Chương 1. TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về cây Keo lai Keo lai là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Keo lai tự nhiên được Messrs Hepbum ghi chép lần đầu tiên vào năm 1972 tại Malaysia.
Năm 1978, Keo lai được Pedkey xác định là giống lai (Prasal, 1992) [30]. Tại Việt Nam, Keo lai được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1992 ở Ba Vì (Hà Nội). Sau này người ta còn tìm thấy Keo lai ở khu vực Đông Nam Bộ và Trung Trung Bộ (Lê Đình Khả, 1997) [8]. Từ năm 1991[29], nghiên cứu và khảo sát của Cyril Pinso đã cho thấy Keo lai có rất nhiều đặc trưng nổi bật so với bố mẹ đó là sinh trưởng nhanh, hình thân có độ thẳng trung gian giữa hai loài cây bố và mẹ, chất lượng gỗ khá hơn so với loài A.
Keo lai là cây ưa sáng mạnh, thích hợp và sinh trưởng nhanh ở vùng khí hậu nóng ẩm và cận ẩm; nhiệt độ không khí nóng quanh năm, bình quân từ 22- 260 C, nhiệt độ bình quân tháng nóng nhất từ 32- 340C và lạnh nhất từ 17- 200C; lượng mưa bình quân từ 1800- 2500 mm và chỉ có từ 1-2 tháng mùa khô. Tuy nhiên, Keo lai là cây có biên độ sinh thái khá rộng, có khả năng chịu hạn tương đối cao. Vì thế, chúng có thể sống ở những nơi khô hạn với lượng mưa hàng năm dưới 1000 mm như vùng đất cát ven biển miền Nam Trung Bộ nước ta. Keo lai sinh trưởng kém ở những nơi có mùa khô kéo dài hay nơi có mùa đông lạnh, nhiệt độ xuống thấp hơn 100C và có sương giá.
Khi trồng ở những vùng có gió mạnh hoặc gió xoáy, rừng trồng Keo lai có thể bị hại nặng (Nguyễn Huy Sơn, 2006) [16, 17]. Keo lai có nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa bố và mẹ, đồng thời có ưu thế lai rõ rệt như: Sinh trưởng nhanh, có hiệu suất bột giấy cao, độ bền cơ học và độ trắng của giấy hơn hẳn các loài bố mẹ, có khả năng trồng được trên nhiều điều kiện lập địa khác nhau, đặc biệt là cạnh tranh với cỏ tranh và có khả năng cố LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 định đạm khí quyển trong đất nhờ có nốt sần ở hệ rễ. Gỗ thẳng, màu vàng trắng có vân, có giác lõi phân biệt, gỗ có tác dụng nhiều mặt: Kích thước nhỏ làm nguyên liệu giấy, kích thước lớn sử dụng trong xây dựng, đóng đồ mộc mỹ nghệ, hàng hóa xuất khẩu. Những nghiên cứu về rừng trồng Keo lai Đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về rừng trồng Keo lai.
Theo Zuhaidi và Noor (1997) [31], khi tỉa thưa với cường độ mạnh, thì lượng tăng trưởng thường xuyên hàng năm và lượng tăng trưởng bình quân chung của rừng trồng Keo lai đạt lớn nhất ở tuổi 7 - 8. Nếu không tỉa thưa hoặc tỉa thưa với cường độ vừa, thì đường kính tập trung nhiều nhất từ 20-25 cm (tương ứng 39% và 49. Khi tỉa thưa với cường độ mạnh, đường kính tập trung nhiều nhất từ 25-30 cm (62. Theo Lê Đình Khả (1997) [8], khối lượng thể tích gỗ Keo lai khô kiệt là 0,455 g/cm3.
Trị số này ở dạng trung gian giữa Keo lá tràm và Keo tai tượng. Độ chịu kéo, độ gấp và độ trắng giấy của Keo lai cũng cao hơn rõ rệt so với các loài keo bố mẹ. Khi nghiên cứu về sinh trưởng của rừng trồng Keo lai, Lê Đình Khả và cộng sự (1997; 2000) [8, 9] cho rằng những cây trội Keo lai F1 sinh trưởng về chiều cao và đường kính lớn hơn so với cây bố mẹ. Ngoài ra, đất dưới tán rừng trồng Keo lai cũng được cải thiện tốt hơn so với đất dưới tán rừng keo bố mẹ.
Những nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Nghĩa (1999) [13], Phạm Văn Tuấn và Lưu Bá Thịnh (1999) [23] cho thấy, hầu hết các dòng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ đều sinh trưởng vượt trội so với Keo tai tượng và Keo lá tràm. Vũ Tấn Phương (2001) [14] đã nghiên cứu mối quan hệ sinh trưởng của Keo lai với một số tính chất đất. Nghiên cứu của Phạm Thế Dũng (2005) [4, 5] cho thấy rừng trồng Keo lai ở Đông Nam Bộ sinh trưởng trên đất nâu đỏ tốt hơn so với đất xám phù sa cổ. Ngoài ra, mật độ trồng rừng trồng Keo lai thích hợp từ 1.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Từ năm 2000 – 2004[2], Phạm Thế Dũng và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng cho các dòng Keo lai được tuyển chọn trên đất phù sa cổ tại tỉnh Bình Phước làm nguyên liệu giấy. Kết quả bước đầu cho thấy Keo lai sinh trưởng nhanh trong ba năm đầu và có thể trồng Keo lai trên nhiều loại đất ở vùng Đông Nam Bộ, nhưng trên đất xám bạc màu phù sa cổ cần thiết phải bón phân khi trồng. Trên đất feralit phát triển trên phù sa cổ và trên đất xám bạc màu Đông Nam Bộ có thể bón lót hỗn hợp phân vi sinh Sông Danh với NPK theo liều lượng 0,5 kg + 0,1 kg/ hố trước khi trồng. Trong điều kiện đất dốc, không nhất thiết phải san ủi thực bì mà có thể phát dọn thủ công để trồng rừng, không nên đốt dọn thực bì mà sử dụng chúng làm lớp thảm rải đều trên mặt đất.
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của quản lý lập địa tới năng suất rừng trồng cây Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) vùng Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và cộng sự (2001 - 2005)[3] cho rằng, để lại cành nhánh sau khai thác có tác động tới tăng trưởng rừng trồng chu kỳ 2 và có tác động tới thành phần hóa học trong đất. Có mối tương quan chặt chẽ giữa hàm lượng đạm tổng số và chất hữu cơ. Khi nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của rừng trồng Keo lai tại Đông Nam Bộ, Nguyễn Huy Sơn (2006) [16, 17] đã chỉ ra rằng tuổi thành thục số lượng của rừng trồng Keo lai tại Đông Nam Bộ xuất hiện ở khoảng tuổi 7 - 8. Nếu kinh doanh gỗ nhỏ, thì đường kính khai thác ở tuổi 7 - 8 năm có thể đạt từ 18,7 - 21,5 cm.
Khi nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng thâm canh Keo lai tại Đông Nam Bộ, Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2006) cho rằng, để kéo dài thời gian tăng trưởng cực đại, thúc đẩy khả năng tăng trưởng cũng như làm tăng lợi nhuận trong quá trình kinh doanh rừng, có thể tiến hành tỉa thưa lần 1 vào trước khi lượng tăng trưởng thường xuyên đạt cực đại ở tuổi 5, mật độ để lại từ 800 - 900 cây/ha. Kiều Thanh Tịnh (2002) [24] cho rằng, nếu mục tiêu trồng rừng để lấy gỗ nguyên liệu giấy và gỗ cỡ nhỏ, thì mật độ trồng rừng trồng Keo lai thích hợp là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ngoài ra, nếu cải thiện về giống thì có thể trồng dày hơn sau đó tỉa thưa vào năm thứ 3 và để lại mật độ 1.100 cây/ha sẽ đạt được sản lượng cao nhất. Sản lượng rừng trồng Keo lai bị ảnh hưởng bởi mật độ.
Tuy vậy, do chất lượng gỗ tăng, nên giá trị gỗ tăng cao. Tỉa thưa thúc đẩy tăng trưởng nhanh về đường kính. Nếu kinh doanh gỗ nguyên liệu, thì chu kỳ khai thác rừng trồng Keo lai thích hợp là 8 năm (Nguyễn Thanh Minh (2005)[11]). Nguyễn Thanh Minh (2007) [12] cũng đã lập biểu thể tích và tỉa thưa rừng trồng Keo lai tại Đông Nam Bộ.
Khi nghiên cứu một số cơ sở khoa học của kỹ thuật tỉa thưa rừng trồng Keo lá tràm tại vùng Đông Nam Bộ, Bùi Việt Hải (1998) [6] cho rằng, khi mật độ trồng ban đầu từ 2660- 3300 cây/ha, thì tuổi thích hợp nhất để tỉa thưa rừng trồng Keo lá tràm là tuổi 4. Phương pháp tỉa thưa là tỉa thưa tầng dưới có kết hợp loại bỏ từng cây một cách cơ giới. Rừng Keo lá tràm chỉ cần tỉa thưa một lần. Nói chung, rừng đã qua tỉa thưa có thể cho sản phẩm sớm hơn so với rừng không qua tỉa thưa.
Sau khi khảo nghiệm và xây dựng mô hình trồng rừng Keo lai cung cấp gỗ lớn tại Tây Nguyên, Hồ Đức Soa (2015)[15] cho rằng: Căn cứ vào đường kính, chiều dài và phẩm chất gỗ, gỗ rừng trồng Keo đạt tiêu chuẩn, quy cách gỗ lớn theo quy định hiện hành. Keo lai là loài cây có biên độ sinh thái rộng, trồng được trên hầu hết các loại đất và vùng khí hậu khác nhau ở Tây Nguyên. Với kĩ thuật thâm canh hợp lí, cây trồng sinh trưởng nhanh cho năng suất tương đối cao và ổn định, gỗ tương đối tốt, thích hợp với công nghệ chế tạo đồ mộc gia dụng và được thị trường chấp nhận. Các dòng Keo lai đều sinh trưởng nhanh, năng suất cao, tăng trưởng đường kính đạt 2,0 -3,3 cm/năm, chiều cao 2 - 3,3 m/năm, chu kì kinh doanh ngắn thường 8 - 12 năm, gỗ màu sáng đẹp, làm đồ mộc và nguyên liệu giấy.
Có thể nói đây là loài cây dễ trồng thích hợp với đại đa số các dạng lập địa tại Tây Nguyên, cho năng suất tương đối cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phương pháp phân cấp sinh trưởng cây rừng 1. Phân loại cấp sinh trưởng cây rừng của Kraft (1884) Theo Kraft (1884; dẫn Nguyễn Văn Thêm, 2002, 2005)[21, 22], toàn bộ cây gỗ của một quần thụ có thể được phân chia thành 5 cấp sinh trưởng cơ bản (hoặc cấp “ưu thế “ và cấp bị “chèn ép”) theo thứ tự giảm dần sức sống; trong đó cây cấp I – những cá thể tốt nhất, cây cấp II và III - tương ứng là những cá thể khá và trung bình, cây cấp IV và V - tương ứng là những cá thể xấu (bị chèn ép) và sắp bị đào thải.
Chỉ tiêu được Kraft sử dụng để phân cấp sinh trưởng cây rừng bao gồm vị trí tán cây trong tán rừng, độ lớn và hình dạng tán lá, khả năng ra hoa quả, tình trạng sinh lực, cây còn sống hay đã chết.Mỗi chỉ tiêu có một hệ thống tiêu chuẩn để nhận biết và đánh giá. Cây cấp I là những cá thể cao nhất, đường kính thân cây to nhất, tán lá phát triển tốt nhất. Chiều cao của chúng bằng 1,2 - 1,3Hbq, với Hbq là chiều cao bình quân lâm phần. Đây là nhóm cây sinh sản mạnh nhất, cho chất lượng hạt tốt nhất.
Cây cấp II là những cá thể sinh trưởng và phát triển tốt, nhưng có các tiêu chuẩn thấp hơn cây cấp I. So với Hbq của quần thụ, chiều cao cây cấp II đạt 1,1 - 1,15Hbq.