệu bảng |
CBTT tổng thể có tác động tích cực; phân rã từng loại thông tin cho chiều hướng khác nhau |
| Abdallah & Bahloul (2021) |
47 ngân hàng Hồi giáo 10 quốc gia (2012–2019) |
GLS, GMM, 3SLS |
CBTT có mối quan hệ tiêu cực với ROA và ROE |
| Al-Homaidi và cs (2020) |
30 ngân hàng Yemen (2005–2014) |
Hồi quy OLS |
Thông tin quản trị, xã hội, quy mô ngân hàng tác động ngược chiều tới ROA và ROE |
| Nguyễn Ngọc Thủy (2018) |
21 NHTM Việt Nam (năm 2016) |
Thống kê mô tả, đồ thị phân tán |
Không tìm thấy mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện và ROA |
| Trần Quốc Thịnh và cs (2021) |
18 NHTM Việt Nam (2015–2019) |
Hồi quy OLS |
CBTT trách nhiệm xã hội tác động ngược chiều tới ROA, ROE và NIM |
Từ bảng tổng hợp, tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các kết quả thực nghiệm chưa đạt được sự đồng thuận; tại Việt Nam, các đề tài đánh giá đầy đủ các khía cạnh thông tin BCTN theo quy chuẩn Thông tư số 96/2020/TT-BTC gắn với cả giá trị sổ sách và giá trị thị trường còn rất hạn chế.
Chương II: Cơ sở lý luận
Chương này chuẩn hóa các định nghĩa và thang đo học thuật. Tác giả phân tích các hệ thống chỉ số đo lường CBTT trên thế giới gồm:
- Bộ chỉ số S&P (2001) với 98 tiêu chí chia làm 3 nhóm (cấu trúc sở hữu, tình hình tài chính, cơ cấu HĐQT/Ban Giám đốc);
- Hệ thống IDTRS của Đài Loan (từ 62 tiêu chí năm 2003 nâng lên 113 tiêu chí năm 2012);
- Chỉ số CIFAR (1998) gồm 90 hạng mục thông tin;
- Bộ chỉ tiêu 102 tiêu chí của HNX (2013) và bộ 53 tiêu chí của Trương Đông Lộc & Nguyễn Thị Kim Anh (2016).
Chương II đồng thời phân tích cơ chế tác động của tính minh bạch thông tin: bảo vệ nhà đầu tư, gia tăng thanh khoản thị trường và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường vốn; hoàn thiện cơ sở lý thuyết về thông tin bất cân xứng của Akerlof (1970).
Chương III: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu
Tác giả thiết lập 2 mô hình hồi quy đa biến dựa trên nghiên cứu của Liu và cộng sự (2014), Trương Đông Lộc và Lê Xuân Thái (2019):
$$\text{ROE}{it} = \beta_0 + \beta_1 P{it} + \beta_2 \text{SIZE}{it} + \beta_3 \text{LEV}{it} + \beta_4 \text{LIQ}{it} + \beta_5 \text{GROWTH}{it} + \beta_6 \text{SHNN}{it} + \beta_7 \text{HDQT}{it} + e_{it} \quad (1)$$
$$\text{TBQ}{it} = \beta_0 + \beta_1 P{it} + \beta_2 \text{SIZE}{it} + \beta_3 \text{LEV}{it} + \beta_4 \text{LIQ}{it} + \beta_5 \text{GROWTH}{it} + \beta_6 \text{SHNN}{it} + \beta_7 \text{HDQT}{it} + e_{it} \quad (2)$$
Các biến trong mô hình gồm:
- Biến phụ thuộc: $\text{ROE}{it}$ (giá trị sổ sách) và $\text{TBQ}{it}$ (giá trị thị trường).
- Biến độc lập: $P_{it}$ (chất lượng CBTT trên BCTN).
- 6 biến kiểm soát: Quy mô ngân hàng ($\text{SIZE}$ - logarit tự nhiên của tổng tài sản), đòn bẩy tài chính ($\text{LEV}$ - tổng nợ/vốn chủ sở hữu), tỷ lệ thanh khoản ($\text{LIQ}$ - tài sản thanh khoản/tổng tài sản), tốc độ tăng trưởng doanh thu ($\text{GROWTH}$), tỷ lệ sở hữu nước ngoài ($\text{SHNN}$), và số lượng thành viên Hội đồng quản trị ($\text{HDQT}$).
Tác giả thiết lập 7 giả thuyết nghiên cứu từ H1 đến H7, kỳ vọng tất cả các biến đều có tác động cùng chiều (+) tới hiệu quả hoạt động ngân hàng.
Chương IV: Đánh giá kết quả nghiên cứu
Chương IV trình bày số liệu thống kê mô tả, ma trận tương quan Spearman, kết quả hồi quy và các kiểm định chẩn đoán mô hình:
| Biến |
Số quan sát |
Giá trị trung bình |
Độ lệch chuẩn |
Giá trị nhỏ nhất |
Giá trị lớn nhất |
| ROE |
112 |
0,13 |
0,05 |
0,008989 |
0,26 |
| TBQ |
112 |
1,20 |
0,21 |
0,81 |
1,84 |
| P |
112 |
0,73 |
0,14 |
0,29688 |
0,98438 |
| SIZE |
112 |
19,70 |
0,95 |
17,91 |
21,31 |
| LEV |
112 |
12,40 |
3,12 |
5,42 |
19,85 |
| LIQ |
112 |
13,00 |
4,21 |
4,89 |
24,15 |
| GROWTH |
112 |
0,18 |
0,15 |
-0,28 |
0,65 |
| SHNN |
112 |
14,30% |
9,80% |
0,00% |
30,00% |
| HDQT |
112 |
7,50 |
1,75 |
5,00 |
14,00 |
Thực trạng đo lường cho thấy điểm chất lượng CBTT ($P$) dao động từ 0,29688 (MSB năm 2016) đến 0,98438 (VPB năm 2022), điểm trung bình toàn hệ thống đạt 0,73. Điểm số có xu hướng tăng đều qua các năm. Kết quả này tương đồng với báo cáo IR Awards 2022 khi ngành ngân hàng dẫn đầu thị trường với 13/19 đơn vị đạt Chuẩn CBTT (tỷ lệ 68%).
Kiểm định mô hình:
- Với mô hình ROE: Kiểm định Hausman cho $p = 0,6203 > 0,05$ (chọn REM). Kiểm định Breusch-Pagan cho $p = 0,1668 > 0,05$ (không có phương sai thay đổi). Kiểm định Wooldridge cho $p = 0,0000 < 0,05$ (tồn tại tự tương quan). Hệ số VIF trung bình đạt 1,67 ($< 5$, không bị đa cộng tuyến).
- Với mô hình TBQ: Kiểm định Hausman cho $p = 0,3583 > 0,05$ (chọn REM). Kiểm định Breusch-Pagan cho $p = 0,4034 > 0,05$ (không có phương sai thay đổi). Kiểm định Wooldridge cho $p = 0,0000 < 0,05$ (tồn tại tự tương quan). Hệ số VIF trung bình đạt 1,67.
Khuyết tật tự tương quan ở cả hai mô hình được xử lý triệt để bằng phương pháp ước lượng FGLS.
Chương V: Kết luận và khuyến nghị
Chương V tổng hợp các kết quả thực nghiệm và đối chiếu với giả thuyết nghiên cứu. Từ phát hiện thực tế rằng một số ngân hàng vẫn công bố thông tin chưa đầy đủ, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp:
- Đối với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước: Hoàn thiện chế tài giám sát, chuẩn hóa các tiêu chí báo cáo phi tài chính.
- Đối với Sở Giao dịch Chứng khoán: Tăng cường các chương trình đánh giá, vinh danh doanh nghiệp minh bạch (như IR Awards).
- Đối với các NHTM: Nâng cao nhận thức quản trị, chủ động áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế và hoàn thiện cấu trúc BCTN theo quy định.
Kết quả và đóng góp
Kết quả ước lượng thực nghiệm
Phương pháp ước lượng FGLS mang lại kết quả hồi quy có ý nghĩa thống kê cao cho cả hai thước đo hiệu quả hoạt động:
1. Phương trình hồi quy ROE (giá trị sổ sách):
$$\text{ROE}{it} = -0,1718 + 0,0184 \cdot P{it} + 0,0118 \cdot \text{SIZE}{it} - 0,0028 \cdot \text{LEV}{it} + 0,0242 \cdot \text{LIQ}{it} + 0,0125 \cdot \text{GROWTH}{it} + 0,0270 \cdot \text{SHNN}{it} - 0,0006 \cdot \text{HDQT}{it} + e_{it}$$
- Kiểm định Wald Chi-Square đạt 280,57 ($p = 0,0000 < 0,05$).
- Biến chất lượng CBTT ($P$) tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê ($\beta = 0,0184; p < 0,05$).
- Các biến tác động dương gồm: tỷ lệ sở hữu nước ngoài ($\beta = 0,0270$), tỷ lệ thanh khoản ($\beta = 0,0242$), tốc độ tăng trưởng doanh thu ($\beta = 0,0125$) và quy mô ngân hàng ($\beta = 0,0118$).
- Các biến tác động âm gồm: đòn bẩy tài chính ($\beta = -0,0028$) và quy mô Hội đồng quản trị ($\beta = -0,0006$).
2. Phương trình hồi quy Tobin's Q (giá trị thị trường):
$$\text{TBQ}{it} = 0,3310 + 0,2332 \cdot P{it} + 0,0231 \cdot \text{SIZE}{it} - 0,0182 \cdot \text{LEV}{it} + 0,0156 \cdot \text{GROWTH}{it} - 0,0104 \cdot \text{HDQT}{it} + e_{it}$$
- Kiểm định Wald Chi-Square đạt 169,85 ($p = 0,0000 < 0,05$).
- Biến $P$ tác động cùng chiều mạnh nhất đến giá trị thị trường ($\beta = 0,2332; p < 0,05$).
- Biến quy mô ($\beta = 0,0231$) và tốc độ tăng trưởng ($\beta = 0,0156$) tác động dương.
- Biến đòn bẩy ($\beta = -0,0182$) và quy mô HĐQT ($\beta = -0,0104$) tác động âm.
- Hai biến $\text{LIQ}$ và $\text{SHNN}$ có giá trị thống kê $p > 0,05$ nên bị loại khỏi phương trình giải thích giá trị thị trường.
Đóng góp của nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Củng cố tính ứng dụng của Lý thuyết Thông tin bất cân xứng trong lĩnh vực ngân hàng tại thị trường cận biên/mới nổi. Kết quả ủng hộ nhận định của Aisjah và cộng sự (2013) cùng Buallay (2019), đồng thời phản biện kết luận của Abdallah và Bahloul (2021) cũng như Nguyễn Ngọc Thủy (2018).
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp bộ tiêu chí 64 hạng mục chuẩn hóa theo Thông tư số 96/2020/TT-BTC phục vụ việc chấm điểm minh bạch; chứng minh cho nhà quản trị ngân hàng thấy việc đầu tư vào chất lượng báo cáo thường niên đem lại lợi ích kép cho cả khả năng sinh lời kế toán và định giá thị trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự chỉ ra một số điểm giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:
- Quy mô mẫu khảo sát: Tính đến ngày 19/4/2023, có 19 NHTM niêm yết trên HOSE và HNX, nhưng 5 đơn vị chưa phát hành đầy đủ BCTN năm 2022 nên mẫu chính thức chỉ gồm 14 ngân hàng.
- Phương pháp chấm điểm: Áp dụng phương pháp tính điểm bình quân không trọng số với đánh giá nhị phân (1/0), chưa phân biệt được mức độ chi tiết và chiều sâu của từng khoản mục thông tin được công bố.
- Biến số kiểm soát: Nghiên cứu mới dừng lại ở các chỉ số đặc thù của ngân hàng, chưa tích hợp sâu các biến kinh tế vĩ mô ngoại cảnh trong mô hình FGLS.
Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát sang toàn bộ hệ thống NHTM (bao gồm cả các ngân hàng giao dịch trên UPCoM và chưa niêm yết); kéo dài chuỗi thời gian dữ liệu; áp dụng phương pháp chỉ số có trọng số kết hợp phân tích nội dung chuyên sâu.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật hữu ích cho nhiều đối tượng:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kế toán - Kiểm toán: Cung cấp tài liệu mẫu về quy trình nghiên cứu thực nghiệm dữ liệu bảng, từ bước tổng thuật, thiết kế bộ chỉ số đo lường CBTT đến các kiểm định kinh tế lượng khắc phục khuyết tật (Pooled OLS, FEM, REM, FGLS).
- Nhà đầu tư chứng khoán: Cung cấp cơ sở định lượng để đánh giá mức độ tin cậy của thông tin BCTN, hỗ trợ nhận diện rủi ro đạo đức trước khi ra quyết định giải ngân vào cổ phiếu ngân hàng.
- Ban điều hành các NHTM: Sử dụng trực tiếp bộ chỉ mục 64 tiêu chí tại Phụ lục I để tự rà soát, chuẩn hóa cấu trúc BCTN theo đúng yêu cầu của Thông tư số 96/2020/TT-BTC.
Câu hỏi thường gặp
1. Bộ chỉ số đo lường chất lượng CBTT trong khóa luận gồm bao nhiêu tiêu chí và được xây dựng từ những nguồn nào?
Bộ chỉ số gồm 64 tiêu chí, được phân thành 6 nhóm thông tin: Thông tin chung, Tình hình hoạt động, Báo cáo và đánh giá của Ban điều hành, Quản trị ngân hàng, Phát triển bền vững và Báo cáo tài chính. Danh mục này được xây dựng dựa trên Phụ lục IV Thông tư số 96/2020/TT-BTC của Bộ Tài chính kết hợp với bộ tiêu chí công bố thông tin tự nguyện của Assili (2017).
2. Ngân hàng nào có điểm chất lượng CBTT thấp nhất và cao nhất trong mẫu nghiên cứu?
Trong giai đoạn 2015–2022, điểm số thấp nhất ghi nhận là 0,29688 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng hải Việt Nam (MSB) năm 2016; điểm số cao nhất đạt 0,98438 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPB) năm 2022. Điểm bình quân của toàn bộ 14 ngân hàng trong cả giai đoạn đạt 0,73.
3. Tại sao tác giả không sử dụng mô hình Pooled OLS, FEM hay REM mà phải dùng mô hình FGLS?
Sau khi thực hiện kiểm định Hausman, mô hình REM được lựa chọn thay vì FEM ($p = 0,6203$ ở mô hình ROE và $p = 0,3583$ ở mô hình TBQ). Tuy nhiên, kết quả kiểm định Wooldridge phát hiện mô hình REM vi phạm giả định do xuất hiện hiện tượng tự tương quan ($p = 0,0000 < 0,05$). Do đó, tác giả sử dụng phương pháp FGLS (Feasible Generalized Least Squares) để khắc phục triệt để khuyết tật tự tương quan, đảm bảo ước lượng vững và hiệu quả.
4. Biến đòn bẩy tài chính (LEV) và quy mô HĐQT (HDQT) tác động như thế nào đến ROE và Tobin's Q?
Cả hai biến này đều mang dấu âm trong phương trình FGLS ở cả hai mô hình (với ROE: hệ số LEV là $-0,0028$, hệ số HDQT là $-0,0006$; với TBQ: hệ số LEV là $-0,0182$, hệ số HDQT là $-0,0104$). Điều này chỉ ra việc duy trì tỷ lệ đòn bẩy tài chính quá cao làm gia tăng chi phí rủi ro và bào mòn lợi nhuận; đồng thời quy mô HĐQT quá lớn có thể dẫn tới sự chậm trễ trong việc ra quyết định quản trị, làm suy giảm hiệu quả hoạt động và giá trị thị trường.
5. Vì sao hai biến tỷ lệ thanh khoản (LIQ) và sở hữu nước ngoài (SHNN) bị loại khỏi phương trình Tobin's Q?
Trong kết quả ước lượng FGLS đối với giá trị thị trường (TBQ), hai biến LIQ và SHNN có mức ý nghĩa thống kê $p > 0,05$. Điều này cho thấy trong mẫu nghiên cứu, tỷ lệ thanh khoản và sự hiện diện của cổ đông nước ngoài chưa tạo ra tác động rõ rệt, mang tính thống kê lên định giá thị trường của cổ phiếu ngân hàng, dù hai biến này vẫn có tác động tích cực đến ROE.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Hiểu Phương đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu đo lường tác động của chất lượng CBTT trên BCTN đến hiệu quả hoạt động của 14 NHTM niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2015–2022. Bằng phương pháp ước lượng FGLS trên 112 quan sát, nghiên cứu chứng minh tính minh bạch thông tin đóng góp tích cực có ý nghĩa thống kê vào cả tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE, $\beta = 0,0184$) lẫn giá trị thị trường (Tobin's Q, $\beta = 0,2332$). Công trình cung cấp bằng chứng thực nghiệm vững chắc ủng hộ Lý thuyết Thông tin bất cân xứng, đồng thời đưa ra hệ thống giải pháp thiết thực cho cơ quan quản lý và các NHTM trong tiến trình minh bạch hóa thị trường vốn Việt Nam.