CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA THU NHẬP NGOÀI LÃI ĐẾN RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý thuyết về thu nhập ngoài lãi của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm thu nhập ngoài lãi Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền (2010) nêu rõ “Thu nhập từ các hoạt động ngoài tín dụng là các khoản thu nhập của các ngân hàng thương mại được hình thành từ chênh lệch giữa các khoản thu do cung ứng các sản phẩm dịch vụ khác ngoài hoạt động tín dụng và chi phí bỏ ra để thực hiện các sản phẩm dịch vụ đó. Khoản thu nhập này được gọi là thu nhập ngoài lãi cho vay hay thu nhập từ hoạt động ngoài tín dụng.
Thu nhập từ hoạt động ngoài tín dụng là các khoản thu nhập từ hoạt động dịch vụ gồm kinh doanh ngoại hối, vàng bạc, đá quý, kinh doanh chứng khoán và các hoạt động dịch vụ khác sau khi trừ đi các khoản chi phí tương ứng cho các khoản thu này”. Về kết cấu thu nhập ngoài lãi, Rogers và Sinkey (1999), Stiroh (2004), Huang và Chen (2006) cho rằng thu nhập của ngân hàng được phân chia theo hoạt động kinh doanh gồm hai mảng chính: hoạt động truyền thống và phi truyền thống. Sự khác nhau giữa hai mảng này là các hoạt động phi truyền thống tạo ra các nguồn thu từ phí chứ không phải là nguồn thu từ lãi cho vay như các hoạt động truyền thống. Các hoạt động phi truyền thống bao gồm tất cả các hoạt động tạo ra thu nhập từ phí như dịch vụ bảo lãnh, quản lý tiền mặt, các dịch vụ giám hộ,… Thu nhập ngoài lãi là khoản thu nhập không đồng nhất phát sinh từ nhiều hoạt động khác nhau.
Thu nhập ngoài lãi được chia thành các thành phần chính: thu nhập ủy thác, phí dịch vụ, doanh số giao dịch, lệ phí và các khoản thu nhập khác (Stiroh, 2004; Huang và Chen, 2006). Brunnermeier và cộng sự (2012) cũng chỉ ra rằng thu nhập ngoài lãi là một hỗn hợp các thành phần không đồng nhất và khá đa dạng. Một trong số những khoản thu phí của ngân hàng xuất phát từ việc cung cấp dịch vụ như dịch vụ tiền gửi, dịch vụ thẻ tín dụng, các dịch vụ chuyển tiền điện tử,. Khoản thu từ phí còn phát sinh từ các hoat động khác như môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới bảo hiểm, môi giới bất động sản,… Ngân hàng cũng tạo ra các khoản thu từ các hoạt động kinh doanh ngoại bảng như các cam kết cho vay, thư tín 10 dụng, dịch vụ ngoại hối, dịch vụ chứng khoán phái sinh, sắp xếp các khoản cho vay cho khách hàng.
Tóm lại, có thể hiểu thu nhập ngoài lãi là thu nhập phát sinh ngoài khoản lãi từ hoạt động tín dụng của ngân hàng. Thu nhập ngoài lãi khá đa dạng, bao gồm các khoản thu nhập từ phí gắn với dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng 1. Phân loại thu nhập ngoài lãi 1. Thu nhập từ hoạt động dịch vụ a.
Thu từ dịch vụ thanh toán: Dịch vụ thanh toán là việc ngân hàng thương mại cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế, thực hiện thu hộ, chi hộ và các loại dịch vụ khác do Ngân hàng Nhà nước quy định của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán. Đối với dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng - Dịch vụ cung ứng các phương tiện thanh toán: ngân hàng cung cấp các phương tiện thanh toán và tiến hành thu phí dịch vụ từ khách hàng có nhu cầu sử dụng. - Dịch vụ thanh toán chuyển tiền: ngân hàng phục vụ khách hàng có nhu cầu chuyển tiền và thu phí dịch vụ thanh toán đối với khách hàng là người chuyển tiền. - Dịch vụ thu hộ: ngân hàng phục vụ bên nhờ thu hoặc bên đòi tiền sẽ thu phí dịch vụ thanh toán đối với khách hàng là người thụ hưởng; ngân hàng phục vụ bên trả tiền sẽ thu phí dịch vụ thanh toán đối với khách hàng là người trả tiền.
- Các dịch vụ thanh toán khác: ngân hàng thực hiện dịch vụ thanh toán cho khách hàng và thu phí dịch vụ thanh toán đối với khách hàng là người sử dụng dịch vụ thanh toán. Đối với dịch vụ thanh toán quốc tế cho khách hàng: - Dịch vụ chuyển tiền ra nước ngoài: ngân hàng phục vụ bên chuyển tiền sẽ thu phí dịch vụ thanh toán đối với khách hàng là bên chuyển tiền. - Dịch vụ nhận tiền đến từ nước ngoài: ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng tiến hành thu phí dịch vụ thanh toán đối với khách hàng là người thụ hưởng. 11 - Dịch vụ nhờ nước ngoài thu hộ séc, tiền nước ngoài không đủ tiêu chuẩn lưu hành, bộ chứng từ cho khách hàng trong nước: ngân hàng phục vụ bên nộp hoặc bên đòi tiến hành thu phí dịch vụ thu hộ đối với khách hàng là bên nộp hoặc bên đòi tiền và nhận, xử lý và gửi chứng từ đi nước ngoài nhờ thu và thanh toán kết quả nhờ thu.
- Dịch vụ thu hộ nước ngoài: ngân hàng phục vụ bên trả tiền tiến hành thu phí dịch vụ thu hộ nước ngoài đối với khách hàng là bên trả tiền trong nước và nhận, xử lý nhờ thu của nước ngoài và thanh toán (chuyển tiền) trả nước ngoài. Thu từ dịch vụ ngân quỹ Dịch vụ ngân quỹ là một chức năng quan trọng cung cấp những thông tin về giao dịch, đầu tư, chứng từ có giá trị, tiền gửi thanh toán ở ngân hàng cho các giám đốc tài chính hoặc thủ quỹ. Các dịch vụ ngân quỹ sẽ tập trung vào nguồn tiền đầu tư của khách hàng, đồng thời cung cấp các giải pháp đảm bảo tính thanh khoản và sự lưu thông tiền trong ngân quỹ của ngân hàng. Dịchvụ ngân quỹ giúp khách hàng không cần mất thời gian mà vẫn có thể an tâm với khoản tiền phải thu/chi của mình.
- Dịch vụ Tài khoản phải thu: giúp khách hàng cung cấp các sản phẩm và giải pháp để nhận/thu tiền cho các giao dịch kinh doanh/bán hàng/dịch vụ được cung cấp từ các đối tác kinh doanh, khách hàng và tập hợp khách hàng lẻ lớn, nhanh chóng và hiệu quả hơn. - Tài khoản Các dịch vụ phải trả: giúp khách hàng chi trả các khoản tài chính cho các đối tác kinh doanh cũng như khách bán lẻ. - Dịch vụ Quản lý Thanh khoản: giúp các công ty muốn quản lý số tài sản và nợ ngắn hạn. - Dịch vụ Báo cáo: nhà cung cấp dịch vụ giúp khách hàng hợp nhất các khoản phải thu và vị thế phải trả của mình thông qua nhiều loại tiền tệ khác nhau.
Điều này rất hữu ích trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh. - Dịch vụ Tài trợ thương mại: giúp khách hàng giao dịch qua biên giới và đảm bảo việc giao hàng và thu tiền kịp thời. Thu từ nghiệp vụ ủy thác và đại lý 12 Nghiệp vụ ủy thác và đại lý của các NHTM được thực hiện theo quy định của pháp luật như sau: “Ngân hàng thương mại được quyền ủy thác, nhận ủy thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạtđộng ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài sản theo quy định của Ngân hàng Nhà nước” Ủy thác là việc một bên (bên ủy thác) giao vốn bằng tiền cho một bên khác (bên nhận ủy thác) để thực hiện hoạt động theo quy định đối với đối tượng ủy thác, bên ủy thác chịu mọi rủi ro, bên nhận ủy thác được hưởng phí ủy thác. Hoạt động đại lý ngân hàng là việc cung ứng dịch vụ tài chính cho khách hàng bởi một đối tác bên thứ ba thay mặt cho tổ chức nhận tiền gửi hoặc/và tổ chức cung ứng dịch vụ tiền di động được cấp phép.
Ngân hàng thương mại được quyền ủy thác, nhận ủy thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài sản. Thu nhập từ hoạt động kinh doanh và đầu tư a. Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối - Thu từ kinh doanh ngoại tệ giao ngay: là giao dịch hai bên thực hiện mua, bán với nhau một lượng ngoại tệ với đồng Việt Nam hoặc với một ngoại tệ khác theo tỷ giá giao ngay xác định tại ngày giao dịch. - Thu từ các công cụ tài chính phái sinh tiền tệ: đầu cơ vào các công cụ phái sinh là tham gia vào một vị thế trong hợp đồng phái sinh nhằm hưởng lợi trên sự biến đổi về giá trị của tài sản cơ sở.
Các công cụ phái sinh nhằm mục đích đầu cơ của NHTM chủ yếu gồm: + Hợp đồng kỳ hạn (Forwards) + Hợp đồng hoán đổi (Swaps) + Hợp đồng tương lai (Futures) + Hợp đồng quyền chọn (Options) - Thu từ kinh doanh ngoại tệ: mua bán ngoại tệ (kinh doanh ngoại tệ) là hình thức mua hoặc bán loại tiền tệ này để đổi lấy loại tiền tệ khác trên thị trường ngoại hối nhằm kiếm lời dựa trên sự chênh lệch tỷ giá giữa các đồng tiền. Thu nhập từ hoạt động đầu tư kinh doanh chứng khoán NHTM kinh doanh chứng khoán bằng hai loại chứng khoán kinh doanh sau: Chứng khoán kinh doanh: bao gồm những chứng khoán được ngân hàng quản lý trong danh mục tài sản để kinh doanh với dự định bán ra trong thời gian ngắn nhằm mục đích thu lợi từ chênh lệch giữa giá mua và giá bán của chứng khoán. Chứng khoán kinh doanh có thể bao gồm chứng khoán nợ và chứng khoán vốn. Chứng khoán vốn được hạch toán trên tài khoản chứng khoán kinh doanh được ngân hàng mua với chiến lược kinh doanh, mua để bán trong thời gian ngắn nhằm hưởng chênh lệch giá, không có mục đích kiểm soát doanh nghiệp.
Chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán: bao gồm những chứng khoán ngân hàng mua vào với mục đích đầu tư và sẵn sàng để bán. Chứng khoán này vừa mang lại lợi tức, vừa mang lại khoản lãi từ việc chênh lệch giữa giá mua và giá bán cho ngân hàng. Đây là loại chứng khoán khó nhận biết hơn các nhóm chứng khoán khác. Những chứng khoán mà tổ chức tín dụng mua vào không xếp vào hai nhóm chứng khoán kinh doanh và chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn thì gọi là chứng khoán sẵn sàng để bán.
Khi tổ chức tín dụng không đủ khả năng tài chính giữ các chứng khoán đến khi đáo hạn thì thường chúng được chuyển sang nhóm này. Ngoài ra, một dấu hiệu khá rõ để phân biệt giữa chứng khoán kinh doanh và chứng khoán sẵn sàng để bán là thời gian nắm giữ của loại thứ nhất ngắn còn với loại thứ hai, việc bán phụ thuộc nhiều vào yếu tố thị trường.