Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Yến Nhi đi sâu vào phân tích mối quan hệ giữa thu nhập ngoài lãi và rủi ro hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động phức tạp.

  • Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn: Tác giả chỉ ra rằng cuộc khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ đại dịch Covid-19 đã làm tổng cầu suy giảm, hàng tồn kho gia tăng, thị trường bất động sản đóng băng, đứt gãy chuỗi cung ứng và sản xuất đình trệ. Tình trạng này khiến các doanh nghiệp gặp vô số khó khăn, dẫn tới sự suy giảm thu nhập tín dụng của ngân hàng do tăng trưởng tín dụng thấp kèm áp lực gia tăng trích lập dự phòng rủi ro. Đồng thời, các NHTM còn chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các công ty tài chính và công ty công nghệ tài chính (Fintech). Sự cạnh tranh này làm biên thu nhập lãi thuần (NIM) ngày càng thu hẹp. Do đó, việc đa dạng hóa nguồn thu, đẩy mạnh các hoạt động phi tín dụng để tăng thu nhập ngoài lãi trở thành yêu cầu cấp thiết. Mặc dù thu nhập ngoài lãi hỗ trợ ngân hàng phân tán rủi ro và tăng trưởng bền vững, nhưng các hoạt động phi truyền thống (đầu tư chứng khoán, phái sinh, môi giới...) lại phụ thuộc lớn vào thị trường tài chính, đòi hỏi tính thanh khoản cao và tiềm ẩn rủi ro thị trường cùng rủi ro đòn bẩy hoạt động.
  • Mục tiêu nghiên cứu:
    • Mục tiêu tổng quát: Thông qua việc nghiên cứu tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đề xuất các hàm ý chính sách nhằm kiểm soát và giảm thiểu rủi ro cho hệ thống NHTM.
    • Mục tiêu cụ thể:
      1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thu nhập ngoài lãi, rủi ro của NHTM và tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro ngân hàng.
      2. Đánh giá thực trạng thu nhập ngoài lãi và rủi ro của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2010 - 2022.
      3. Đưa ra kết luận và đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao thu nhập ngoài lãi gắn liền với quản trị rủi ro tại các NHTM Việt Nam.
  • Câu hỏi nghiên cứu:
    1. Chiều hướng tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro của ngân hàng thương mại như thế nào?
    2. Thực trạng thu nhập ngoài lãi tại các NHTM tại Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2022 diễn biến ra sao?
    3. Thực trạng rủi ro của các NHTM tại Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2022 biểu hiện như thế nào?
    4. Dựa trên kết quả nghiên cứu, chính sách nào sẽ được đề xuất để giảm rủi ro cho các ngân hàng thương mại Việt Nam?
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
    • Phạm vi nghiên cứu: Số liệu thứ cấp được thu thập từ 24 NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010/2011 đến năm 2022.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận kết hợp giữa nghiên cứu lý luận ngân hàng hiện đại và mô hình định lượng kinh tế lượng áp dụng cho dữ liệu bảng.

  • Khung lý thuyết và khái niệm:
    • Thu nhập ngoài lãi (TNNL): Dẫn chiếu quan điểm của Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền (2010), Rogers và Sinkey (1999), Stiroh (2004), Huang và Chen (2006), Brunnermeier và cộng sự (2012), TNNL là chênh lệch giữa các khoản thu do cung ứng dịch vụ ngoài tín dụng và chi phí thực hiện, bao gồm thu phí dịch vụ, hoa hồng, kinh doanh ngoại hối, đầu tư chứng khoán và các giao dịch ngoại bảng. Tác giả sử dụng hai thước đo tương đối của TNNL: tỷ trọng TNNL trên tổng thu nhập (TOI) và tỷ lệ TNNL trên tổng tài sản bình quân.
    • Khái niệm và phân loại rủi ro ngân hàng: Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng 2010; rủi ro tín dụng theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN, Anthony Saunders (2007), Koch (2006), Nguyễn Kim Anh (2010); rủi ro lãi suất xuất phát từ sự mất cân xứng kỳ hạn giữa tài sản có (TSC) và tài sản nợ (TSN) theo Casu (2015); rủi ro hoạt động theo Ủy ban Basel (2001) và BIS (2006) phân loại qua 4 nhóm nguyên nhân (quy trình, con người, hệ thống, sự kiện bên ngoài); rủi ro thanh khoản theo Thông tư 13/2018/TT-NHNN; cùng các rủi ro pháp lý, rủi ro uy tín và rủi ro công nghệ.
    • Cơ chế tác động hai chiều: Hướng tác động ngược chiều (giảm rủi ro) giải thích qua lý thuyết đa dạng hóa danh mục tài sản, phân tán nguy cơ từ nợ xấu (Demsetz và Strahan, 1997; Hunjra và cộng sự, 2020). Hướng tác động cùng chiều (tăng rủi ro) giải thích qua tính biến động mạnh của thị trường chứng khoán, áp lực thanh khoản và việc gia tăng chi phí cố định dẫn đến đòn bẩy hoạt động cao (Lepetit và cộng sự, 2008; Đào, 2021).
Tác giả / Năm công bố Mẫu nghiên cứu và phương pháp Kết luận về tác động của TNNL đến rủi ro
Demsetz và Strahan (1997) Các ngân hàng thương mại tại Hoa Kỳ TNNL giúp đa dạng hóa nguồn thu, hấp thụ biến động và giảm rủi ro
Hunjra và cộng sự (2020) Ngân hàng Đông Nam Á giai đoạn 2009 - 2018 (mô hình GMM) TNNL có tác động ngược chiều với rủi ro ngân hàng
Köhler (2014) Ngân hàng bán lẻ tại Đức Ngân hàng có mức TNNL cao hơn thì giảm thiểu được rủi ro
Lepetit và cộng sự (2008) 734 ngân hàng châu Âu giai đoạn 1996 - 2002 TNNL cao làm gia tăng rủi ro hoạt động, rõ nhất ở nhóm quy mô nhỏ
Cheng và cộng sự (2012) Ngân hàng thương mại tại Trung Quốc Tăng tỷ trọng TNNL làm tăng rủi ro mất khả năng thanh toán và biến động ROA
Duong (2021) 25 NHTM Việt Nam 2010 - 2020 (Logistic đơn) Đa dạng hóa thu nhập có tác động ngược chiều tới rủi ro kinh doanh
Đào (2021) 27 NHTM Việt Nam 2010 - 2019 (mô hình GMM) Đa dạng hóa thu nhập qua hoạt động phi truyền thống tạo ra rủi ro cao hơn
  • Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
    • Đề tài sử dụng phương pháp định lượng hồi quy dữ liệu bảng (panel data) kết hợp chuỗi thời gian (2011 - 2022) và dữ liệu chéo của 24 NHTM.
    • Mô hình ước lượng trung tâm là phương pháp Moment tổng quát (GMM - Generalized Method of Moments) nhằm giải quyết các khuyết tật nội sinh, tự tương quan và phương sai sai số thay đổi.
    • Để kiểm tra tính vững của mô hình, nghiên cứu thực hiện hồi quy bổ sung bằng phương pháp Pooled OLS, mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), cùng mô hình kiểm tra với một biến giải thích.
    • Các kỹ thuật kiểm định mô hình bao gồm: kiểm định tự tương quan Wooldridge, kiểm định phương sai thay đổi Modified-Wald, ma trận hệ số tương quan và hệ số phóng đại phương sai (VIF).
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu tài chính thu thập từ Báo cáo tài chính hợp nhất kiểm toán và Báo cáo thường niên của 24 NHTM Việt Nam; các số liệu tổng hợp vĩ mô từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Reuters, cùng báo cáo xếp hạng của Fitch Ratings và Moody's.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận về tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro của các ngân hàng thương mại

Chương này chuẩn hóa hệ thống khái niệm, phân loại và cơ chế truyền dẫn tác động giữa TNNL và rủi ro ngân hàng:

  • Phân loại cấu phần TNNL: Chia thành thu nhập từ hoạt động dịch vụ (thanh toán trong nước/quốc tế, dịch vụ ngân quỹ, nghiệp vụ ủy thác và đại lý) và thu nhập từ hoạt động kinh doanh, đầu tư (kinh doanh ngoại tệ giao ngay, phái sinh tiền tệ Forwards, Swaps, Futures, Options; kinh doanh chứng khoán và chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán).
  • Vai trò của TNNL: Tạo tỷ trọng thu nhập bền vững bù đắp biên lãi tín dụng thu hẹp, ổn định dòng thu do không chịu rủi ro tín dụng trực tiếp, giảm thiểu rủi ro hoạt động, gia tăng hệ số tín nhiệm (S&P, Moody's), nâng cao năng lực cạnh tranh trong Cách mạng công nghiệp 4.0 và thúc đẩy đổi mới tổ chức, quản trị.
  • Phân loại các rủi ro cốt lõi: Phân tích nguồn gốc, bản chất và hệ quả của rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất (bất cân xứng kỳ hạn TSC và TSN), rủi ro hoạt động và rủi ro thanh khoản.
  • Lý luận về tác động hai chiều: Phân tích các kênh truyền dẫn khiến TNNL có thể làm giảm rủi ro thông qua phân tán nguồn thu, hoặc làm tăng rủi ro khi ngân hàng mở rộng đòn bẩy hoạt động, chịu chi phí đầu tư công nghệ lớn và đối mặt với rủi ro thị trường tài chính nhạy cảm.

Chương II: Thực trạng về thu nhập ngoài lãi và rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác giả phân tích dữ liệu thực tế của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2022:

  • Chuyển dịch cơ cấu thu nhập: Tỷ lệ TNNL trong tổng thu nhập tăng từ 11,5% (năm 2010) lên trên 20% (năm 2022), dù thu nhập lãi thuần vẫn giữ tỷ trọng chi phối trên 75%. Tổng mức TNNL năm 2022 tăng hơn 552% so với năm 2010.
  • Cơ cấu các mảng thu nhập ngoài lãi:
    • Thu nhập hoạt động dịch vụ (TNDV): Chiếm tỷ trọng cao nhất trong TNNL (53,6% năm 2010; đạt đỉnh 64,42% năm 2011; đạt 51,82% năm 2022). Giá trị tuyệt đối năm 2022 đạt hơn 96.975 tỷ đồng (tăng 18% so với 2021 và tăng 530% so với 2010). Điển hình tỷ lệ thu dịch vụ/TNNL tại STB đạt 641% (2012), TCB đạt 120% (2015), VPB đạt 181% (2011).
    • Thu nhập kinh doanh và đầu tư (TNKD): Chiếm 15,18% (2010), giảm xuống mức thấp 4,31% (2011) do chính sách tiền tệ thắt chặt và khủng hoảng kinh tế, sau đó phục hồi lên 28,03% (2022), đạt 52.455 tỷ đồng (tăng 1.105% so với 2010).
    • Thu nhập khác (TNK): Biến động từ 31,19% (2010) giảm xuống 20,15% (2022), đạt 37.708 tỷ đồng (tăng 321% so với 2010).
  • Các thương vụ bancassurance và chứng khoán giai đoạn 2020 - 2022: VIB phân phối hơn 80% doanh số bảo hiểm Prudential; MSB ghi nhận lãi dịch vụ 2.873 tỷ đồng (phí bảo hiểm đóng góp 1.853 tỷ đồng); SeABank lãi thuần dịch vụ đạt 1.146 tỷ đồng; ACB đạt 1.300 tỷ đồng từ bảo hiểm Sunlife; Techcombank thu phí dịch vụ 2.103 tỷ đồng (bảo hiểm tăng 196%, TCBS tăng 57,4% phí phân phối trái phiếu); VIB tăng lãi mua bán chứng khoán đầu tư 7,8 lần (đạt 197 tỷ đồng); VPBank dẫn đầu TNNL hệ thống năm 2022 nhờ dịch vụ tăng 58,5% và thu nhập khác tăng 3,7 lần.
  • So sánh quốc tế về tỷ trọng thu phí dịch vụ trên tổng thu nhập hoạt động (Reuter):
Phân nhóm tỷ trọng Tỷ trọng thu phí / Tổng thu nhập hoạt động Quốc gia đại diện
Thấp Dưới 20% Indonesia, Malaysia, Việt Nam
Trung bình 20% - 30% Thái Lan, Tây Ban Nha, Trung Quốc
Cao 30% - 40% Nhật Bản, Anh, Hoa Kỳ
Rất cao Trên 40% Đức, Thụy Sĩ
  • Thực trạng rủi ro tín dụng:
    • Tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh giai đoạn 2010 - 2012: Năm 2010 là 2,05% (~58.000 tỷ đồng, 60% từ DNNN); năm 2011 là 3,3% (quốc tế ước tính 13%); năm 2012 bùng nổ lên 4,08% (Agribank nợ xấu 27.803 tỷ đồng, chiếm 5,8% dư nợ). Tăng trưởng tín dụng 2008 - 2011 là 26,56% nhưng tăng trưởng nợ xấu lên đến 51%.
    • Tốc độ tăng nợ xấu các năm 2010, 2011, 2012 lần lượt là 53,24%, 55,74% và 46,41% (theo IMF, 2020). Chi phí dự phòng lập đỉnh năm 2014.
    • Giai đoạn tái cơ cấu (Nghị định 53/2013/NĐ-CP thành lập VAMC, Thông tư 01/2020/TT-NHNN, triển khai chuẩn Basel II) giúp nợ xấu duy trì dưới 3%. Đến năm 2020, Covid-19 đẩy nợ xấu lên 2,34% trước khi ổn định ở mức 1,9% giai đoạn 2021 - 2022.
    • Tập trung tín dụng: Tín dụng bất động sản và ngoại tệ chiếm trên 25% tổng dư nợ năm 2009. Cuối năm 2011, dư nợ bất động sản đạt gần 200.000 tỷ đồng (chiếm 7,78% dư nợ toàn hệ thống).

Chương III: Mô hình đánh giá tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương này thực hiện kiểm định kinh tế lượng:

  • Thiết lập dữ liệu và mô tả các biến đo lường rủi ro (chỉ số Z-score, nợ xấu) và biến thu nhập ngoài lãi cùng các biến kiểm soát tại 24 NHTM.
  • Thực hiện kiểm định Wooldridge và kiểm định Modified-Wald nhằm phát hiện hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi; kiểm tra đa cộng tuyến qua ma trận tương quan và hệ số VIF.
  • Áp dụng phương pháp ước lượng GMM trên toàn mẫu, đồng thời chia mẫu 24 NHTM thành 2 nhóm: nhóm đã đạt chuẩn Basel II và nhóm chưa đạt chuẩn Basel II để làm rõ sự khác biệt về năng lực quản trị rủi ro và thực thi quy trình ICAAP (trụ cột 2).
  • Tiến hành kiểm tra tính vững của mô hình hồi quy thông qua các phương pháp ước lượng Pooled OLS, FEM, REM và mô hình kiểm tra với một biến giải thích.

Chương IV: Kết luận và một số khuyến nghị nhằm nâng cao thu nhập ngoài lãi và quản trị rủi ro tốt hơn tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

  • Đưa ra nhóm khuyến nghị đối với các NHTM: Đẩy mạnh đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ phi tín dụng, tối ưu hóa chính sách định giá và gói phí dịch vụ, đầu tư hạ tầng công nghệ số hóa an toàn, đào tạo năng lực bán hàng chuyên sâu và thực hiện nghiêm ngặt các quy định quản trị rủi ro theo chuẩn Basel II.
  • Đưa ra nhóm khuyến nghị đối với Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước: Tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý điều chỉnh các sản phẩm tài chính phức tạp (bancassurance, phái sinh, ngân hàng đầu tư), giám sát an toàn hệ thống và hỗ trợ xử lý nợ xấu thực chất.

Kết quả và đóng góp nghiên cứu

  • Kết quả chính kèm số liệu có trong văn bản:
    • Quy mô TNNL của 24 NHTM Việt Nam giai đoạn 2010 - 2022 tăng hơn 552%, đưa tỷ trọng TNNL trên tổng thu nhập từ mức 11,5% lên hơn 20%. Mặc dù vậy, tỷ trọng thu dịch vụ trên tổng thu nhập hoạt động của ngân hàng Việt Nam năm 2020 đạt 24,85%, vẫn nằm trong nhóm thấp so với mức bình quân 35% của ASEAN và trên 40% của các quốc gia phát triển như Đức hay Thụy Sĩ.
    • Nguồn thu dịch vụ (TNDV) đóng vai trò trụ cột trong TNNL, đạt 96.975 tỷ đồng năm 2022 (tăng 530% so với 2010), nhờ sự mở rộng mạnh của mảng phân phối bảo hiểm độc quyền (Bancassurance), ngân hàng số và phí dịch vụ thẻ.
    • Tác động của TNNL đến rủi ro có sự phân hóa rõ nét giữa hai nhóm: các ngân hàng đạt chuẩn Basel II (sở hữu khung quản trị rủi ro và vốn tốt hơn) hấp thụ hiệu quả các biến động từ TNNL, trong khi các ngân hàng chưa đạt chuẩn Basel II đối mặt với mức độ rủi ro lớn hơn khi mở rộng các hoạt động phi tín dụng.
    • Khủng hoảng nợ xấu giai đoạn 2010 - 2012 (đạt đỉnh 4,08% năm 2012) và sự bùng phát của đại dịch Covid-19 năm 2020 (đưa nợ xấu lên 2,34%) phản ánh tính chu kỳ và mức độ tổn thương của hệ thống, đòi hỏi sự điều tiết vĩ mô qua VAMC và áp dụng quy chuẩn Basel II để duy trì nợ xấu ở ngưỡng 1,9% (2021 - 2022).
  • Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:
    • Đối với NHTM: Tái cơ cấu nguồn thu sang các dịch vụ phi tín dụng chất lượng cao; phát triển sản phẩm cá nhân hóa trên kênh số gắn với an toàn bảo mật; xây dựng chính sách phí linh hoạt; tập trung nâng cao nghiệp vụ đội ngũ bán hàng; triển khai quy trình đánh giá an toàn vốn nội bộ (ICAAP) theo trụ cột 2 của Basel II.
    • Đối với Nhà nước và NHNN: Ban hành khung khổ pháp lý đồng bộ về hợp tác ngân hàng - bảo hiểm và quản lý Fintech; điều hành hạn mức tín dụng và chính sách lãi suất ổn định; tăng cường năng lực giám sát rủi ro hệ thống.
  • Đóng góp mới của tác giả so với các nghiên cứu trước:
    • Đưa yếu tố tác động của đại dịch Covid-19 vào mô hình phân tích thực nghiệm giai đoạn 2020 - 2022.
    • Tách mẫu nghiên cứu 24 NHTM thành hai nhóm độc lập: nhóm đã đạt chuẩn Basel II và nhóm chưa đạt chuẩn Basel II để kiểm tra sự khác biệt về tác động của TNNL đến rủi ro.
    • Phân tích chi tiết sự biến thiên của từng cấu phần TNNL (thu dịch vụ, kinh doanh đầu tư, thu nhập khác) gắn liền với các rủi ro cụ thể (tín dụng, lãi suất, thanh khoản, hoạt động).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Mẫu nghiên cứu chỉ giới hạn ở 24 NHTM Việt Nam có báo cáo tài chính đầy đủ và liên tục trong giai đoạn 2010/2011 - 2022; chưa thể bao quát toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng phi ngân hàng hoặc các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
    • Việc tiếp cận các thông tin nội bộ về chi tiết tổn thất rủi ro hoạt động và dữ liệu đo lường rủi ro lãi suất chuyên sâu tại các ngân hàng chưa niêm yết còn gặp giới hạn do mức độ minh bạch thông tin không đồng đều.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi dữ liệu thời gian sau năm 2022 nhằm kiểm chứng tác động dài hạn của các chu kỳ biến động lãi suất và sự chuyển dịch kinh tế số đối với rủi ro hệ thống ngân hàng.
    • Mở rộng phân tích sâu tác động của từng sản phẩm phi truyền thống phức tạp như kinh doanh công cụ tài chính phái sinh, chứng khoán nợ và các dịch vụ tài chính liên kết Fintech đối với từng thành phần rủi ro thanh khoản và rủi ro thị trường.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản trị rủi ro tài chính có thể sử dụng đề tài làm tài liệu tham khảo về phương pháp nghiên cứu dữ liệu bảng (mô hình GMM, Pooled OLS, FEM, REM).
    • Cán bộ quản lý rủi ro, chuyên viên phân tích tài chính tại các NHTM cần tư liệu tham khảo thực chứng để xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm dịch vụ phi tín dụng song hành với quản trị vốn theo Basel II.
    • Các nhà nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách tham khảo số liệu hệ thống về diễn biến nợ xấu, cơ cấu thu nhập và an toàn hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam qua hơn một thập kỷ.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong tài liệu:
    • Phần phân tích chi tiết dữ liệu thực trạng cơ cấu thu nhập ngoài lãi và các giai đoạn biến động rủi ro tín dụng từ năm 2010 đến 2022 tại Chương II.
    • Phương pháp xây dựng mô hình hồi quy GMM kết hợp kiểm định Wooldridge, Modified-Wald và kỹ thuật phân chia mẫu theo chuẩn Basel II tại Chương III.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ trọng thu nhập từ phí dịch vụ trên tổng thu nhập hoạt động của các NHTM Việt Nam đứng ở vị trí nào khi so sánh với thế giới? Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước và Reuters được trích dẫn trong khóa luận, tỷ trọng thu nhập dịch vụ của các NHTM Việt Nam năm 2020 đạt 24,85%, thuộc nhóm thấp (dưới 20% theo phân loại của Reuters, tương tự Indonesia và Malaysia). Con số này thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 35% của các nước ASEAN và mức trên 40% - 50% tại các quốc gia phát triển như Đức và Thụy Sĩ.

2. Cấu phần nào đóng góp lớn nhất vào thu nhập ngoài lãi của 24 NHTM Việt Nam giai đoạn 2010 - 2022 và giá trị đạt được là bao nhiêu? Thu nhập từ hoạt động dịch vụ (TNDV) luôn giữ tỷ trọng đóng góp lớn nhất trong tổng TNNL trong suốt giai đoạn nghiên cứu (chiếm 53,6% năm 2010; đạt đỉnh 64,42% năm 2011; đạt 51,82% năm 2022). Đến năm 2022, tổng giá trị tuyệt đối của TNDV đạt hơn 96.975 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2021 và tăng hơn 530% so với năm 2010.

3. Khóa luận ghi nhận tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam đạt mức cao nhất vào năm nào và số liệu cụ thể là bao nhiêu? Tỷ lệ nợ xấu đạt đỉnh vào năm 2012 với mức 4,08% (tăng hơn 23% so với năm 2011). Trong đó, Agribank là ngân hàng có quy mô nợ xấu lớn nhất với 27.803 tỷ đồng, chiếm 5,8% tổng dư nợ, tương đương tổng nợ xấu của 5 ngân hàng lớn thời điểm đó (Vietcombank, BIDV, Vietinbank, SHB và ACB) cộng lại.

4. Điểm mới trong việc phân nhóm mẫu nghiên cứu của đề tài tại Chương III là gì? Tác giả đã chia 24 NHTM Việt Nam thành hai nhóm độc lập gồm: nhóm NHTM đã đạt chuẩn Basel II và nhóm NHTM chưa đạt chuẩn Basel II. Việc chia nhóm này nhằm chạy mô hình hồi quy GMM để đánh giá sự khác biệt về mức độ tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro ngân hàng giữa các nhóm có năng lực quản trị rủi ro khác nhau.

5. Hoạt động kinh doanh phi tín dụng nào đã đóng góp nguồn thu đáng kể cho các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2020 - 2022? Đó là hoạt động phân phối bảo hiểm độc quyền (Bancassurance) và mua bán, phân phối chứng khoán đầu tư. Cụ thể, ACB ghi nhận 1.300 tỷ đồng từ bảo hiểm Sunlife; MSB thu 1.853 tỷ đồng phí bảo hiểm từ Prudential; Techcombank ghi nhận dịch vụ bảo hiểm tăng 196% và phí phân phối trái phiếu từ TCBS tăng 57,4%; trong khi VIB có mức tăng trưởng lãi từ mua bán chứng khoán đầu tư gấp 7,8 lần (đạt 197 tỷ đồng).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Yến Nhi đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng thu nhập ngoài lãi cùng các rủi ro hệ thống tại 24 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2022. Bằng việc ứng dụng phương pháp hồi quy GMM kết hợp phân chia nhóm ngân hàng theo chuẩn mực Basel II và kiểm soát biến cố Covid-19, công trình đã làm rõ tính hai mặt trong mối liên hệ giữa thu nhập phi tín dụng và an toàn hoạt động ngân hàng. Các số liệu và giải pháp được tác giả tổng hợp cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị, hỗ trợ thiết thực cho công tác hoạch định chiến lược kinh doanh dịch vụ và quản trị rủi ro tại các tổ chức tín dụng Việt Nam hiện nay.