Chương 1 đã cho thấy tính cấp thiết cần thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của yếu tố tài chính và khả năng thích ứng chính sách vĩ mô của các doanh nghiệp bất động sản tại TPHCM. Những đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn của nghiên cứu, cũng như trình bày tóm tắt các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu đặt ra. CƠ SỞ LÝ THUYẾT, TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 2.1 Ảnh hưởng của yếu tố tài chính đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 2.1 Khái niệm các yếu tố tài chính: Yếu tố tài chính là các thành phần cấu thành nên tài sản và nguồn vốn của một doanh nghiệp, bao gồm tiền mặt, tài sản đầu tư, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu và các khoản thu nhập khác. (Brigham & cộng sự, 2016) Yếu tố tài chính là một phần quan trọng trong phân tích tài sản của một doanh nghiệp, bao gồm các khoản tiền và tài sản khác được sử dụng để hỗ trợ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
(Van Horne & cộng sự, 2013) Yếu tố tài chính là các yếu tố quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của một doanh nghiệp, bao gồm năng lực tài chính, khả năng thanh toán và quản lý nợ, cũng như khả năng tạo ra lợi nhuận và giá trị cho cổ đông.2 Ảnh hưởng của các yếu tố tài chính đến hiệu quả kinh doanh doanh nghiệp: Các yếu tố tài chính của lý thuyết phát triển bền vững với khung TBL (Triple Bottom Line) ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh doanh nghiệp: Phát triển bền vững là sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường một cách khoa học, cùng với sự phát triển kinh tế theo hội nghị Môi trường toàn cầu Rio de Janeiro tháng 06, năm 1992. Phát triển bền vững được đánh giá trên ba nhân tố: kinh tế bền vững; xã hội bền vững; môi trường bền vững. 12 Phát triển bền vững là quá trình phát triển kinh tế mà không gây ảnh hưởng đáng kể và không thể đảo ngược cuộc sống của con người môi trường, hòa hợp các quy luật tự nhiên và pháp luật của nền kinh tế (Kozłowski, 1994). Chiến lược phát triển bền vững là nền tảng cho trách nhiệm trong kinh doanh hiện đại.
Thực hiện ý tưởng phát triển bền vững là tìm kiếm các giải pháp cho các hoạt động kinh doanh có trách nhiệm xã hội, thân thiện với môi trường và cùng một lúc, có giá trị kinh tế (Rok, 2008). Khái niệm về phát triển bền vững bao gồm nhiều hơn chỉ là sự tôn trọng môi trường tự nhiên. Không thể bảo vệ môi trường tự nhiên mà không có sự tôn trọng đồng thời đối với luật pháp địa phương, nguyên tắc dân chủ và sự tham gia vào sự phát triển của xã hội dân sự hoặc theo đuổi xóa đói giảm nghèo. Do đó niềm tin rằng một chiến lược phát triển hiệu quả cho một công ty cần bao gồm các khía cạnh kinh tế, sinh thái và xã hội đến một mức độ bình đẳng (Rok, 2010).
Cụ thể, như sau: Về nhân tố kinh tế bền vững: nhân tố kinh tế giữ vai trò quan trọng đặc biệt trong phát triển bền vững. Kinh tế bền vững yêu cầu lựa chọn phương án có hiệu quả nhất và cần cân nhắc những ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế hiện tại trong tương lai. Quá trình phát triển phải đảm bảo cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên. Lập luận của Elkington (1997) là các công ty nên chuẩn bị ba yếu tố cốt lõi riêng biệt.
Một là thước đo truyền thống về lợi nhuận doanh nghiệp. Thứ hai là “người” của một công ty – một thước đo về trách nhiệm xã hội của một tổ chức trong suốt quá trình hoạt động của nó. Thứ ba là “hành tinh” của công ty – một thước đo về trách nhiệm môi trường mà nó đã được. TBL cùng với sự phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự kết hợp của ba yếu tố: con người, hành tinh và lợi nhuận.
Lý thuyết 13 TBL được sử dụng nhằm mục đích kiểm định và phản ảnh hiệu quả của doanh nghiệp ở ba yếu tố: kinh tế, môi trường và xã hội. Khi đó, hiểu theo nghĩa hẹp thì TBL là một khung phân tích về kế toán để đo lường và lập báo cáo về hoạt động của doanh nghiệp về cả ba phương diện là kinh tế, xã hội và môi trường để khuyến khích các tổ chức kết hợp tính bền vững vào thực tiễn kinh doanh của họ (Elkington, 1997 ; Elkington, 2006 ). Khi doanh nghiệp đáp ứng được đồng đều cả phát triển về kinh tế, xã hội và môi trường của mình thì doanh nghiệp đó được xem là bền vững (Hart & cộng sự, 2003). Theo đó, các doanh nghiệp vừa phải đảm bảo lợi nhuận về kinh tế và vừa phải củng cố được lợi ích về xã hội và bảo vệ môi trường lâu bền.
Hiệu suất của doanh nghiệp trong mỗi yếu tố thể hiện cam kết tương ứng của họ đối với các bên liên quan, môi trường tự nhiên và lợi nhuận kinh tế của họ. Nó cho thấy rằng mối quan hệ giữa yếu tố phải đạt được một sự cân bằng để tối đa hóa lợi ích tiềm năng trong mỗi thành phần. Sự chú ý của doanh nghiệp đối với các vấn đề xã hội có thể mang lại lòng trung thành của khách hàng (Elkington, 1997). Tác giả mạnh mẽ khẳng định rằng trong thế giới kinh doanh phức tạp, nếu doanh nghiệp bỏ qua công bằng xã hội và chất lượng môi trường, cách mạng văn hóa toàn cầu thì sự liên kết của những yếu tố này với yếu tố tài chính có thể dẫn đến sự sụp đổ của chính doanh nghiệp đó.
Hơn nữa, tính bền vững về kinh tế của một doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào khả năng đồng thời kết hợp các giá trị công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển văn hóa vào các giá trị thực tiễn của doanh nghiệp để mang lại lợi nhuận tổng thể cao hơn. Càng nhiều tập đoàn và ban lãnh đạo doanh nghiệp hiểu được trách nhiệm của họ đối với các tiêu chuẩn TBL, thì doanh nghiệp càng có nhiều khả năng sống sót trong quá trình chuyển đổi sang một tương lai bền vững (Elkington, 2006). TBL còn có tiềm năng để chứng minh cho các tập đoàn, về mặt thuận lợi, trách nhiệm xã hội và môi trường là các yếu tố liên quan trong 14 báo cáo tài chính của họ và việc đưa nó vào có thể mang lại lợi ích cho doanh nghiệp (Dixon, 2014). Như vậy, TBL là một khung nguyên tắc kế toán nhằm vượt ra ngoài cách đo lường lợi nhuận truyền thống, nó báo cáo kết quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua hiệu quả xã hội và môi trường.
Nó nêu sự cần thiết là phải xem xét ngoài kế toán tài chính thì khuyến khích các doanh nghiệp cân nhắc đến việc tác động đến môi trường và xã hội. Thách thức chính của mô hình nằm trong việc định lượng chi phí, lợi ích thực sự của trách nhiệm xã hội và môi trường (Elkington, 1997). Luận án chỉ tập trung vào nghiên cứu khía cạnh tài chính liên quan đến hiệu quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu kế toán để xem xét các mức độ ảnh hưởng của yếu tố tài chính và vĩ mô đến hiệu quả kinh doanh doanh nghiệp để đưa ra những hàm ý chính sách giúp các doanh nghiệp bất động sản tại TPHCM phát triển bền vững 2.2 Ảnh hưởng của khả năng thích ứng chính sách vĩ mô đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 2.1 Khái niệm chính sách vĩ mô : Theo Mankiw (2014) , chính sách vĩ mô là một trong những công cụ quan trọng để đạt được sự ổn định và tăng trưởng kinh tế trong một quốc gia. Chính sách vĩ mô bao gồm chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và chính sách thuế, và chúng được áp dụng để giải quyết các vấn đề kinh tế cụ thể của một quốc gia (Dornbusch & cộng sự, 2014) Chính sách vĩ mô là sự kết hợp của các biện pháp kinh tế được áp dụng bởi chính phủ và Ngân hàng trung ương để kiểm soát và quản lý hoạt động kinh tế của một quốc gia.2 Chính sách vĩ mô ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp; Khả năng thích ứng với chính sách vĩ mô là một yếu tố quan trọng để đảm bảo sự bền vững và tăng trưởng của doanh nghiệp, đặc biệt là trong bối cảnh thị trường kinh tế thay đổi liên tục (David & cộng sự, 2017) Doanh nghiệp cần có khả năng thích ứng với chính sách vĩ mô của chính phủ để có thể tận dụng các cơ hội và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình (Daniels & cộng sự, 2018) Khả năng thích ứng chính sách vĩ mô của doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả và sức bền của một doanh nghiệp trong điều kiện thị trường thay đổi." (David & cộng sự, 2017) Nghiên cứu Parker, S.
(2018) chỉ ra điều kiện kinh tế vĩ mô như lạm phát và tăng trưởng GDP ảnh hưởng đến việc khởi nghiệp và thành công của các doanh nghiệp mới tại Hoa Kỳ, doanh nghiệp khởi nghiệp sẽ thành công và có hiệu quả kinh doanh cao nếu lạm phát thấp và tăng trưởng GDP cao Nghiên cứu của Duchin, R., & cộng sự (2010) tập trung vào các yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng kinh tế, và lãi suất ảnh hưởng đến việc doanh nghiệp Hoa Kỳ tích trữ tiền mặt để đối phó với các tác động kinh tế vĩ mô, doanh nghiệp có tích trữ tiền mặt cao sẽ vượt qua được những khó khăn của kinh tế vĩ mô đễ đạt hiệu quả kinh doanh cao khi yếu tố vĩ mô thuận lợi trở lai Agarwal, V., & cộng sự (2008) khám phá các yếu tố kinh tế vĩ mô như tăng trưởng GDP, lạm phát, và tỷ lệ thất nghiệp ảnh hưởng đến tỷ lệ phá sản của các doanh nghiệp trong bối cảnh khủng hoảng tại Hy Lạp, các yếu tố vĩ mô thuận lợi như GDP cao, thất nghiệp thấp thì các doanh nghiệp sẽ tránh được phá sản và đạt hiệu quả kinh doanh cao 16 2.3 Ảnh hưởng khả năng thích ứng chính sách vĩ mô đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bất động sản; Nghiên cứu của Blackburne & Frankort (2018) : Nghiên cứu này đã xem xét mối quan hệ giữa khả năng thích ứng với chính sách vĩ mô và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân ở Trung Quốc.