CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài 1. Những nghiên cứu về công bố thông tin Nghiên cứu về công bố thông tin của các ngân hàng được thực hiện tách biệt với các doanh nghiệp do các đặc trưng của hoạt động kinh doanh tiền tệ. Hawashe (2014) tập trung vào việc đánh giá mức độ công bố thông tin của 9 ngân hàng thương mại tại Libya.
Nghiên cứu đã dùng mô hình hồi quy đa biến OLS và cho ra kết quả chỉ ra mức độ công khai thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại Libya thấp, nhưng có cải thiện trong 6 năm qua. Đồng thời, tình trạng niêm yết và quy mô ngân hàng được xác định là các biến độc lập cần thiết để giải thích sự thay đổi trong mức độ công bố thông tin tự nguyện hàng năm. Assili (2017) đã thực hiện một nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của 6 ngân hàng niêm yết. Kết quả cho thấy rằng các ngân hàng lớn cung cấp mức độ công bố thông tin tự nguyện cao hơn, và tỷ lệ sở hữu nước ngoài có tác động tích cực nhất đến mức độ công bố thông tin tự nguyện.
Bhasin và cộng sự (2015) hướng đến mức độ công bố thông tin và các yếu tố ảnh hưởng đến danh mục công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo tài chính của 29 ngân hàng thương mại niêm yết từ 2009 - 2010. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) để kiểm định mối quan hệ giữa tổng công bố thông tin tự nguyện và các đặc điểm cụ thể của công ty. Nghiên cứu cũng chỉ ra phương thức công bố thông tin tự nguyện không cải thiện theo thời gian. Forte và cộng sự (2016) tập trung điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty trong lĩnh vực ngân hàng Brazil.
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội và đưa ra kết quả như sau: Quy mô và danh tiếng công ty có mối quan hệ tích cực với mức độ công bố thông tin tự nguyện. Nghĩa là, công ty càng lớn và có danh tiếng tốt thì mức độ công bố thông tin của công ty càng cao. Ngoài ra, nghiên cứu không tìm thấy mối liên hệ giữa hiệu quả hoạt động và quốc tế hóa tại các ngân hàng với công bố thông tin. Những nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của ngân hàng Haralayya (2021) đã tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của 13 ngân hàng tư nhân, 18 ngân hàng công và 16 ngân hàng nước ngoài ở Ấn Độ trong giai đoạn 2005 - 2020.
Nghiên cứu đánh giá hệ số hồi quy của các biến nói trên với tỷ suất sinh lời trên tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu theo mô hình hồi quy logarit. Kết quả chi ra lợi nhuận trên các khoản tạm ứng được điều chỉnh theo chi phí vốn; tỷ lệ tiền gửi, tổng số tiền vay và lợi nhuận trên mỗi nhân viên, lợi nhuận trên tài sản và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu có liên quan đáng kể đến lợi nhuận ròng. Những biến này được coi là những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong khu vực ngân hàng Ấn Độ. Syafri (2012) sử dụng chỉ số ROA để tìm hiểu về yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Indonesia.
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng và thu thập dữ liệu trong khoảng thời gian 2002 - 2011. Kết quả chỉ ra khả năng sinh lời chịu ảnh hưởng dương từ hệ số nợ trên tổng tài sản, tỷ số vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và dự phòng rủi ro tín dụng và chịu tác động âm từ tỷ lệ lạm phát, quy mô ngân hang va tỷ lệ chi phí trên thu nhập. Ngoài ra, khả nang sinh lời của ngân hang không chịu ảnh hưởng từ tăng trưởng kinh tế và thu nhập ngoài lãi trên tổng tài sản. Chỉ số ROA cũng được Tomola (2013) sử dụng trong bài nghiên cứu thực hiện tại Nigeria của mình.
Nghiên cứu dựa trên mô hình hồi quy các ảnh hưởng cố định (FEM) từ dữ liệu bảng thu được từ báo cáo tài chính của 20 ngân hàng trong khoảng thời gian 2006- 2012. Nghiên cứu cho thấy việc quản lý chi phí hiệu quả và điều kiện kinh tế cũng như gia tăng vốn ngân hàng sẽ nâng cao hiệu suất hoạt động và tăng trưởng của các ngân hàng ở Nigeria. Saeed (2014) đã tiến hành nghiên cứu anh hưởng của các biến số cu thể, ngành cu thể và kinh tế vĩ mô đối với khả năng sinh lời của 73 ngân hàng thương mại trước, trong và sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Từ mô hình hồi quy được sử dụng trong bài, có thể kết luận rằng quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn, cho vay, tiền gửi, thanh khoản và lãi suất có tác động tích cực đến ROA và ROE trong khi GDP và tỷ lệ lạm phát có tác động tiêu cực.
Elisa và Guido (2016) tìm hiểu về sự liên quan giữa đặc điểm của ngành ngân hàng và hiệu quả hoạt động của 28 ngân hàng châu Âu từ năm 2006 đến năm 2015 để làm rõ ảnh hưởng của các thành phần bên trong đến cơ hội đạt được khả năng sinh lời cao. Để xử lý vấn đề nội sinh, các tác giả đã sử dụng kỹ thuật phân tích chuỗi thời gian, phân tích cắt ngang và mô hình hồi quy bội cũng như hồi quy GMM. Kết quả chỉ ra chất lượng tài sản cao hơn dẫn đến mức sinh lời thấp hơn trong khi tỷ lệ và quy mô vốn có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Panditharathna, Kawshala (2017) điều tra ảnh hưởng từ các yếu tố cụ thể của ngân hàng đến hiệu quả hoạt động ở các ngân hàng thương mại nội địa Sri Lanka.
Nghiên cứu thực hiện phân tích bộ dữ liệu bảng cân bằng bao gồm 60 quan sát của 12 ngân hàng thương mại nội địa Sri Lanka trong giai đoạn 2011 - 2015 theo mô hình hồi quy từ đó xác định các biến độc lập là: Quy mô ngân hàng, vốn, tiền gửi và thanh khoản còn Khả năng sinh lời là biến phụ thuộc. Kết quả hồi quy công bố các yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động ngân tại tại Sri Lanka là tỷ lệ vốn, tỷ lệ tiền gửi và quy mô ngân hàng. Những nghiên cứu về chất lượng công bố thông tin ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Aisjah và cộng sự (2013) tập trung vào việc xem xét tác động của việc công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến hiệu quả tài chính và giá trị doanh nghiệp của 15 ngân hàng niêm yết trong giai đoạn 2008 - 2011. Kết quả cho thấy công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không những ảnh hưởng đến tất cả các phép đo hiệu quả tài chính mà còn tác động đến giá trị công ty đo lường bằng chỉ số Tobin's Q.
Tuy nhiên, chỉ có hiệu quả tài chính đo lường bằng ROA và ROE ảnh hưởng đến giá trị công ty đo lường bằng Tobin's Q, trong khi ROS không ảnh hưởng. Buallay (2019) tìm kiếm mối quan hệ giữa công bố thông tin và hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại Châu Âu. Trong thông tin 235 ngân hàng từ năm 2007 đến năm 2016, tác giả thu được 2. Bài nghiên cứu chứng minh được rằng hiệu quả hoạt động của ngân hàng nhận được tác động tích cực từ việc công bố thông tin.
Bên cạnh đó, đo lường riêng lẻ sẽ dẫn đến sự khác nhau trong mối quan hệ giữa các thông tin được. Trong khi công bố thông tin quản trị doanh nghiệp ảnh hưởng tiêu cực đến ROA, ROE thì ROA và Tobin’s Q lại nhận được tác động tích cực từ công bố thông tin môi trường. Khanifah và Hardiningsih (2020) nghiên cứu về ảnh hưởng của công bố thông tin về quản trị doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Iran, Ả-rập Xê-út và Malaysia đã tạo ra bộ chỉ số công bố thông tin quản trị công ty cho 10 ngân hàng Hồi giáo. Kết quả cho thấy rằng các ngân hàng Hồi giáo công bố thông tin quản trị doanh nghiệp có tác động tích cực đến hiệu suất hoạt động của ngân hàng, được đo bằng ROA.
Tuy nhiên, ROE và Tobin's Q không có mối liên hệ đáng kể với việc công bố thông tin quản trị ngân hàng theo quy định. Bằng cách xây dựng bộ chỉ số công bố thông tin, Srairi (2015) đã khám phá tác động của mức độ công bố thông tin quản trị công ty tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng Hồi giáo hoạt động tại 5 quốc gia bao gồm A Rap Xê Út, Kuwait, Qatar, Bahrain và Oman trong 3 năm (2011 - 2013). Kết quả chứng minh rằng các ngân hàng Hồi giáo tuân thủ 54% các thuộc tính được đề cập trong bộ chỉ số công bố thông tin. Các yếu tố được báo cáo và tiết lộ thường xuyên nhất là ban giám sát Sharia, tiếp theo là cơ cấu ban và quản lý rủi ro.
Các phát hiện liên quan đến các quốc gia cho thấy chỉ có hai quốc gia là Ả Rập Xê Út và Bahrain có mức chỉ số này cao hơn. Nghiên cứu của Abdallah và Bahloul (2021) xem xét mối quan hệ giữa công bố thông tin, Đạo luật Shariah và hiệu quả hoạt động của 47 ngân hàng Hồi giáo tại 10 quốc gia trong khu vực trong 8 năm từ 2012 đến 2019 bằng mô hình hồi quy Generalized Least Squares (GLS). ROA và ROE được sử dụng làm biến phụ thuộc, trong khi chất lượng công bố thông tin và quy tắc Shariah là các biến độc lập. Quy mô, đòn bẩy tài chính và số năm thành lập của ngân hàng được sử dụng làm biến kiểm soát.
Nghiên cứu áp dụng phương pháp hồi quy GMM và hồi quy 3 giai đoạn 3SLS để kiểm tra độ chắc chắn của kết quả. Kết quả cho thấy có mối quan hệ tiêu cực giữa việc công bố thông tin và hai chỉ số hiệu suất của các ngân hàng Hồi giáo. Homaidi và cộng sự (2020) tập trung vào mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin tự nguyện và khả năng sinh lời của các ngân hàng Hồi giáo Yemen. Nhóm tác giả đã phát triển một bộ chỉ số để đo lường mức độ công bố thông tin dựa trên báo cáo tài chính hàng năm của 30 ngân hàng Hồi giáo Yemen trong giai đoạn 2005-2014.