mở đầu và chuyển ý. Ví dụ: Xin kể với các đồng chí một chuyện nữa. (Phạm Văn Đồng) + Câu tỉnh lược chủ ngữ dùng khi nói một mình: khi mình tự nói với mình về bản thân hay về ai, về cái gì đó. Ví dụ: Thế là đi cả rồi.
+ Câu tỉnh lược chủ ngữ chứa động từ cảm nhận: thấy, nghe dùng để tạo nhân xưng chung, tính phổ biến đối với mọi người. Ví dụ: Bước vào khỏi cổng thôn Đoài, đã thấy nhà ông Nghị Quế. (Ngô Tất Tố) + Câu tỉnh lược dùng trong liệt kê. Ví dụ: GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 14 SVTH: Trương Phi Yến Câu tỉnh lược và câu đặc biệt trong truyện ngắn Nam Cao • Muốn làm công tác tốt, thu thành tích nhiều hơn, phải tiến hành ba mặt dưới đây: 1) Nâng cao tư tưởng, nâng cao trình độ giác ngộ, nâng cao nhiệt tình xã hội chủ nghĩa, nâng cao tình cảm xã hội chủ nghĩa (vì văn hóa, văn nghệ phải có tình cảm hơn các ngành khác).
2) Liên hệ rất mật thiết với quần chúng, sống một đời sống quần chúng, thông cảm với phong trào quần chúng. 3) Vấn đề nghiệp vụ công tác: Có hai mặt trên tức là có nguồn gốc rồi, nhưng không có nghiệp vụ thì cũng không thể được. (Phạm Văn Đồng) + Câu tỉnh lược chủ ngữ là “câu nêu sự kiện”. Ví dụ: Hôm qua, 27-3-1982, tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội, khai mạc trọng thể Đai hội lần thứ năm của Đảng.
(Báo) 2) Câu tỉnh lược vị tố: “Vị tố của tiếng Việt được làm thành từ động từ hoặc tính từ và có các hư từ quây quần chung quanh chúng” [3; tr. Ví dụ: Tiếng hát ngừng. Cả tiếng cười. Nhận xét Có nhiều tác giả đề cập về câu tỉnh lược.
Có thể có nhiều thuật ngữ khác nhau khi gọi tên về câu tỉnh lược như: câu rút gọn (Nguyễn Kim Thản), ngữ trực thuộc (Trần Ngọc Thêm), phát ngôn tỉnh lược (Phan Mậu Cảnh), câu tỉnh lược (Diệp Quang Ban),. Tuy nhiên, các tác giả về cơ bản thống nhất ở những điểm sau: GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 15 SVTH: Trương Phi Yến Câu tỉnh lược và câu đặc biệt trong truyện ngắn Nam Cao - Tỉnh lược là một thủ pháp nhằm mục đích giảm thiểu thông báo, bằng cách lược bỏ các yếu tố lặp (lặp từ vựng hay lặp ngữ pháp - hay còn gọi là các yếu tố đồng sở chỉ). Các yếu tố đó được xác lập và hiểu được qua liên tưởng nhờ ngữ cảnh. - Câu tỉnh lược có cấu tạo không hoàn chỉnh, trên bề mặt chỉ có một thành phần hiện hữu, nhưng có đủ căn cứ chuyển thành câu song phần.
- Điều kiện tỉnh lược, hay khôi phục bộ phận tỉnh lược cũng như căn cứ để hiểu được nội dung câu tỉnh lược là bối cảnh hay văn cảnh tồn tại của câu tỉnh lược. Các tác giả thường đề cập ở ba dạng thức tỉnh lược sau: 1) Tỉnh lược chủ ngữ: Loại này thường có dạng biểu hiện là một vị từ hay cụm vị từ. Bằng thao tác thay thế, đối chiếu có thể phục hồi trở lại dạng đầy đủ. Có các trường hợp sau: + Tỉnh lược và xác định chủ ngữ nhờ bối cảnh: Trong hội thoại, trong câu mệnh lệnh, câu dùng để chúc tụng, cầu mong, chào mời, thể hiện trạng thái cảm xúc.
Khi đó, chủ ngữ là chủ thể phát ngôn, hoặc là nhân vật đang đối thoại, hay đang được nói đến. Câu khẩu hiệu, chỉ thị, lời hướng dẫn, tục ngữ, ca dao. Khi đó chủ ngữ có thể xác định, có thể phiếm định. + Tỉnh lược và xác định chủ ngữ dựa vào văn cảnh.
Trong trường hợp này, tỉnh lược chủ ngữ có giá trị đúng không gây sự mờ nghĩa, sự nhầm lẫn giữa các đối tượng. Và khi khôi phục chủ ngữ, vị từ hay cụm vị từ hiện diện giữ vai trò, vị trí của vị ngữ. 2) Tỉnh lược vị ngữ: Loại này thường có dạng biểu hiện là danh từ hay cụm danh từ. Bằng thao tác thay thế, đối chiếu, có thể phục hồi lại dạng đầy đủ.
Có hai trường hợp: + Tỉnh lược và xác định vị ngữ nhờ bối cảnh (trong hội thoại). + Tỉnh lược và xác định vị ngữ dựa vào văn cảnh. Tỉnh lược vị ngữ chỉ có giá trị đúng khi ta khôi phục vị ngữ, danh từ hay cụm danh từ hiện diện giữ vai trò và vị trí chủ ngữ của câu. 3) Tỉnh lược chủ - vị (C-V): Loại này thường có dạng biểu hiện là một từ/ngữ giữ vai trò một thành phần phụ của câu khi được phục hồi lại ở dạng đầy đủ.
Có 2 trường hợp: + Tỉnh lược và xác định nòng cốt C-V nhờ bối cảnh (hội thoaị). GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 16 SVTH: Trương Phi Yến Câu tỉnh lược và câu đặc biệt trong truyện ngắn Nam Cao + Tỉnh lược và xác định nòng cốt C-V nhờ văn cảnh. CÂU ĐẶC BIỆT 1. Quan điểm của một số tác giả về câu đặc biệt 1.
Quan điểm của Nguyễn Kim Thản Trong Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, khi đề cập đến câu đơn giản không thể chia thành phần, tác giả gọi đó là câu danh xưng. Theo ông, câu danh xưng là “loại câu trong đó chỉ có một thể từ nói lên sự vật và không thể nào gọi đó là thành phần gì cả” [23; tr. Câu danh xưng thường thấy trong những trường hợp sau đây: 1) Tên các địa điểm, cơ quan, xí nghiệp hay bộ phận của những cơ quan, xí nghiệp ấy. Ví dụ: • Bộ ngoại giao.
2) Tên các tác phẩm văn hóa (tên sách, báo, bài văn, bản nhạc, tranh…) Ví dụ: • Xung kích. • Hai thằng khốn nạn. (Nguyễn Công Hoan) 3) Lời mắng mỏ, chê bai: Ví dụ: Hai vợ chồng gì! (Nam Cao) 4) Lời hỏi vặn, có ý ngạc nhiên hay không đồng tình: Ví dụ: Giời nào? Đất nào? 5) Lời kêu khi một sự vật xuất hiện: Ví dụ: Tàu bay! Tàu bay! (Nguyễn Đình Thi) 6) Lời gọi: Ví dụ: Két ơi! Con ơi! GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 17 SVTH: Trương Phi Yến Câu tỉnh lược và câu đặc biệt trong truyện ngắn Nam Cao (Nguyễn Đình Thi) 7) Tiếng tượng thanh và thán từ: Ví dụ: Nào, nào! Trong các tác phẩm văn học, nhất là trong các kịch bản, nhật ký hay phóng sự, cũng có dùng những câu danh xưng này. Ví dụ: Chân đèo Mã Phục.
(Nam Cao) Những câu này có tác dụng biểu thị thời gian, địa điểm. Những câu này cũng có kiến trúc liên hợp. Ví dụ: Năm hôm, mười hôm…Rồi nửa tháng, lại một tháng.2 Quan điểm của các tác giả Ngữ pháp tiếng Việt Trong Ngữ pháp tiếng Việt (1983), các tác giả cho rằng: Một câu đơn thì có một nòng cốt đơn, nòng cốt đơn đầy đủ là một cấu trúc Đ – T (Đề - Thuyết). Câu đơn đặc biệt là “loại câu bao gồm nòng cốt đơn đặc biệt, tức nòng cốt một thành phần” [29; tr.
Loại câu này do một từ, một ngữ tạo nên. Ví dụ: • Ôi! • Buồn quá! Có những trường hợp sử dụng cụ thể sau: 1) Câu đơn đặc biệt xác định trạng thái tồn tại của sự vật: + Thành phần duy nhất của nòng cốt đơn đặc biệt là một động ngữ do tiểu loại động từ tồn tại đảm nhiệm. Ví dụ: • Đang còn tiền. • Có bóng người.
+ Động từ thuộc tiểu loại khác cũng có thể lâm thời biểu thị nghĩa tồn tại và động ngữ do động từ ấy làm chính tố cũng có thể làm thành một nòng cốt đơn đặc biệt. GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 18 SVTH: Trương Phi Yến Câu tỉnh lược và câu đặc biệt trong truyện ngắn Nam Cao Ví dụ: Đã đến hè rồi! 2) Câu đơn đặc biệt biểu thị một sự đánh giá về sự vật. Thành phần duy nhất của nòng cốt thường thuộc từ loại tính từ. Ví dụ: • Giỏi thật! • Mưa rơi.
3) Câu đơn đặc biệt xác định thời gian, nơi chốn, cảnh tượng, sự kiện. Thành phần duy nhất của nòng cốt thuộc từ loại danh từ. Ví dụ: Đằng xa đã hiện ra ánh đèn. Hà Nội! 4) Câu đơn đặc biệt liệt kê sự vật.
Thành phần duy nhất của nòng cốt thuộc từ loại danh từ. Ví dụ: Đám người nhốn nháo lên. Tiếng vỗ tay. Quan điểm của Cao Xuân Hạo Khi xem xét kiểu câu do một từ, ngữ tạo thành mà không có cấu trúc Đ-T, ông gọi đó là câu đặc biệt.
Ông phân biệt “câu một phần chỉ có phần thuyết, phần đề không được thể hiện ở bề mặt, trong khi câu đặc biệt có cấu trúc của một ngữ không thể coi là đề hay thuyết vì nó không biểu thị ở sở thuyết hay sở đề của mệnh đề nào” [11; tr. Theo tác giả, những câu đặc biệt là những câu không phản ánh một mệnh đề, không có cấu trúc Đ-T. Tác giả nêu lên những kiểu câu đặc biệt sau đây: 1) Thán từ: Thán từ là những “từ - câu”, những từ tự nó làm thành một câu trọn vẹn, và không thể kết hợp với bất kì từ nào khác với tư cách là một ngữ đoạn có quan hệ ngữ pháp với từ ấy. Ví dụ: • Ái đau! • Chao ôi! 2) Hô ngữ và ứng ngữ: GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 19 SVTH: Trương Phi Yến Câu tỉnh lược và câu đặc biệt trong truyện ngắn Nam Cao Đó là những tiếng gọi, hoặc không dùng đến tên đối tượng, như Ê!, Hú-u-ù!, Này!, hoặc có dùng đến tên gọi (tên riêng hay danh từ chung) của đối tượng, có hoặc không kèm theo một hô từ như ơi, à, này, ạ, đặt ở phía sau tên gọi, hay một vị từ ngôn hành như thưa, bẩm, báo cáo đặt ở trước tên gọi.
Ví dụ: Anh này! Có thể xếp luôn vào các từ - câu những từ tượng thanh được dùng một mình thành một câu. Ví dụ: - Rắc! – Cái xà đã gãy. 3) Các tiêu đề: Các tiêu đề thường là những danh ngữ, tên riêng hoặc những vị ngữ. Ví dụ: • Tạp chí văn học.
• Hà Nội mới. • Còn lại một mình. Quan điểm của Nguyễn Văn Hiệp Trong quyển Cú pháp tiếng Việt, tác giả cho rằng: “Câu đặc biệt được hiểu là câu không có thành phần theo cấu trúc cú pháp cơ bản” [13; tr. “Câu đặc biệt là câu không thể được phân tích thành chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ…” [13; tr.
Và tác giả phân loại câu đặc biệt như sau: 1) Phân loại theo ngữ nghĩa Nếu phân loại câu đặc biệt theo ngữ nghĩa, có thể nêu ra các loại sau: + Câu bộc lộ tình trạng tâm sinh lí một cách trực tiếp. Ví dụ: Ối giời ơi! + Câu tượng thanh. + Câu giới thiệu cảnh huống. Ví dụ: Chiến tranh.
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 20 SVTH: Trương Phi Yến Câu tỉnh lược và câu đặc biệt trong truyện ngắn Nam Cao + Câu hô gọi. Ví dụ: Tắc xi!