Đặt vấn đề Keo lai là loài sinh trưởng nhanh, cải thiện được tiêu khí hậu, cải tạo đất được xác định là một trong các loài cây chủ lực cung cấp gỗ nguyên liệu giấy, sản xuất ván dăm, viên gỗ nén,. mang lại giá trị kinh tế lớn đối với ngành lâm nghiệp ở Việt Nam, có diện tích ước khoảng 500.000 ha hằng năm tăng trung bình từ 30. Keo lai tự nhiên là giống lai giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tram (Acacia auriculiformis), có đặc điểm vượt trội so với các loài bố mẹ là khả năng sinh trưởng tốt và gỗ tạo ra có năng suất cao phù hợp làm nguyên liệu giấy (Lê Đình Khả, 2000). Lượng tăng trưởng thường xuyên hằng năm của Keo lai có thé đạt trên 30m/ha/năm đối với điều kiện chăm sóc và lập địa tốt.
Hiện nay, ở khu vực Trạm thực nghiệm Lâm Nghiệp Tân phú, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, hàng ngàn hecta rừng Keo lai đã được trạm thực nghiệm va các hộ dân trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng, đem lại nhiều công ăn việc làm cho người dân trong khu vực đặc biệt là đồng bào dân tộc ở vùng sâu vùng xa của 2 tỉnh Bình Dương và Bình Phước. Không những thế rừng Keo còn giúp phủ xanh đất trống đổi trọc, điều hòa không khí mang lại lợi ích kinh tế cao thay thế cây Cao su đang bị phá bỏ nhiều do mất giá. Tuy vậy, rừng Keo sau khi trồng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Đặc biệt là thông tin về mô ta, phân tích đặc điểm sinh trưởng đường kính, chiều cao, thé tích, trữ lượng cây còn thiếu.
Trong khi đó, những thông tin về sinh trưởng và tăng trưởng của cây là rat quan trọng. Về mặt lý thuyết, đó là cơ sở dé xây dựng quy luật sống và phát triển của rừng Keo lai. Về thực tiễn, giúp chủ rừng đánh giá tình trạng nuôi trông rừng và hiệu quả kinh tê. Xuất phát từ thực tế hiện nay còn thiếu những căn cứ khoa học cho việc trồng, nuôi dưỡng và khai thác rừng Keo lai.
Đồng thời với mong muốn góp phần cung cấp thêm những thông tin có ích cho việc phân tích đặc điểm lâm học của rừng Keo lai ở huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, đề tài nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cây Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) tại “Trại thực nghiệm Lâm Nghiệp Phú Tân, huyện Phú Giáo — Bình Dương” đã được dat ra.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu tong quát Xác định đặc điểm sinh trưởng và cấu trúc rừng trồng Keo lai tuôi 2 - 7.2 Mục tiêu cụ thé Xác định quy luật sinh trưởng của rừng trồng Keo lai tuổi 2 — 7 tại khu vực thông qua mối quan hệ giữa những chỉ tiêu sinh trưởng (D¡3, Hạ, N, V, M) với tuổi (A). Xây dựng biểu quá trình sinh trưởng rừng trồng Keo lai tuổi 2 — 7 nhằm phục vụ công tác quản lý và kinh doanh rừng trồng Keo lai tại địa phương.3 Pham vi nghiên cứu La những diện tích rừng trồng Keo lai ở các tuổi 2, 3, 4, 5, 6 và 7 tại Trạm thực nghiệm Lâm Nghiệp Tân Phú, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.4 Ý nghĩa đề tài " Vệ mặt lý luận, dé tài nghiên cứu đóng góp cơ sở khoa học cho việc năm bat tình hình phát triển rừng. Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu không những cung cấp thông tin về khả năng thích nghi và dự đoán quá trình sinh trưởng mà còn là cơ sở khoa học cho việc đề xuất những biện pháp nâng cao năng suất rừng trồng Keo lai tại Trạm thực nghiệm lâm nghiệp Tân Phú cũng như khu vực huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Chương 2 TONG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về nghiên cứu 2.1 Sơ lược về xuất sứ cây Keo lai Nguồn gốc là sự kết hợp trong tự nhiên giữa 2 loài: Keo lá tram ( Acacia auriculiformis) và Keo tai tượng (Acacia mangium ).
Cây có nguồn gốc ở Australia, được trồng phổ biến ở Đông Nam Á. Ở Việt Nam Keo lai được trồng rộng rãi trên toàn quốc. Các dòng Keo lai BV10; BV16; BV32 và BV33 đã được Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng ( Viện khoa học lâm nghiệp ) tuyên chọn trồng khảo nghiệm va được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định công nhận là giống mới và giống quốc gia. Quyết định số: 132 - QD/BNN-KHCN ngày 17/01/2000 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về việc công nhận 3 dòng vô tinh Keo lai BV10; BV16; BV32.
Quyét định số: 1998 - QD/BNN-KHCN ngày1 1/07/2006 về việc công nhận giống cây lâm nghiệp mới trong đó có dòng BV33 được công nhận là giống quốc gia.2 Đặc điểm hình thái Keo lai Cây mọc tốt ở hầu hết các dạng đất, ở nơi có lượng mưa từ 1. Moc tốt trên đất có độ pH từ 3 - 7, phân bố từ độ cao 800 m so với mực nước biển. Là cây ưa sáng mọc nhanh, có khả năng cải tạo đất, chống xói mòn. Cây cao từ 25 m đến 30 m, đường kính (D¡3) có thé đạt 60 — 80 cm.
Gỗ thang, màu vàng trắng, có vân, có lõi giác phân biệt.3 Giá trị sử dụng Gỗ có tác dụng nhiều mặt: Kích thước nhỏ làm nguyên liệu giấy, kích thước lớn sử dụng trong xây dựng, đóng đồ mộc, mỹ nghệ, làm hàng xuất khẩu.3 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu 2.1 Điều kiện tự nhiên 2.1 Vị trí địa lý Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm, 4 hướng của tỉnh Bình Dương giáp: - Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai. - Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước. - Phía Tây giáp tinh Tay Ninh và một phần thành phố Hồ Chí Minh. - Phía Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh và một phan tỉnh Đồng Nai.
Theo Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 29/12/2013 của Chính phủ, Tỉnh Bình Dương có diện tích tự nhiên là 2.694,43 km? (chiếm khoảng 0,83% diện tích cả nước, khoảng 12 % diện tích miền Đông Nam Bộ); dân số 1. Tinh Bình Dương có 9 đơn vị hành chính cấp huyện gồm: Thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Dĩ An, thị xã Thuận An. thị xã Bến Cát, thị xã Tân Uyên và các huyện Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo) và 91 đơn vị hành chính cấp xã (48 xã, 41 phường, 02 thị tran).2 Địa hình, địa mạo Bình Dương là một tỉnh nằm ở vị trí chuyền tiếp giữa sườn phía nam của dãy Trường Sơn, nỗi nam Trường Sơn với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; là tinh bình nguyên có địa hình lượn sóng yếu từ cao xuống thấp dan từ 10 m đến 15 m so với mặt biển. - Địa hình Vùng đất Bình Dương tương đối bằng phẳng, thấp dần từ bắc xuống nam.
Nhìn tổng quát, Bình Dương có nhiều vùng địa hình khác nhau: Vùng địa hình núi thấp có lượn sóng yếu, vùng có địa hình bằng phẳng, vùng thung lũng bãi bồi. Có một số núi thấp, như núi Châu Thới (huyện Dĩ An), núi Cậu (còn gọi là núi Lap Vo) ở huyện Dầu Tiếng. và một số đôi thấp. Các quy luật tự nhiên tác động lên vùng đất này tạo nên nhiều dạng địa mạo khác nhau: Có vùng bị bào mòn, có vùng tích tụ (do có sự lắng đọng của các vật liệu xâm thực theo dòng chảy), có vùng vừa bị bào mòn, vừa tích tụ và lắng đọng.
Nguyên nhân chủ yếu là do nước mưa và dòng chảy tác động trên mặt đất, cộng với sự tác động của sức gió, nhiệt độ, khí hậu, sự sạt lở và sụp trượt vì trọng lực của nên địa chất. Các sự tác động này diễn ra lâu dài hàng triệu năm. Bình Dương rất đa dạng và phong phú về chủng loại: + Dat xám trên phù sa cổ, có diện tích 200.000 ha phân bố trên các huyện Dầu Tiếng, Bến Cát, Thuận An, thị xã Thủ Dầu Một. Loại đất này phù hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp, cây ăn trái.
+ Đất nâu vàng trên phù sa cô, có khoảng 35.206 ha nằm trên các vùng đồi thấp thoải xuống, thuộc các huyện Tân Uyên, Phú Giáo, Thành phố Thủ Dầu Một, Thuận An và một ít chạy dọc quốc lộ 13. Đất này có thể trồng rau màu, các loại cây ăn trái chịu được hạn như Mít, Điều. + Đất phù sa Giây (đất dốc tụ), chủ yếu là đất dốc tụ trên phù sa cổ, nằm ở phía bắc huyện Tân Uyên, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, Thuận An, Dĩ An; đất thấp min Giây có khoảng 7.900 ha nằm rải rác tại những vùng trũng ven sông rạch, suối. Đất này có chua phèn, tính axít vì chất sunphát sắt và alumin của chúng.
Loại dat này sau khi được cải tạo có thé trồng lúa, rau và cây ăn trái, rừng trồng, .2 Điều kiện khí hậu Khí hậu ở Bình Dương cũng như chế độ khí hậu của khu vực miền Đông Nam Bộ: Nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao. Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa én định, trong năm phân chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến cuối tháng 10 đương lịch. Vào những tháng đầu mùa mưa, thường xuất hiện những cơn mưa rào lớn, rồi sau đó dứt han.
Những tháng 7, 8, 9, thường là những tháng mưa dầm. Có những trận mưa dam kéo dai 1 - 2 ngày đêm liên tục. Dac biệt ở Binh Duong hầu như không có bão, mà chỉ bị ảnh hương những cơn bão gần. Nhiệt độ trung bình hang năm ở Bình Dương từ 26 °C — 27 °C.
Nhiệt độ cao nhất có lúc lên tới 39 °C và thấp nhất từ 16 °C — 17 °C (ban đêm) và 18 °C vào sáng sớm. Vào mùa nắng, độ âm trung bình hàng năm từ 76 - 80 %, cao nhất là 86 % (vào tháng 9) và thấp nhất là 66 % (vào tháng 2). Lượng nước mưa trung bình hàng năm từ 1. Tại ngã tư Sở Sao của Bình Dương đo được bình quân trong năm lên đến 2.1 Thủy văn, sông ngòi Bình Dương có 3 con sông lớn, nhiều rạch ở các địa bàn ven sông và nhiều suối nhỏ khác.
- Sông Đồng Nai là con sông lớn nhất ở miền Đông Nam Bộ, bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên (Lâm Đồng) dài 635 km nhưng chỉ chảy qua địa phận Binh Dương ở Tân Uyên. Sông Đồng Nai có giá trị lớn về cung cấp nước tưới cho nền nông nghiệp, giao thông vận tải đường thủy và cung cấp thủy sản cho nhân dân. - Sông Sài Gòn dài 256 km, bắt nguồn từ vùng đồi cao huyện Lộc Ninh (tỉnh Bình Phước). Sông Sài Gòn có nhiều chỉ lưu, phụ lưu, rạch, ngòi và suối.