Tổng quan luận án
Quyết định tài chính của doanh nghiệp gắn liền với cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ. Cấu trúc vốn được định nghĩa là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu nhằm tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh (Roos & ctg, 2002), trong khi cấu trúc kỳ hạn nợ thể hiện tỷ lệ giữa các khoản nợ ngắn hạn (đáo hạn trong vòng 12 tháng) và nợ dài hạn (đáo hạn trên một năm) (Barclay & Smith, 1995). Sự kết hợp này tác động trực tiếp đến tính bền vững và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp (Modigliani & Miller, 1958; Myers & Majluf, 1984). Theo lý thuyết sự phù hợp, việc mất cân đối giữa cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ làm suy giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh (Morris, 1976; Stohs & Mauer, 1996).
Tại Việt Nam, thị trường bất động sản được hình thành từ khi Luật Đất đai năm 1993 được ban hành. Đây là ngành kinh doanh đặc thù với sản phẩm có giá trị lớn, vị trí cố định và chịu sự chi phối chặt chẽ của hệ thống pháp luật. Hoạt động của các dự án bất động sản đòi hỏi nguồn vốn dài hạn, song phần lớn doanh nghiệp tại Việt Nam lại sử dụng nợ vay ngắn hạn để tài trợ, dẫn đến áp lực thanh khoản và rủi ro tài chính. Bối cảnh suy thoái kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 bắt nguồn từ thị trường địa ốc Mỹ đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2008–2015 chỉ đạt 5,91% (so với 7,5% giai đoạn 2000–2007); chỉ số VN-Index giảm từ 1.158,9 điểm (tháng 3/2007) xuống 234,66 điểm (tháng 02/2009); lãi suất cho vay ngân hàng có thời điểm lên đến 20,10% vào quý 3/2008; thị trường bất động sản đóng băng và lượng hàng tồn kho tăng cao.
Về nguyên nhân chủ quan, các doanh nghiệp đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản tại Việt Nam có quy mô vốn thấp so với nhu cầu, phụ thuộc nhiều vào vốn vay ngân hàng (chiếm khoảng 70% nguồn vốn tài trợ dự án). Dữ liệu tài chính cho thấy 40% doanh nghiệp sử dụng nợ vượt ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu và 74,29% doanh nghiệp sử dụng kỳ hạn nợ dài hạn dưới ngưỡng cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu. Trong giai đoạn 2008–2017, quy mô nguồn vốn kinh doanh trung bình của 70 doanh nghiệp niêm yết tăng 23,87%/năm, tỷ lệ nợ phải trả chiếm bình quân 53,57% tổng nguồn vốn, trong đó nợ ngắn hạn chiếm 60,22% tổng nợ. Khả năng thanh khoản dài hạn giảm bình quân 15%/năm, tỷ lệ tăng trưởng giảm 0,1%/năm, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) giảm bình quân 1,91%/năm, tỷ lệ nợ xấu bất động sản toàn hệ thống ngân hàng tăng bình quân 7,56%/năm, và 44,28% doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất cân đối tài chính.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án:
- Mục tiêu tổng quát: Luận chứng các cách tiếp cận lý luận và phương pháp luận trong nghiên cứu cấu trúc vốn mục tiêu, cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu và gợi ý các kiến nghị để các doanh nghiệp đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản niêm yết tại Việt Nam đạt được cấu trúc vốn mục tiêu và cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu.
- Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Xác định tốc độ điều chỉnh nhằm đạt được cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu của các doanh nghiệp này.
- Nghiên cứu tác động giữa cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp.
- Xác định ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu và cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 4 câu hỏi:
- Cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam chịu tác động bởi các yếu tố nào?
- Tốc độ điều chỉnh về cấu trúc vốn mục tiêu và cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu của các doanh nghiệp này là bao nhiêu?
- Tồn tại tác động hai chiều giữa cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ hay không?
- Tồn tại ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu và cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu tại các doanh nghiệp này hay không, và ngưỡng đó là bao nhiêu?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc vốn (tổng nợ trên tổng tài sản) và cấu trúc kỳ hạn nợ (nợ dài hạn có phát sinh chi phí lãi vay trên tổng nợ), cùng mối quan hệ tương tác qua lại giữa hai cấu trúc này.
- Phạm vi không gian và dữ liệu: 70 doanh nghiệp đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản niêm yết trên hai Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và TP. Hồ Chí Minh (HOSE) có hoạt động liên tục và công bố báo cáo tài chính đầy đủ. Các biến vĩ mô và thể chế của Việt Nam được thu thập từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Datastream.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 10 năm, từ năm 2008 đến năm 2017 (bảng cân bằng gồm 700 quan sát).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 4 hướng tiếp cận chính:
Hướng nghiên cứu về các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn:
- Nhóm nghiên cứu quốc tế: Nghiên cứu các yếu tố vi mô tác động đến cấu trúc vốn bao gồm Ross (1977), Titman & Wessels (1988), Chen & ctg (1997), Graham & Harvey (2001), Chen (2003), Ramzi & Tarazi (2013), Amjad & Bilal (2012), Hunjra & ctg (2014). Các nghiên cứu kết hợp yếu tố vi mô và vĩ mô gồm Rajan & Zingales (1995), Wald (1999), Booth & ctg (2001), Fama & French (2002), Hatzinikolaou & ctg (2002), Saylgan & ctg (2006), Delcoure (2007), Frank & Goyal (2007), Jong & ctg (2008), Kayo & Kimura (2011), Gungoraydinoglu & Öztekin (2011), Erel & ctg (2012), Drobetz & ctg (2012). Tác động của đặc trưng ngành được kiểm định bởi Clayton (2009), Andani & ctg (2012). Tác động của thể chế và hệ thống pháp lý được phân tích bởi Prowse (1990), Demirguc-Kunt & Maksimovic (1996; 1999), Deesomsak & ctg (2004), Öztekin & Flannery (2012), Duan & ctg (2012), Nurlayli & ctg (2013), Bernardo & ctg (2018). Riêng ngành bất động sản có nghiên cứu của Haron (2014) tại Malaysia (giai đoạn 2000–2009 trên 127 công ty, dùng phương pháp Diff-GMM).
- Nhóm nghiên cứu tại Việt Nam: Đoàn Ngọc Phi Anh (2010), Dương Thị Hồng Vân (2014), Nguyễn Ngọc Thạch và cộng sự (2015). Nghiên cứu theo ngành chuyên biệt gồm Nguyen Thanh Cuong & Nguyen Thi Canh (2012) đối với ngành thủy sản, Nguyễn Thị Ngọc Lan và cộng sự (2013) đối với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Nghiên cứu yếu tố hành vi và sở hữu gồm Lê Đạt Chí (2013), Võ Thị Quý (2014), Võ Xuân Vinh (2014).
Hướng nghiên cứu về cấu trúc kỳ hạn nợ:
- Giai đoạn khởi đầu tập trung tại các nước phát triển: Barnea & ctg (1980), Brick & Ravid (1985; 1991), Flannery (1986), Lewis (1990), Barclay & Smith (1990), Diamond (1991), Stohs & Mauer (1996), Ooi (1999). Hướng nghiên cứu ủng hộ nợ ngắn hạn gồm Flannery (1986), Jayat & Thomas (1990), Myers (1997); hướng ủng hộ nợ dài hạn gồm Brick & Ravid (1985; 1991), Stohs & Mauer (1996).
- Mở rộng sang các thị trường mới nổi: Cai & ctg (2008), Deesomsak & ctg (2009), Wang & ctg (2010), Terra (2011), Stephan & ctg (2011), Fan & ctg (2012), Kirch & Terra (2012), Lemma & Negash (2012), Correia & ctg (2014), Hussain & ctg (2018).
- Tại Việt Nam: Nghiên cứu cấu trúc kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết của Nguyễn Thanh Nhã (2018).
Hướng nghiên cứu về tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ:
- Về tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn: Lý thuyết đánh đổi tĩnh và động được tranh luận qua các công trình của Miller (1977), Haugen & Senbet (1978), Modigliani (1982), Jalilvand & Harris (1984), Myers (1984), De Miguel & Pindado (2001), Ozkan (2001), Baker & Wurgler (2002), Welch (2004), Leary & Roberts (2005), Flannery & Rangan (2006), Gonzalez & Gonzalez (2008), Chang & Dasgupta (2009). Sự khác biệt theo ngành và chu kỳ kinh doanh được phân tích bởi Banerjee & ctg (2004), Stoja & Tucker (2007), Byoun (2008), Khanna & ctg (2015), Tongkong & ctg (2013). Sự khác biệt giữa các quốc gia và vai trò của thể chế được xem xét bởi Mills (1996), Shyam-Sunder & Myers (1999), Faulkender & ctg (2008), Antoniou & ctg (2008), Hovakimian & Li (2009), Rubio & Sogorb (2011), Nor & ctg (2011). Tại Việt Nam, Trần Hùng Sơn (2013), Lê Đạt Chí (2013), Trần Thị Kim Oanh (2018) nghiên cứu tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn động; Đặng Thị Thùy Anh và cộng sự (2014) nghiên cứu tốc độ điều chỉnh tĩnh; Phạm Tiến Minh và cộng sự (2015) so sánh tốc độ điều chỉnh tĩnh và động.
- Về tốc độ điều chỉnh cấu trúc kỳ hạn nợ: Leland (1994; 1998), Leland & Toft (1996), Ozkan (2000), Antoniou & ctg (2006), Nguyễn Thanh Nhã (2018).
- Về xác định ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu: Nieh & ctg (2008), Cheng & ctg (2010), Ahmad & Abdullah (2012), Wang & Zhu (2014), Quang & Xin (2015).
Hướng nghiên cứu về mối quan hệ tác động giữa cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ:
- Các nghiên cứu quốc tế tìm thấy kết quả khác biệt: Antoniou & ctg (2006), Teruel & Solano (2007), Cai & ctg (2008), Deesomsak & ctg (2009), Alcock & ctg (2014), Ratnam & Sunitha (2019) ghi nhận mối quan hệ cùng chiều; Ooi (1990), Kirch & Terra (2012) ghi nhận mối quan hệ nghịch chiều; Mateurs & Terra (2013) ghi nhận tác động cùng chiều ở Mỹ Latinh nhưng nghịch chiều ở Đông Âu; Giambona & ctg (2008) ghi nhận tác động yếu hoặc không có ý nghĩa thống kê đối với doanh nghiệp bất động sản Mỹ.
Khoảng trống nghiên cứu luận án tập trung giải quyết:
- Thiếu vắng các nghiên cứu về cấu trúc vốn tích hợp đầy đủ yếu tố thể chế đối với các nền kinh tế mới nổi (Kodongo & ctg, 2014). Đa số nghiên cứu dừng lại ở việc ước lượng tốc độ điều chỉnh mà chưa lượng hóa ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu cụ thể cho ngành bất động sản.
- Số lượng công trình nghiên cứu về cấu trúc kỳ hạn nợ tại Việt Nam còn hạn chế; chưa có công trình nào xác định ngưỡng cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu cho doanh nghiệp bất động sản Việt Nam.
- Chưa có nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam xem xét đồng thời tác động tương hỗ hai chiều giữa cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ trong cùng một khung phân tích.
- Hầu hết các nghiên cứu trước đây thực hiện trên phạm vi liên ngành hoặc tập trung vào ngành công nghiệp, dịch vụ; việc nghiên cứu chuyên biệt trên nhóm doanh nghiệp đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản niêm yết trong giai đoạn 2008–2017 chưa được giải quyết đầy đủ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống các lý thuyết tài chính doanh nghiệp:
- Lý thuyết hiện đại về cấu trúc vốn (Modigliani & Miller, 1958; 1963): Nền tảng xem xét tác động của đòn bẩy tài chính và tấm chắn thuế từ nợ vay.
- Lý thuyết chi phí đại diện (Jensen & Meckling, 1976): Phân tích xung đột lợi ích giữa cổ đông, nhà quản lý và chủ nợ trong việc lựa chọn mức nợ và thời hạn nợ.
- Lý thuyết đánh đổi tĩnh và động (TOT) (Kraus & Litzenberger, 1973): Giải thích việc doanh nghiệp cân bằng giữa lợi ích tấm chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính để điều chỉnh hướng về cấu trúc vốn và kỳ hạn nợ tối ưu.
- Lý thuyết trật tự phân hạng (POT) (Myers & Majluf, 1984): Giải thích thứ tự ưu tiên huy động vốn từ nguồn vốn nội bộ đến nợ vay và cuối cùng là phát hành cổ phiếu mới do bất đối xứng thông tin.
- Lý thuyết tín hiệu (Flannery, 1986; Diamond, 1991; Stohs & Mauer, 1996): Doanh nghiệp chất lượng tốt phát tín hiệu thông qua việc sử dụng đòn bẩy hoặc nợ ngắn hạn; ngược lại, việc tăng nợ dài hạn giúp giảm rủi ro thanh khoản.
- Lý thuyết sự phù hợp (Maturity Matching Theory) (Morris, 1976; Myers, 1977): Doanh nghiệp tài trợ tài sản dài hạn bằng nguồn vốn dài hạn và tài sản ngắn hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn nhằm phòng ngừa rủi ro mất cân đối kỳ hạn.
- Lý thuyết dựa vào thuế (Tax-based Theory) (Brick & Ravid, 1985; 1991; Kane & ctg, 1985): Cấu trúc kỳ hạn của nợ được tối ưu hóa dựa trên cấu trúc kỳ hạn của lãi suất và thuế suất thu nhập doanh nghiệp.
- Khung phân tích thể chế: Xem xét các chỉ số môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh (như báo cáo GCI của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, các chỉ số từ World Bank) tác động đến hành vi tài chính của doanh nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp định lượng:
- Sử dụng phần mềm thống kê Stata 14.0 để xử lý dữ liệu bảng cân bằng (balanced panel data) gồm 70 doanh nghiệp trong 10 năm (700 quan sát).
- Phương pháp ước lượng GMM hệ thống (System GMM - Sys-GMM) dạng động được áp dụng để giải quyết hiện tượng nội sinh, phương sai sai số thay đổi và tự tương quan, phục vụ trả lời các câu hỏi nghiên cứu (1), (2) và (3) về các nhân tố tác động, tốc độ điều chỉnh và mối quan hệ tương hỗ hai chiều giữa cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ (dựa trên mô hình của Ozkan, 2001; Antoniou & ctg, 2006; Cai & ctg, 2008; Deesomsak & ctg, 2009; Fan & ctg, 2012; Terra, 2011; Kirch & Terra, 2012; Ramzi & Tarazi, 2013; Mateurs & Terra, 2013; Alves & Francisco, 2015).
- Mô hình hồi quy ngưỡng dạng bảng (Panel Threshold Regression - PTR) của Hansen (1999) được sử dụng để trả lời câu hỏi nghiên cứu (4), nhằm xác định điểm ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu và cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu.
- Phương pháp định tính:
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực bất động sản nhằm phân tích, lý giải bản chất và ý nghĩa thực tế của các kết quả ước lượng kinh tế lượng.
- Phương pháp phân tích nội dung (content analysis), thống kê mô tả, phương pháp so sánh và diễn dịch logic.
- Dữ liệu nghiên cứu:
- Báo cáo tài chính kiểm toán giai đoạn 2008–2017 của 70 doanh nghiệp đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản niêm yết trên HOSE và HNX.
- Các biến số kinh tế vĩ mô: Tỷ lệ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, suất sinh lời trái phiếu chính phủ, suất sinh lời tín phiếu kho bạc, mức độ phát triển tài chính và chỉ số chất lượng thể chế từ IMF, World Bank, Datastream.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Bối cảnh và tổng quan các đề tài nghiên cứu có liên quan
Chương 1 hệ thống hóa bối cảnh ngành bất động sản tại Việt Nam và phân tích các nghiên cứu thực nghiệm liên quan. Lịch sử phát triển thị trường bất động sản Việt Nam được chia thành 4 giai đoạn: trước năm 1993, từ 1993 đến trước 2003, từ 2003 đến trước 2013, và từ 2013 đến thời điểm nghiên cứu. Ngành có những đặc thù:
- Nhu cầu vốn lớn, chu kỳ kinh doanh dài hơn các ngành thương mại và dịch vụ.
- Tính đào thải cao: Giai đoạn 2011–2015, số lượng doanh nghiệp bất động sản giải thể và tạm ngừng hoạt động chiếm 66,7% trong tổng số 63.520 doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng hoạt động của cả nước (VCCI, 2011–2015).
- Rào cản vốn pháp lý: Luật Kinh doanh Bất động sản năm 2014 quy định vốn chủ sở hữu tối thiểu 20 tỷ đồng khi thành lập; quy định vốn chủ sở hữu không thấp hơn 20% tổng mức đầu tư đối với dự án dưới 20 ha và không thấp hơn 15% đối với dự án trên 20 ha. Phần còn lại (khoảng 70%) phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng.
- Chính sách thuế thay đổi qua các mốc: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giảm từ 28% xuống 25% (Thông tư 123/2012/TT-BTC) và tiếp tục giảm xuống 20% (Thông tư 141/2013/TT-BTC); dự án nhà ở xã hội hưởng thuế suất thu nhập doanh nghiệp 10% và thuế giá trị gia tăng 5% (Nghị định 92/2013/NĐ-CP).
Thực trạng tài chính của 70 doanh nghiệp niêm yết giai đoạn 2008–2017 được phản ánh qua các chỉ tiêu:
- Tốc độ tăng trưởng quy mô nguồn vốn trung bình đạt 23,87%/năm; tỷ lệ nợ phải trả duy trì trung bình 53,57% tổng nguồn vốn, trong đó nợ ngắn hạn chiếm 60,22% tổng nợ.
- Dư nợ tín dụng bất động sản của hệ thống ngân hàng tăng từ 115 nghìn tỷ đồng (2008) lên 471 nghìn tỷ đồng (2017), tốc độ tăng bình quân 7,56%/năm. Cụ thể: 115 nghìn tỷ (2008), 219 nghìn tỷ (2009), 235 nghìn tỷ (2010), 204 nghìn tỷ (2011), 229 nghìn tỷ (2012), 262 nghìn tỷ (2013), 320 nghìn tỷ (2014), 393 nghìn tỷ (2015), 435 nghìn tỷ (2016), 471 nghìn tỷ đồng (2017).
- Giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán tăng từ 531.996 tỷ đồng (tháng 3/2007) lên 621 nghìn tỷ (2009), 726 nghìn tỷ (2010), 1.904 nghìn tỷ (2016) và đạt 4.160 nghìn tỷ đồng vào quý 1/2018.
Bảng số liệu tổng hợp tình hình tỷ lệ vốn dài hạn của các doanh nghiệp trong giai đoạn 2008–2017:
| Năm |
Tỷ lệ tài sản dài hạn / Tổng tài sản |
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu / Tổng nguồn vốn |
Tỷ lệ nợ dài hạn / Tổng tài sản |
Tỷ lệ vốn dài hạn / Tổng nguồn vốn |
Chênh lệch giữa tỷ lệ vốn dài hạn và tỷ lệ tài sản dài hạn |
| 2008 |
35,39% |
45,04% |
17,12% |
58,19% |
22,80% |
| 2009 |
37,88% |
43,65% |
23,14% |
58,41% |
20,53% |
| 2010 |
35,47% |
48,46% |
22,38% |
64,50% |
29,03% |
| 2011 |
39,05% |
45,75% |
21,29% |
61,97% |
22,93% |
| 2012 |
37,72% |
45,45% |
27,61% |
62,61% |
24,89% |
| 2013 |
36,80% |
45,38% |
27,28% |
63,02% |
26,22% |
| 2014 |
34,16% |
46,58% |
29,37% |
65,32% |
31,16% |
| 2015 |
40,89% |
47,27% |
27,60% |
66,81% |
25,92% |
| 2016 |
39,24% |
48,21% |
23,06% |
65,20% |
25,96% |
| 2017 |
35,85% |
45,24% |
21,58% |
61,41% |
25,56% |
Mặc dù chênh lệch trung bình toàn mẫu dương (từ 20,53% đến 31,16%), thống kê vi mô cho thấy 44,28% doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu rơi vào tình trạng mất cân đối tài chính do lạm dụng nợ vay ngắn hạn.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Nội dung chương trình bày khung lý thuyết nền tảng gồm lý thuyết Modigliani-Miller, lý thuyết chi phí đại diện, lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn động, lý thuyết trật tự phân hạng, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết sự phù hợp và lý thuyết dựa vào thuế. Chương 2 thiết lập các giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn, cấu trúc kỳ hạn nợ với các biến số nội tại doanh nghiệp (quy mô, khả năng sinh lời, cơ cấu tài sản, cơ hội tăng trưởng, tính thanh khoản, rủi ro kinh doanh, thuế thu nhập doanh nghiệp, kỳ hạn tài sản) và các biến số vĩ mô, thể chế (tăng trưởng kinh tế, lạm phát, cấu trúc kỳ hạn lãi suất, phát triển tài chính, chỉ số chất lượng thể chế). Mô hình nghiên cứu động được xây dựng dưới dạng phương trình hồi quy dữ liệu bảng có trễ của biến phụ thuộc.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 chi tiết hóa quy trình nghiên cứu, kỹ thuật thu thập và làm sạch dữ liệu:
- Mẫu nghiên cứu: Lọc toàn bộ các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên HOSE và HNX, chọn ra 70 doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn dữ liệu liên tục từ năm 2008 đến năm 2017 (tạo thành bảng cân bằng 700 quan sát).
- Định nghĩa và đo lường biến số:
- Cấu trúc vốn (CTV): Tổng nợ / Tổng tài sản.
- Cấu trúc kỳ hạn nợ (CKHN): Nợ dài hạn có chi phí lãi vay / Tổng nợ.
- Các biến kiểm soát nội tại và biến vĩ mô/thể chế được lượng hóa từ báo cáo tài chính và các cơ sở dữ liệu quốc tế.
- Kỹ thuật ước lượng:
- Ước lượng Sys-GMM hai bước với kiểm định Sargan/Hansen về tính hợp lệ của biến công cụ và kiểm định Arellano-Bond (AR(1), AR(2)) về hiện tượng tự tương quan chuỗi.
- Mô hình hồi quy ngưỡng Hansen (1999) để xác định giá trị ngưỡng tối ưu của cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ.
Chương 4: Kết quả và bàn luận nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản tại Việt Nam
Chương 4 công bố các phát hiện thực nghiệm từ mô hình định lượng và kết hợp phỏng vấn chuyên gia:
- Các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn:
- Tác động thuận chiều (+): Quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng, cơ cấu tài sản (tài sản cố định), thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Tác động nghịch chiều (-): Khả năng sinh lời, khả năng thanh khoản, tốc độ tăng trưởng GDP, mức độ phát triển tài chính.
- Tác động không đáng kể/yếu: Rủi ro kinh doanh, kỳ hạn tài sản.
- Các yếu tố tác động đến cấu trúc kỳ hạn nợ:
- Tác động thuận chiều (+): Yếu tố thể chế, tài sản cố định, quy mô doanh nghiệp, tính thanh khoản, rủi ro kinh doanh, lạm phát, cấu trúc kỳ hạn lãi suất, phát triển tài chính.
- Tác động không đáng kể/yếu: Khả năng sinh lời, cơ hội tăng trưởng, kỳ hạn tài sản, thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Tốc độ điều chỉnh:
- Tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng về ngưỡng mục tiêu đạt 24,87%/năm.
- Tốc độ điều chỉnh cấu trúc kỳ hạn nợ hướng về ngưỡng mục tiêu đạt 25,92%/năm.
- Mối quan hệ tương hỗ: Kiểm định thực nghiệm xác nhận tồn tại tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê giữa cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ. Doanh nghiệp cần đạt cấu trúc vốn mục tiêu trước, sau đó điều chỉnh kỳ hạn nợ để đạt ngưỡng cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu.
- Ngưỡng tối ưu từ mô hình Hansen (1999):
- Ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu được xác định là 69,68%.
- Ngưỡng cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu được xác định là 57,90%.
- Dữ liệu thực tế cho thấy 40% doanh nghiệp vượt ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu và 37,14% doanh nghiệp vượt ngưỡng/lệch khỏi cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu.
Chương 5: Kết luận và gợi ý các chính sách
Chương 5 tóm tắt các phát hiện chính và đưa ra các giải pháp:
- Đối với doanh nghiệp: Tái cấu trúc nguồn vốn để kiểm soát tỷ lệ nợ không vượt quá ngưỡng 69,68%; nâng tỷ trọng nợ dài hạn tiệm cận mức 57,90% tổng nợ nhằm tương thích với kỳ hạn tài sản dự án; giảm dần sự phụ thuộc vào nợ vay thương mại ngắn hạn.
- Đối với cơ quan quản lý và ngân hàng thương mại: Hoàn thiện hành lang pháp lý, minh bạch hóa thông tin thị trường bất động sản; điều tiết hạn mức tín dụng và phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp dài hạn nhằm cung cấp nguồn tài trợ vốn ổn định cho các dự án bất động sản.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định sự phù hợp của các lý thuyết tài chính hiện đại (lý thuyết MM, lý thuyết chi phí đại diện, lý thuyết đánh đổi tĩnh và động, lý thuyết trật tự phân hạng, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết sự phù hợp và lý thuyết dựa vào thuế) trong điều kiện thị trường bất động sản tại một quốc gia đang phát triển có thể chế đang trong giai đoạn hoàn thiện như Việt Nam.
- Làm rõ cơ chế tác động của yếu tố thể chế và tài sản cố định đối với quyết định cấu trúc vốn và kỳ hạn nợ.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Xác định tốc độ điều chỉnh động của cấu trúc vốn là 24,87%/năm và cấu trúc kỳ hạn nợ là 25,92%/năm đối với các doanh nghiệp đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản niêm yết tại Việt Nam.
- Kiểm định và xác nhận sự tồn tại mối quan hệ tương hỗ thuận chiều giữa cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ; chỉ ra quy trình quyết định tài chính: doanh nghiệp cần đạt cấu trúc vốn mục tiêu trước, sau đó điều chỉnh kỳ hạn nợ hướng về ngưỡng mục tiêu.
- Ứng dụng mô hình Hansen (1999) xác định định lượng cụ thể:
- Ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu: 69,68%.
- Ngưỡng cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu: 57,90%.
- Cung cấp bức tranh thực trạng việc sử dụng nợ: 40% doanh nghiệp niêm yết sử dụng đòn bẩy vượt ngưỡng tối ưu và 37,14% doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu chưa tối ưu hóa cơ cấu kỳ hạn nợ.
- Đề xuất các khuyến nghị cụ thể nhằm giúp các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp bất động sản cân bằng chi phí vốn, giảm thiểu rủi ro thanh khoản và gia tăng giá trị thị trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Mẫu nghiên cứu chỉ giới hạn ở 70 doanh nghiệp đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản niêm yết trên sàn HNX và HOSE có dữ liệu liên tục giai đoạn 2008–2017; chưa bao quát được các doanh nghiệp chưa niêm yết hoặc các doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
- Do giới hạn trình bày trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp bất động sản tại Việt Nam chưa tách bạch triệt để nợ chiếm dụng và nợ vay, biến cấu trúc kỳ hạn nợ chỉ đo lường nợ dài hạn dựa trên các khoản nợ có phát sinh chi phí lãi vay.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các doanh nghiệp bất động sản chưa niêm yết và các phân khúc kinh doanh chuyên biệt.
- Kéo dài chuỗi thời gian nghiên cứu sau năm 2017 và kiểm định thêm các chỉ tiêu đo lường mới về thể chế kinh tế và tài chính.
Giá trị tham khảo
Luận án cung cấp giá trị tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Tài chính - Ngân hàng: Luận án là tài liệu tham khảo về việc kết hợp mô hình Sys-GMM động với mô hình hồi quy ngưỡng Hansen (1999) trên dữ liệu bảng cân bằng trong phân tích tài chính doanh nghiệp chuyên ngành.
- Đối với nhà quản trị tài chính tại các doanh nghiệp bất động sản: Các thông số thực nghiệm (ngưỡng nợ 69,68%, ngưỡng kỳ hạn nợ 57,90%, tốc độ điều chỉnh 24,87% và 25,92%) là căn cứ định lượng giúp doanh nghiệp thiết lập chính sách tài trợ, cân đối kỳ hạn nợ để phòng ngừa rủi ro mất thanh khoản.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Xây dựng, Ngân hàng Nhà nước): Cung cấp cơ sở thực chứng về thực trạng đòn bẩy tài chính và nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp địa ốc để hoàn thiện khung pháp lý về cấp tín dụng và giám sát thị trường bất động sản.
Câu hỏi thường gặp
- Ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu và cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu được xác định trong luận án là bao nhiêu?
- Ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu của các doanh nghiệp đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản niêm yết tại Việt Nam là 69,68% (tổng nợ trên tổng tài sản). Ngưỡng cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu là 57,90% (nợ dài hạn có lãi vay trên tổng nợ).
- Tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp bất động sản đạt mức nào mỗi năm?
- Tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng về ngưỡng mục tiêu đạt 24,87%/năm; tốc độ điều chỉnh cấu trúc kỳ hạn nợ hướng về ngưỡng mục tiêu đạt 25,92%/năm.
- Mối quan hệ tương tác giữa cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ diễn ra như thế nào?
- Luận án chứng minh mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ là tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê. Doanh nghiệp cần xác định và đạt cấu trúc vốn mục tiêu trước, sau đó tiến hành điều chỉnh kỳ hạn nợ để đạt cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu.
- Tỷ lệ doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu chưa đạt cấu trúc tối ưu là bao nhiêu?
- Kết quả lọc dữ liệu cho thấy có 40% doanh nghiệp sử dụng nợ vượt ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu (vượt 69,68%) và 37,14% doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu có cấu trúc kỳ hạn nợ vượt hoặc lệch khỏi ngưỡng mục tiêu (57,90%).
- Những nhân tố vĩ mô nào tác động đáng kể đến cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ của doanh nghiệp bất động sản?
- Tốc độ tăng trưởng GDP và mức độ phát triển tài chính có tác động nghịch chiều đến cấu trúc vốn. Trong khi đó, lạm phát, cấu trúc kỳ hạn lãi suất, phát triển tài chính và yếu tố thể chế có tác động thuận chiều đến cấu trúc kỳ hạn nợ.
Kết luận
Luận án đã phân tích thực trạng và kiểm định các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ của 70 doanh nghiệp đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2008–2017. Bằng phương pháp Sys-GMM và mô hình hồi quy ngưỡng Hansen (1999), nghiên cứu đã xác định tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn đạt 24,87%/năm, cấu trúc kỳ hạn nợ đạt 25,92%/năm, đồng thời xác lập ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu là 69,68% và cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu là 57,90%. Các kết quả định lượng khẳng định mối quan hệ tương hỗ thuận chiều giữa cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ, cung cấp cơ sở khoa học để các doanh nghiệp tái cấu trúc kỳ hạn nợ và tối ưu hóa chi phí sử dụng vốn.