CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH VÀ TỔNG QUAN CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CẤU TRÚC KỲ HẠN NỢ 1.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ 1.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đã đưa ra nhiều quan điểm về các yếu tố tác động đến việc lựa chọn cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Các công trình nghiên cứu này tập trung vào các khía cạnh sau: Cấu trúc vốn của doanh nghiệp chịu sự tác động của các yếu tố vi mô như nghiên cứu của Ross (1977); Titman & Wessels (1988); Chen & ctg (1997); Graham & Harvey (2001), Chen (2003), Ramzi & Tarazi (2013), Amjad & Bilal (2012), Hunjra & ctg (2014). Đa phần các nghiên cứu này tập trung vào vấn đề xác định các yếu tố vi mô tác động đến cấu trúc vốn, gồm: khả năng sinh lời, quy mô doanh nghiệp, độ tuổi, cơ hội tăng trưởng, cấu trúc tài sản, chi phí phá sản, tấm chắn thuế và khả năng thanh khoản. Đối với nghiên cứu CTV của các doanh nghiệp BĐS, Haron (2014) đã nghiên cứu các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của 127 doanh nghiệp BĐS niêm yết trên thị trường chứng khóan ở Malaysia, giai đoạn 2000 - 2009.
Sử dụng dữ liệu bảng cân bằng với phương pháp hồi quy Diff-GMM. Kết quả cho thấy cấu trúc vốn của các doanh nghiệp BĐS là cấu trúc vốn động và các yếu tố cấu trúc tài sản, lợi nhuận, quy mô doanh nghiệp, cơ hội tăng trưởng, khả năng thanh khoản và thuế có tác động cùng chiều với CTV. Đồng thời nghiên cứu cũng chứng minh các doanh nghiệp có quy mô 100% vốn chủ sở hữu ít vay nợ hơn so với các doanh nghiệp có tỷ lệ nợ và vốn chủ sở là 50%:50% Bên cạnh đó, có nhiều nghiên cứu sau này kết hợp giữa các yếu tố vi mô và các yếu tố vĩ mô như đặc điểm kinh tế vĩ mô và sự phát triển của thị trường tài chính gồm nghiên cứu của Rajan & Jingales (1995); Wald (1999); Booth & ctg (2001), Fama & French (2002), Hatzinikolaou & ctg (2002), Chen (2003), Saylgan & ctg (2006), Delcoure (2007), Fran & Goyal (2007); Jong & ctg (2008), Kayo & Kimura (2011), 20 Gungoraydinoglu & Öztekin, (2011), Erel & ctg (2012), Drobetz & ctg (2012), Haron (2014). Từ sau năm 2000 trở lại đây, nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh yếu tố đặc trưng doanh nghiệp, đặc trưng ngành nghề… có tác động đến cấu trúc vốn (Clayton, 2009; Kayo & Kmura, 2011; Andani & ctg, 2012).
Kết quả nghiên cứu của Clayton (2009); Kayo & Kimura (2011) đưa ra bằng chứng cho thấy yếu tố đặc trưng ngành bao gồm mức độ cạnh tranh của ngành, mức độ đảm bảo tăng trưởng bền vững của ngành; mức độ rủi ro kinh doanh của ngành tới hoạch định cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Nghiên cứu của Kayo & Kimura (2011) cho rằng 78% việc lựa chọn cấu trúc vốn của doanh nghiệp được quyết định bởi điều kiện thị trường tại thời điểm nghiên cứu bao gồm yếu tố vi mô của doanh nghiệp, yếu tố ngành và quốc gia. Theo Andani & ctg (2012) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn trong việc so sánh giữa các doanh nghiệp niêm yết và chưa niêm yết tại Ghana cho rằng yếu tố đặc trưng ngành có tác động đến cấu trúc vốn. Mặt khác, các nghiên cứu cấu trúc vốn chịu sự tác động của yếu tố thể chế gồm khả năng tiếp cận và tính hiệu quả của trung gian tài chính, môi trường kinh doanh, hệ thống pháp luật, chính sách kinh tế, môi trường chính trị, rủi ro chính trị, tình trạng tham nhũng… chủ yếu tập trung nghiên cứu ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản và các nước Châu Mỹ Latinh như nghiên cứu của Prowse (1990), Rajan & Jingales (1995), Demirguc-Kunt & Maksimovic (1996; 1999), Deesomsak & ctg (2004), Öztekin & Flanery (2012), Bernado & ctg (2018) và ở Trung Quốc có nghiên cứu của Duan & ctg (2012), tại Indonesia có nghiên cứu của Nurlayli & ctg (2013).
Tại Việt Nam, nghiên cứu các yếu tố (gồm yếu tố vi mô và vĩ mô) tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp gồm Đoàn Ngọc Phi Anh (2010), Dương Thị Hồng Vân (2014), Nguyễn Ngọc Thạch và cộng sự (2015). Các nghiên cứu tập trung ở phạm vi nghiên cứu liên ngành, của tập đoàn như Nguyen Thanh Cuong & Nguyen Thi Canh (2012) nghiên cứu cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành thủy sản; Nguyễn Thị Ngọc Lan và cộng sự (2013) nghiên cứu tại các doanh nghiệp thuộc tập đoàn dầu khí Việt Nam. Nghiên cứu liên quan đến hành vi của nhà quản trị tài chính như Lê Đạt Chí (2013) phát hiện ra yếu tố hành vi của nhà quản trị có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định tài 21 chính; Võ Thị Qúy (2014) chứng minh sự tồn tại của lý thuyết hành vi trong các quyết định tài chính của các doanh nghiệp bất động sản ở Việt Nam. Ngoài ra, Võ Xuân Vinh (2014), nghiên cứu cấu trúc sở hữu và cấu trúc vốn trường hợp nghiên cứu trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2012, nghiên cứu này khám phá mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và cấu trúc vốn.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu về thể chế tác động đến cấu trúc vốn tại Việt Nam trong những năm trở lại đây chưa được quan tâm nhiều. Tóm lại, trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các công trình tập trung nghiên cứu (i) các yếu tố vi mô tác động đến cấu trúc vốn/cấu trúc kỳ hạn nợ; (ii) các yếu tố vĩ mô tác động đến cấu trúc vốn/cấu trúc kỳ hạn nợ; (iii) kết hợp các yếu tố vi mô và vi mô tác động đến cấu trúc vốn/cấu trúc kỳ hạn nợ. Tuy nhiên mức độ tác động của các yếu tố này là không giống nhau giữa các quốc gia khác nhau, điều này phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế của từng quốc gia được nghiên cứu. Kết quả các nghiên cứu của Rajan & Jingales (1995), Wald (1999), Booth & ctg (2001), Fama & French (2002), Hatzinikolaou & ctg (2002), Chen (2003), Deesomsak & ctg (2004), Saylgan & ctg (2006), Antoniou & ctg (2008) và Haron (2014) cung cấp bằng chứng cho thấy các yếu tố gồm quy mô doanh nghiệp, cơ hội tăng trưởng, lợi nhuận, biến động thu nhập, tính thanh khoản, thuế thu nhập doanh nghiệp, đặc điểm thị trường tác động đến cấu trúc vốn.
Kết quả nghiên cứu của các công trình này tập trung nghiên cứu các yếu tố tác dộng đến cấu trúc của các doanh nghiệp ở các nước Châu Á – Thái Bình Dương và các nước Đông Âu và kết quả thu được khá phù hợp với lý thuyết về cấu trúc vốn như lý thuyết MM, lý thuyết đánh đổi, lý thuyết trật tư phân hạng, lý thuyết chi phí đại diện.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động đến cấu trúc kỳ hạn nợ Đã có nhiều công trình trên thế giới nghiên cứu các yếu tố tác động đến cấu trúc kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp và sử dụng các lý thuyết liên quan cấu trúc kỳ hạn nợ để giải thích sự lựa chọn kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp. Hầu hết các nghiên cứu này tập trung một số vấn đề liên quan đến kỳ hạn nợ của doanh nghiệp như sau: Thứ nhất, cấu trúc kỳ hạn nợ của doanh nghiệp chịu tác động của các yếu tố vi mô. Tiêu biểu nghiên cứu của Ooi (1999) nghiên cứu các yếu tố tác động đến cấu trúc kỳ hạn nợ của 83 doanh nghiệp BĐS ở Anh giai đoạn từ năm 1989 – 1995 với phương 22 pháp OLS và Tobit cho thấy các yếu tố quy mô doanh nghiệp, cơ hội tăng trưởng, tài sản cố định, đặc điểm thị trường BĐS có tác động cùng chiều đến cấu trúc kỳ hạn nợ, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của tài sản hữu hình và đặc điểm của thị trường BĐS sẽ quyết định doanh nghiệp BĐS lựa chọn cấu trúc kỳ hạn nợ. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp BĐS ở Anh sử dụng nợ ngắn hạn là chủ yếu và luôn tìm cách gia tăng nợ ngắn hạn nhằm mục đích theo đuổi các hoạt động đầu tư, mở rộng quy mô trong trường hợp thị trường BĐS đang tăng trưởng và có xu hướng giảm nợ dài hạn khi họ dự đoán lãi suất dài hạn trong tương lai sẽ giảm.
Những nghiên cứu tiếp theo cho thấy những yếu tố thể hiện đặc điểm riêng biệt của từng doanh nghiệp như tỷ lệ nợ, lợi nhuận, biến động thu nhập, tính thanh khoản, tài sản hữu hình, kỳ hạn tài sản, quy mô doanh nghiệp, cơ hội tăng trưởng và thuế cũng tác động đến cấu trúc kỳ hạn nợ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức độ tác động cũng như chiều hướng tác động là không giống nhau giữa những quốc gia khác nhau, điều này phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế của từng quốc gia được nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm thu được tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Đông Âu và các nước Nam Mỹ khá phù hợp với nhau. Theo đó, tỷ lệ nợ, tính thanh khoản và quy mô doanh nghiệp có tương quan dương với cấu trúc kỳ hạn nợ, trong khi các yếu tố nội tại còn lại như lợi nhuận, biến động thu nhập, tài sản hữu hình, kỳ hạn tài sản, cơ hội tăng trưởng và thuế có kết quả tác động đến cấu trúc kỳ hạn nợ là không rõ ràng.
Kết quả nghiên cứu thu được đã cung cấp bằng chứng vững chắc cho những lập luận dựa trên lý thuyết chi phí đại diện và lý thuyết sự phù hợp nhưng chưa cung cấp đủ bằng chứng cho những lập luận dựa vào lý thuyết tín hiệu và lý thuyết dựa vào thuế (Ozkan, 2000; Teruel & Solano, 2007; Terra, 2011; Mateurs & Terra, 2013; Costa & ctg, 2014, Hussain & ctg, 2018). Thứ hai, cấu trúc kỳ hạn nợ của doanh nghiệp ngoài chịu tác động của các yếu tố vi mô còn chịu sự tác động của các yếu tố vĩ mô như các nghiên cứu của Demirguc- Kunt & Maksimovic (1999), Antoniou & ctg (2006), Cai & ctg (2008), Deesomsak & ctg, (2009), Wang & ctg (2010), Lemma & Negash (2012). Bên cạnh đó, các nghiên cứu của Demirguc-Kunt & Maksimovic (1999), Fan & ctg (2012), Kirch & Terra (2012), Correia & ctg (2014) còn xem xét các vấn đề liên 23 quan đến thể chế, pháp luật hoặc quy mô của TTTC và hệ thống thuế TNDN.