CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Những nghiên cứu về Bạch đàn E.urophylla Từ thế kỷ XIX, Bạch đàn đã từ châu Úc du nhập đến nhiều nước trên thế giới và được đánh giá như là một loài cây nhập nội có khả năng thích ừng với nhiều điều kiện khí hậu khác nhau và sau đó, nó lại được đánh giá là loài cây trồng rừng kinh tế. Năm 1955, trên thế giới đã có 700.000 ha rừng trồng Bạch đàn và tới năm 1975 đã có khoảng 4 triệu ha rừng trồng tại nhiều vùng khác nhau của 58 nước.
Phải nói rằng, sự thành công của việc phát triển rộng lớn của rừng trồng Bạch đàn trên nhiều nước có phần đóng góp rất lớn của những chương trình nghiên cứu về loài và xuất xứ Bạch đàn. Đề cập đến những công trình nghiên cứu liên quan đến khảo nghiệm loài và xuất xứ Bạch đàn Urophylla, có thể kể đến những công trình như: Khảo nghiệm loài Bách đàn E.urophylla năm 1977 trên 11 địa điểm khác nhau ở Brazil. Kết quả cho thấy, ở tuổi 3,5 sinh trưởng chiều cao trung bình cho cả 11 địa điểm là 8,34m. Địa điểm có sinh trưởng tốt nhất là Aracruz, chiều cao đạt trung bình là 11,94m, nơi kém nhất là Joao Pinheiro đạt 3,27m.
Khảo nghiệm 17 xuất xứ Bạch đàn Urophylla ở tỉnh Santos và xuất xứ ở Brazil, Amazon cho thấy có sự tương quan rất chặt chẽ giữa độ cao phân bố của các xuất xứ với tỷ lệ sống, sinh trưởng chiều cao. Khảo nghiệm 22 xuất xứ Bạch đàn Urophylla năm 1981 ở Wanagama, Indonesia cho thấy sau 22 tháng tuổi, các xuất xứ từ Wetar sinh trưởng trội hơn về chiều cao và đường kính. 4 Sau đó, vào năm 1971 người ta lại tiến hành khảo nghiệm 5 xuất xứ Bạch đàn Urophylla trên 2 lập địa khác nhau ở Puerto Rico. Sau 8 năm cho thấy xuất xứ ở Timor sinh trưởng tốt hơn về đường kính và chiều cao.
Những nghiên cứu thành công về loài Bạch đàn lai giữa E.urophylla ở Brazil và E.urophylla ở Công Gô đã góp phần vào việc tạo được những khu rừng trồng nguyên liệu giấy có năng suất cao. Ngày nay, việc khảo nghiệm xuất xứ Bạch đàn Urophylla đã được một số tổ chức Lâm Nghiệp như Trung tâm Lâm Nghiệp nhiệt đới Pháp (CTFT), cơ quan Lâm Nghiệp Úc (CSIRO) quan tâm và giúp đỡ cung cấp hạt giống, hướng dẫn phương pháp và kể cả việc hỗ trợ kinh phí cho khảo nghiệm. Nghiên cứu quy luật cấu trúc lâm phần 1. Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo đường kính Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính là quy luật cơ bản của lâm phần và được các nhà Lâm học, điều tra rừng quan tâm nghiên cứu.
Đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của Meyer (1934), Prodan (1949). Các tác giả này đã mô tả phân bố số cây theo cỡ đường kính của rừng tự nhiên bằng phương trình toán học dạng: N = k.1) Phương trình này được gọi là phương trình Meyer hay hàm Meyer. Tiếp đó, Naslunel (1936-1937) đã xác lập phân bố Charlier-A đối với phân bố N-D của lâm phần thuần loài đều tuổi. Loetch (1973) dùng hàm Beta nắn phân bố thực nghiệm, Roemisch (1975) nghiên cứu khả năng dùng hàm Gamma mô phỏng sự biến đổi của phân bố N/D theo tuổi.Z Docuto (1992) trong khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ở Maranhoo - Brazin đã dùng hàm Weibull mô phỏng phân bố N-D.
Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính Đây cũng là quy luật cơ bản và quan trọng trong hệ thống các quy luật cấu trúc lâm phần. Qua nghiên cứu nhiều tác giả cho thấy, chiều cao tương ứng với mỗi cỡ đường kính luôn tăng theo tuổi. Trong một cỡ kính xác định, ở các cấp tuổi khác nhau cây rừng thuộc cấp sinh trưởng khác nhau.V (1927) đã phát hiện ra quy luật này khi xác lập đường cong chiều cao ở các cấp tuổi khác nhau.M (1935) cho thấy độ dốc đường cong chiều cao có chiều hướng giảm dần khi tuổi tăng lên.O đã mô phỏng quan hệ chiều cao với đường kính và tuổi theo dạng phương trình: Logh = d + b1.2) Tại từng tuổi nhất định dùng phương trình: Logh = b0 + b1.3) Các tác giả như: Hohenadl; Krenn; Michailoff; Naslund, M; Anoutchin, NP; Eckert, KH; Korsum, F; Levakovic, A; Meyer, H.Soest, J đã đề xuất dùng các phương trình dưới đây: h = a0 + a1d + a2d2 (1.14) 6 Như vậy, để biểu thị tương quan chiều cao với đường kính có thể sử dụng nhiều dạng phương trình khác nhau. Việc lựa chọn phương trình thích hợp nhất cho những đối tượng nào thì chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Hai dạng phương trình được sử dụng nhiều nhất để biểu thị đường cong chiều cao là phương trình Parabol và Logarit. Biểu thể tích Biểu thể tích 2 nhân tố là biểu ghi bằng số liệu mối quan hệ giữa thể tích với 2 nhân tố cấu thành thể tích là đường kính và chiều cao thân cây. Prodan, Meyer, Spurr, Halaj, Tiorin… đưa ra nhiều dạng phương trình khác, nhưng tập trung nhiều nhất là 2 dạng phổ biến: V = a + b.16) Hai dạng phương trình trên được nhiều tác giả kiểm tra và thiết lập để cấu trúc nên biểu thể tích 2 nhân tố ở nhiều nước, như Đức, Ấn độ, Mỹ, Indoiaxia, Thái lan… Mặc dù là biểu thể tích 2 nhân tố nhưng yếu tố hình dạng thân cây đã được xem như một hằng số hoặc một biến số quy về đường kính và chiều cao thân cây. Vì vậy, độ chính xác và tính rộng rãi trong sử dụng của biểu thể tích hai nhân tố rất cao.
Để giảm chi phí cho công tác nghiên cứu lập biểu, một số quốc gia hoặc địa phương thường tiến hành kiểm nghiệm biểu thể tích hai nhân tố của nước láng giềng hay địa phương lân cận để sử dụng cho đối tượng của mình. Biểu cấp đất Cấp đất là một chỉ tiêu biểu thị sức sản xuất hay mức độ phù hợp của điều kiện hoàn cảnh đối với một kiểu rừng nhất định. Nghiên cứu lập biểu cấp đất làm cơ sở cho việc xác định và sử dụng các biểu điều tra, sản lượng nói riêng và thiết kế các biện pháp kinh doanh rừng nói chung. 7 Trên thế giới, quá trình tìm tòi những chỉ tiêu biểu thị mức độ phù hợp của điều kiện hoàn cảnh rừng đã trải qua nhiều giai đoạn.
Trước tiên người ta đi theo hướng tìm những nhân tố có tính chất nguyên nhân, tác động rõ đến quá trình sinh trưởng của rừng như khí hậu, không khí, đất… Nhưng thực ra có rất nhiều nhân tố luân chuyển ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của cây rừng, cho dù có thể xác định được một nhân tố chủ đạo đi chăng nữa, thì nhân tố này lại tác động một cách tổng hợp với các nhân tố khác. Do đó, đi theo hướng này không đạt được kết quả mong muốn. Sau đó, việc nghiên cứu đi theo hướng dùng nhân tố có tính chất hệ quả, như trong nông nghiệp dùng kết quả thu hái để phân chia cấp sản lượng của đồng ruộng còn đối với lâm nghiệp dựa vào trị số sản lượng của rừng để phân chia sức sản xuất. Từ khi Eichhorn (1904) phát hiện ra quy luật “Trữ lượng rừng là một hàm số của chiều cao lâm phần” thì phương pháp phân chia cấp đất được củng cố với cơ sở lý luận vững chắc hơn.
Theo ông, tất cả các lâm phần trên các điều kiện khác nhau, có cùng trữ lượng khi chúng có cùng chiều cao bình quân. Nội dung chính của phân chia cấp đất là phải tìm được mối quan hệ theo tuổi của một nhân tố điều tra được lựa chọn nào đó, thông thường là chiều cao bình quân lâm phần, chiều cao bình quân tầng ưu thế… Nhân tố được lựa chọn này phải có quan hệ chặt chẽ với trữ lượng, ít chịu ảnh hưởng của biện pháp kinh doanh. Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đều khẳng định, quy luật sinh trưởng chiều cao của mỗi loài cây phụ thuộc vào các vùng sinh thái. Từ đó ứng với mỗi kiểu sinh trưởng chiều cao, cần xác định một biểu cấp đất hay còn gọi là một hệ thống cấp đất.
Như vậy, việc phân chia cấp đất cho dù sử dụng chỉ tiêu nào thì thực chất là đánh giá và phân chia trực tiếp mức độ sinh trưởng của rừng. Những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế Năm 1974, giáo sự Jonh E – Gunter trường đại học Tổng Hợp thuộc bang Michigan - Mỹ đã xuất bản giáo trình: “Những vần đề cở bản trong đánh giá đầu tư Lâm nghiệp”. Trong đó tác giả đưa ra các cơ sở để đánh giá hiệu quả trồng rừng, với những nội dung cơ bản như: Lãi suất đơn, lãi suất kép, thời gian và năm chiết khấu. Năm 1979, tổ chức Nông nghiệp và lương thực thế giới (FAO) đã xuất bản giáo trình: “Phân tích các Dự án Lâm Nghiệp” do Hans M – Gregesen và Amoldo H.
Contresal biên soạn. Theo tài liệu lưu trữ của TREE CD – ROM (Cab. International for Asia), từ năm 1939 đến tháng 4 năm 1995 có 48 công trình đánh giá hiệu quả kinh tế trong Lâm nghiệp. Trong đó có 19 công trình đánh giá hiệu quả kinh tế Lâm nghiệp nhiệt đới, đặc biệt có công trình đánh giá hiệu quả kinh tế rừng trồng, trong đó có 9 công trình tập trung vào đánh giá hiệu quả do áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh.
Những nghiên cứu về Bạch đàn E.urophylla Ở Việt Nam, Bạch đàn đã được nhập vào trồng rải rác trước năm 1945. Từ giữa những năm 60 ở miền Bắc đã nhập giống Bạch đàn trắng (E.tereticornis), Bạch đàn liễu ( E.exserta), Bạch đàn chanh (E.citriodora), Bạch đàn đỏ (E. để phát triển phong trào trồng cây trong nhân dân và thiết lập rừng trồng ở các Lâm trường Quốc doanh. Từ năm 1960, Bạch đàn trở thành một trong những loài cây chủ yếu của Lâm nghiệp, tuy nhiên cho đến nay Bạch đàn đã trải qua những bước thăng trầm, có thể chia ra thành 3 giai đoạn: Từ 1977 – 1983 là thời kỳ bài trừ Bạch đàn mạnh nhất, do quan niệm Bạch đàn trồng làm xấu đất, làm cạn kiệt 9 nguồn nước, do đó diện tích trồng chỉ có 2000 đến 3000 ha/năm, mặt khác Bạch đàn còn bị tàn phá hoặc không được chăm sóc, nhiều cây con trong vườn đủ tiêu chuẩn nhưng bị vứt bỏ.
Giai đoạn 1984 – 1986 là giai đoạn phục hồi, diện tích trồng Bạch Đàn hàng năm không ngừng tăng lên. Từ năm 1987 trở lại đây là giai đoạn phát triển, diện tích trồng rừng Bạch đàn luôn đứng đầu trong các loài cây trồng của Lâm nghiệp. Các loài Bạch đàn được trồng nhiều như: E.