mở đầu cho một giai đoạn tìm tòi, nghiên cứu sâu về lĩnh vực này. 7 download by : skknchat@gmail.com Thầy thuốc người Hy Lạp Dioscorides năm 60 - 20 (TCN) giới thiệu 600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh. Đồng thời, ông cũng là người đặt nền móng cho nền y dược học. Năm 79 - 24 (TCN), nhà tự nhiên học người La Mã Plinus soạn thảo bộ sách "Vạn vật học" gồm 37 tập giới thiệu 1000 loài cây có ích.
Syvan SAYSOUK, Soutthi MALINHONG (2008) khi nghiên cứu đa dạng thuộc ở làng Bản Pông, huyện Ngao, tỉnh Lăm Pang, Thái Lan đã dùng phương pháp phỏng vấn người dân để nghiên cứu cây thuốc ở khu vực nghiên cứu. Bước đầu đã thống kê được 177 loài có giá trị làm thuốc [64] A. Syvan SAYSOUK, Phayoungsuck SAYSOUK (2012) khi nghiên cứu thành phần loài cây thuốc trong trường Đại học Ra Chạ Phắt Chiêng Rai, Thái Lan đã thống kê được 160 loài cây thuốc, thuộc 46 họ kèm theo công dụng của chúng [63]. Lanida PINGMEUNG, Thatsaniviet YASO (2010) khi nghiên cứu thành phần loài thực vật thuộc khu vực sông Cốc, tỉnh Chiêng Rai, Thái Lan (2010) đã thống kê được 476 loài cây thuốc [51].
Nopphamat SOUNTHONCHAREUNNON, Visouda SUVITHAYAVAN (2013) đã biên soạn cuốn sách về cách sử dụng cây thuốc cho người dân thủ đô Băng Cốc, Thái Lan. Cuốn sách đã giới thiệu về các nhóm cây làm thuốc và cách dùng của mỗi loài [53]. Theo Sumithra và cộng sự (2011), dịch chiết từ lá cây Mấm đen (Avicennia officinalis L.) có khả năng kháng viêm, nhóm tác giả cũng đã chứng minh khả năng kháng viêm của Avicennia officinalis là do có sự hiện diện của betulinic - acid trong thành phần của dịch chiết. Thomas (2011) khi nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn của loài Ráng đại (Acrostichum aureum L.) đã khẳng định rằng dịch chiết từ lá khô trong methanol và aceton của loài này có khả năng kháng lại chủng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa đề kháng với Amoxicilin và Chloramphenicol.
Theo tác giả sự có mặt của flavonoid và phenol trong cây ở nồng độ cao là tác nhân kháng lại chủng vi khuẩn trên. 8 download by : skknchat@gmail.com Nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn của loài Ráng đại Acrostichum aureum của tác giả Thomas (2011) cho thấy dịch chiết từ lá khô trong methanol và aceton của loài này có khả năng kháng lại chủng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa đề kháng với Amoxicilin và Chloramphenicol. Theo tác giả sự có mặt của flavonoid và phenol trong cây ở nồng độ cao là tác nhân kháng lại chủng vi khuẩn trên. Ở Thái Lan, Neamsuvan và các cộng sự (2011) đã tiến hành điều tra, khảo sát các cây thuốc của rừng ngập mặn ở tỉnh Songkhla.
Kết quả đã ghi nhận được 110 loài thuộc 100 chi, 51 họ có công dụng làm thuốc. Trong đó có 69 loài chỉ mọc ở các rừng sát biển, 35 loài chỉ mọc ở vùng rừng ngập mặn và 6 loài gặp ở cả hai khu vực. Những nghiên cứu về cây thuốc và vị thuốc ở Việt Nam và Lào * Ở Việt Nam Ở Việt Nam, tập quán sử dụng cây thuốc đã có từ lâu. Có thể nói, nó xuất hiện từ buổi đầu sơ khai, khi con người còn sống theo lối nguyên thuỷ.
Trong quá trình tìm kiếm thức ăn, tổ tiên chúng ta đã ngẫu nhiên phát hiện ra công dụng và tác hại của nhiều loại cây. Suốt một thời gian dài như vậy, tổ tiên chúng ta đã dần dần tích luỹ được nhiều kinh nghiệm, biết lợi dụng tính chất của cây rừng để làm thức ăn và làm thuốc chữa bệnh. Qua các truyền thuyết từ thời xa xưa đã cho biết, tổ tiên ta đã biết dùng cây cỏ làm gia vị kích thích sự ngon miệng và chữa bệnh (Viện Dược liệu, 1990, 1993) [38, 39]. Đáng chú ý Bộ y tế xuất bản tập “Dược liệu Việt Nam” tổng kết các công trình nghiên cứu về cây thuốc trong y học cổ truyền dân gian ở hàng nghìn xã của 53 tỉnh thành phố cả nước [4].
Theo viện Dược liệu (1993), trong tổng số gần 4.000 loài cây thuốc ở Việt Nam, phần lớn được sử dụng theo kinh nghiệm nhân dân, chỉ khoảng 1/3 được phân tích cơ sở khoa học. Thường các loài cây được chữa các bệnh trong cuộc sống hàng ngày nhưng có cả một số bệnh nan y [39]. Thế kỷ XI (TCN), nhân dân ta có tục ăn trầu cho ấm người, thơm miệng, uống nước chè xanh cho mát, nụ vối cho dễ tiêu. Điều đó nói lên những hiểu biết về dinh dưỡng và sử dụng thuốc của dân tộc.
Thế kỷ II (TCN), hàng trăm loại thuốc đã được phát hiện như: sắn dây, khoai lang, mơ, quýt. và trong thời kỳ Bắc thuộc, nhiều vị thuốc của ta đã được xuất sang Trung Quốc. 9 download by : skknchat@gmail.com Dưới triều vua nhà Lý (1010 - 1244) có nhiều lương y nổi tiếng, trong đó có nhà sư Minh Không (Nguyễn Chí Thành) ở chùa Giao Thuỷ đã có công chữa bệnh cho Lý Thần Tông. Nhà Lý đặt quan hệ với Tống Huy Tông (Trung Quốc) trao đổi thuốc Nam lấy thuốc Bắc.
Dưới triều Trần (1244 - 1399), đã có kế hoạch tự túc thuốc Nam để kháng chiến. Tướng Phạm Ngũ Lão đã trồng cây thuốc ở Vạn An và Dược Sơn (xã Hưng Đạo - Chí Linh - Hải Dương) để cung cấp cho quân y. Ở Sơn Nam, Giao Thuỷ, (Nam Định), Dạ cẩm, Hồng Châu (Cẩm Bình, Hải Dương) Tuệ Tĩnh đã mở nhiều cơ sở chữa bệnh làm phúc ở các chùa và gây phong trào trồng cây thuốc ở gia đình. Ông là một đại sư nước Việt dùng thuốc Nam, sắc thuốc chữa bệnh cho nhân dân với phương châm: "Thuốc Nam chữa bệnh người Nam" ông đã truyền bá y dược cổ truyền cho nhân dân trong các tác phẩm: − "Nam dược thần hiệu": gồm 499 vị và 3.932 phương thuốc trị 184 loại bệnh, chia làm 10 khoa (năm 1725).
Đây là tập sách thứ hai xuất hiện trong lịch sử nghiên cứu cây thuốc ở nước ta sau tập "Bản thảo thực vật toàn yếu" do Phan Chu Tiên biên soạn (1429) là tập cây thuốc và dược liệu đầu tiên của Việt Nam. − "Các bài thuốc Nam và thập tam phương gia giảm": chép 13 cổ phương với bổ ẩm đơn do ông sáng chế để chữa các bệnh gia giảm theo chứng. Các tài liệu này được in lại trong "Nam dược chính bản". Sau được triều hậu Lê in lại trong "Hồng Nghĩa giác tư y thư" (1717 và 1723) và được lưu truyền đến nay [35].
Thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1729 - 1791) đã thừa kế dược học của Tuệ Tĩnh chép vào tập "Lĩnh Nam bản thảo", nội dung gồm 496 vị thuốc Nam của "Nam dược thần hiệu" và phát hiện thêm hơn 300 vị nữa. Tư liệu vĩ đại nhất của ông là bộ sách: "Hải Thượng y tông tâm lĩnh" gồm 66 quyển viết về lý luận cơ bản, phương pháp chẩn đoán, trị bệnh [19]. Ngoài các bộ sách trên, còn kể đến tập "Vạn phương thập nghiệm" của Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh gồm 8 tập, xuất bản năm 1763. Tập "Nam bang thảo mộc" của Trần Nguyệt Phương mô tả 100 loài cây thuốc Nam, xuất bản năm 1858.
10 download by : skknchat@gmail.com Triều Nguyễn (1802 - 1845) có quyển "Nam dược tập nghiệm quốc âm" của Nguyễn Quang Lượng về phương thuốc dân gian [20]. Công trình nghiên cứu của Crévost và Pétélote (1928 - 1935), đã nghiên cứu và công bố kết quả điều tra về tài nguyên thực vật ở Việt Nam và Đông Dương [45]. Sau cách mạng tháng 8-1945, y dược học cổ truyền đạt được những thành tựu to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Bộ Y tế cùng y học hiện đại, sức khoẻ của người dân được quan tâm và chăm lo chu đáo hơn.
Sau khi nước nhà thống nhất (năm 1975), việc nghiên cứu cây thuốc ở nước ta được quan tâm nhiều. Có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu, tìm tòi và phát hiện thêm nhiều loài cây thuốc mới. Dược điển Việt Nam tập 2 (1983) của NXB Y học do nhiều thành viên và các cơ quan tham gia xây dựng, đã mô tả và nêu công dụng của hơn 430 loài cây thuốc [4]. Lương y lão thành, thầy thuốc ưu tú Lê Trần Đức với tác phẩm "Cây thuốc Việt Nam" (1995) đã mô tả hơn 830 loài cây thuốc và giới thiệu cách trồng, hái, chế biến, trị bệnh ban đầu [21].
Đỗ Tất Lợi (1970 - 2005) khi nghiên cứu các loài cây thuốc và vị thuốc Việt Nam đã công bố 793 loài thuộc 164 họ ở hầu hết các tỉnh nước ta. Trong tài liệu này, tác giả cũng tiến hành mô tả từng cây, cách thu hái và chế biến, thành phần hoá học, công dụng và liều dùng. Tuy nhiên, nơi phân bố của từng loài tác giả giới thiệu rất khái quát [27, 28]. Võ Văn Chi (1996) với bộ sách "Từ điển cây thuốc Việt Nam" đã giới thiệu 3.200 loài cây mọc hoang và trồng ở Việt Nam.
Tác giả đã mô tả khá chi tiết từng loài, bộ phận dùng, nơi sống và thu hái, tính vị, công dụng của chúng. Ngoài ra, sách còn có hình vẽ và ảnh chụp một số loài cây nên thuận lợi cho việc tra cứu [9]. Đặng Quang Châu (2001) đã công bố một số dẫn liệu về cây thuốc của dân tộc Thái ở huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) gồm 177 loài, thuộc 149 chi, thuộc 71 họ khác nhau [6]. 11 download by : skknchat@gmail.com Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải (2003), khi điều tra các loài cây thuốc của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu (Nghệ An) đã thu được 93 loài thuộc 7 chi, 42 họ.
Các tác giả đã phân loại cây đuợc sử dụng theo các nhóm bệnh: bệnh ngoài da, bệnh về đường tiêu hoá, bệnh về gan, bệnh về xương. Lưu Đàm Cư, Hà Tuấn Anh, Trương Anh Thư (2005), khi điều tra các loài cây có ích của dân tộc H’Mông ở vùng núi cao phía Bắc đã phân loại được 4 nhóm theo công dụng: cây lương thực - thực phẩm, cây làm thuốc, cây có độc, cây để nhuộm màu, cây ăn quả. Trong nhóm cây làm thuốc, các tác giả đã thống kê được 657 loài thuộc 118 họ mà người H'Mông sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho người và gia súc [16]. Nguyễn Thị Thuỷ, Lưu Đàm Cư, Phạm Văn Thính, Bùi Văn Thanh (2005), khi nghiên cứu việc thu hái và sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Tày khu vực Việt Lâm (Vị Xuyên, Hà Giang) đã cho biết: có hơn 400 loài cây thuốc thường xuyên bị thu hái thuộc 104 họ thực vật, trong đó những họ có số loài được sử dụng nhiều nhất là Fabaceae (25 loài), Euphorbiaceae (19 loài), Asteraceae (18 loài), Rutaceae (12 loài).