mở đầu (mở thoại), đoạn thoại thân cuộc thoại (thân thoại), đoạn thoại kết thúc (kết thoại). Thông thường, đoạn mở và kết thoại có cấu trúc tương đối ổn định, dễ nhận ra hơn các đoạn thoại tạo nên thân thoại. Đoạn mở thoại thường có tính công thức và đưa đẩy, nhằm mục đích tạo lập quan hệ là cơ bản. Đoạn thân thoại có thể chỉ một đoạn thoại hoặc một số đoạn thoại.
Mỗi một đoạn thoại có sự thống nhất về chủ đề, phạm vi hiện thực. Tuy nhiên, trong một cuộc thoại có nhiều đoạn thoại, thì mỗi đoạn thoại có thể có những chủ đề nhỏ, phản ánh những mặt, những khía cạnh, bình biện khác nhau nhằm làm sáng tỏ chủ đề lớn. Đoạn kết thoại thường là tổng kết cuộc thoại, kết luận về một đề tài kèm theo lời cảm ơn, lời chúc, từ biệt. Nhìn chung, tổ chức của đoạn thoại mở đầu và đoạn thoại kết thúc phần lớn được nghi thức hóa và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: hoàn cảnh giao tiếp, nền văn hóa của dân tộc, mục đích giao tiếp, quan hệ liên nhân cũng như tính chất của cuộc thoại.
Cặp thoại (cặp trao đáp) Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại tối thiểu mà “với chúng, cuộc trao đổi, tức cuộc hội thoại chính thức được tiến hành” [17, tr. Thông thường, một cặp thoại gồm có: một tham thoại có chức năng dẫn nhập (gọi là tham thoại dẫn nhập) và một tham thoại có chức năng hồi đáp (gọi là tham thoại hồi đáp). Chúng làm thành một cặp thoại do hai nhân vật - vai giao tiếp - thực hiện. - Tham thoại dẫn nhập: theo trật tự tuyến tính, đây là tham thoại thứ nhất của cặp thoại.
Tham thoại dẫn nhập do vai nói (chúng tôi ghi là Sp1- Speaker, người nói trước, chủ động) chủ động đưa ra với những hiệu lực ở lời buộc người nghe (chúng tôi ghi là Sp2 - người đáp lại lời trao của Sp1) phải hồi đáp lại bằng hành động ngôn ngữ tương ứng với nó. - Tham thoại hồi đáp: Chức năng hồi đáp là chức năng của một tham thoại hướng vào hiệu lực ở lời của tham thoại dẫn nhập trong cặp thoại. Lan: Chiều ni (nay) đi Cửa Lò nhởi (chơi) đi. Mai: Ok, rủ thêm mấy đứa nựa (nữa) ta đi cho vui hè (nhỉ).
Lượt lời của Lan (Sp1) là tham thoại dẫn nhập có hiệu lực ở lời rủ; lượt lời của Mai (Sp2) là tham thoại hồi đáp đáp lại hành động rủ của Sp1 bằng hành động đồng ý. Nếu tham thoại hồi đáp (nói đầy đủ là hành động chủ hướng của tham thoại có chức năng hồi đáp) thoả mãn được đích của tham thoại dẫn nhập (nói đầy đủ là thoả mãn được đích của hành động chủ hướng trong tham thoại có chức năng dẫn nhập) ta sẽ có hồi đáp tích cực. Ngược lại khi tham thoại hồi đáp đi ngược lại với đích của tham thoại dẫn nhập ta gọi đó là hồi đáp tiêu cực. Căn cứ vào tính chất của tham thoại hồi đáp, chúng ta có thể phân chia cặp thoại ra làm hai nhóm: Cặp thoại tích cực (có chứa tham thoại hồi đáp tích cực) và cặp thoại tiêu cực (có chứa thm thoại hồi đáp tiêu cực).
Sp1: Thông báo với mi (mày) là túi ni (tối nay) đội văn nghệ lớp ta tập nha, 7 giờ, trước sân kí túc xá A1. Tham thoại dẫn nhập trong lượt lời Sp1 nhận được hai hồi đáp, trong đó hồi đáp luan an 17 Sp2(1) là hồi đáp tích cực, còn hồi đáp Sp2(2) là hồi đáp tiêu cực. Cặp thoại Sp1 - Sp2(1) là cặp thoại tích cực còn cặp thoại Sp1- Sp2(2) là cặp thoại tiêu cực. Nếu Sp2 không hồi đáp (bằng lời hoặc cử chỉ đi kèm) ta có cặp thoại hẫng.
Các cặp thoại như đã miêu tả gồm 1 tham thoại dẫn nhập và 1 tham thoại hồi đáp cho nó lập thành cặp kế cận. Đây là cặp thoại thường được sử dụng trong giao tiếp. Tuy nhiên trong thực tế không phải bao giờ một hành động ở lời đưa ra cũng nhận ngay được sự hồi đáp ở người nghe. Tuỳ từng hoàn cảnh giao tiếp, trước khi đưa ra lời hồi đáp người nghe có thể “dẫn dắt” người nói cùng với mình làm rõ một số điều có liên quan đế nội dung nêu ra ở tham thoại dẫn nhập.
Chúng tạo thành các cặp chêm xen. Sp1: Con sang nhà bà Hoà mượn cho bố cái cưa. Sp2: Bà Hoà nào bố? Sp1: Bà Hoà nhà ông Minh ấy. Sp2: Vâng, con đi ngay ạ.
Ở ví dụ trên cặp “Sp2- Bà Hoà nào bố? và Sp1- Bà Hoà nhà ông Minh ấy.” tạo thành cặp chêm xen. Luận án chỉ tập trung tìm hiểu cặp thoại có tham thoại dẫn nhập thông báo và tham thoại hồi đáp đáp lại hành động thông báo tạo thành cặp kế cận. Tham thoại “Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định” [17, tr. Đỗ Hữu Châu cho rằng: “một lượt lời có thể gồm nhiều tham thoại mà cũng có thể nhỏ hơn tham thoại (một tham thoại gồm nhiều lượt lời)” [17, tr.
Ông phân biệt rạch ròi hai khái niệm “lượt lời” và “tham thoại” chứ không đồng nhất như quan điểm của Nguyễn Đức Dân. Như vậy, tham thoại là đơn vị trực tiếp cấu thành cặp thoại. Nếu cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất thì tham thoại là đơn vị đơn thoại. Tham thoại có thể trùng, lớn hơn hoặc nhỏ hơn lượt lời.
Theo lí thuyết của các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ - Pháp, đơn vị nhỏ nhất của hội thoại là hành động ngôn ngữ. Hành động ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất cấu tạo nên tham thoại. Vậy, cấu tạo của tham thoại được hiểu là cách tổ chức, sắp xếp các yếu tố ngôn từ tạo nên một hành động hay chuỗi các hành động tạo lời của nhân vật hướng đến người nghe theo chức năng nhất định. Trong thực tế giao tiếp, một tham thoại không chỉ chứa một hành động ngôn ngữ mà có thể do nhiều hành động ngôn ngữ tạo nên.
Sp1: Chào cậu! Sp2: Chào bác! Bác cho cháu hỏi một tí từ đây xuống Xuân Song có xa nựa (nữa) không bác? Ở ví dụ trên, tham thoại của Sp1 chứa 1 hành động (hành động chào); còn tham thoại đáp của Sp2 chứa 2 hành động (hành động chào + hành động hỏi). Trong tham thoại chứa nhiều hành động sẽ có một hành động nòng cốt hay còn gọi là hành động chủ hướng. Theo trường phái Geneve, một tham thoại có 1 hành động chủ hướng (direction viết tắt là CH) và các hành động phụ thuộc đi kèm (subordination viết tắt là PT). Như vậy, cấu trúc của tham thoại có thể là: CH PT CH CH PT PT CH PT PT PT CH PT Tương tự, khi nghiên cứu cấu tạo của tham thoại, Dương Tuyết Hạnh cho rằng: “Cấu tạo của tham thoại gồm hai thành tố: thành tố mở rộng và thành tố cốt lõi; trong đó, thành tố cốt lõi bao gồm hành động chủ hướng và các hành động phụ thuộc”.
Tác giả cũng đã phân biệt hành động phụ thuộc và hành động mở rộng trong cấu tạo của tham thoại. “Hành động phụ thuộc trong mối liên hệ với hành động chủ hướng là hành động có chức năng củng cố, biện minh, đánh giá, lập luận… nhằm hỗ trợ cho hành động chủ hướng” [53, tr. Còn hành động mở rộng là “hành động thuần tuý ngữ dụng, chủ yếu có chức năng duy trì quan hệ liên cá nhân trong hội thoại” [53, tr. Sp2: Để tau bật cho (CH).
Lượt lời của Sp2 có chức năng hồi đáp vào hành động chủ hướng nhờ vả của Sp1. Có thể thấy, các tác giả khi đề cập đến tham thoại đều nhấn mạnh đến vai trò trụ cột của hành động chủ hướng trong tham thoại, nó là yếu tố “quyết định hướng của tham thoại và quyết định hành vi đáp thích hợp với người đối thoại” [17, tr. luan an 19 Như vậy, khi nghiên cứu tham thoại, người nghiên cứu không chỉ xét nó ở dạng cô lập mà phải đặt nó vào trong sự tương tác hội thoại để có thể hiểu nó một cách đầy đủ và bản chất nhất. Sp1: Len ơi, túi ni (tối nay) Phòng ta tập văn nghệ nha, sắp thi rồi nên tích cực tập cho xong, 7 giờ, trước sân Sở nhé.
Sp2: Dạ chị, túi ni (tối nay) em đưa con đi học em xin phép đến muộn 20 phút nha. Lí thuyết về hành động ngôn ngữ 1. Khái niệm hành động ngôn ngữ Hành động ngôn ngữ là vấn đề được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Nó được khởi xướng bởi nhà triết học - ngôn ngữ học người Anh - J.
Austin; sau đó được J. Searle và một số nhà nghiên cứu khác kế thừa và phát triển. Tư tưởng cơ bản của lý thuyết này là: nói năng là hành động. Austin cho rằng có thể phân chia hoạt động nói năng của con người thành ba loại hành động: hành động tạo lời, hành động ở lời và hành động mượn lời.
- Hành động tạo lời (Locutionary act): Hành động tạo lời là hành động vận động các cơ quan phát âm, sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, vốn từ, quy tắc kết hợp để tạo thành những phát ngôn (đúng về hình thức và cấu trúc) hay những văn bản có thể hiểu được… Nhờ hành động tạo lời, chúng ta hình thành nên các biểu thức đủ nghĩa để trao đổi thông tin, tư tưởng với nhau. - Hành động mượn lời (Perlocutionary act): Hành động mượn lời là hành động mượn phương tiện ngôn ngữ, mượn các phát ngôn để tạo ra sự tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối với người nghe. Với những người nghe khác nhau, ta có hiệu quả lời nói khác nhau. Loại hành động này có đích tác động cụ thể.
Tuy nhiên, nó không gây ra một phản ứng đồng nhất đối với các người nghe khác nhau. - Hành động ở lời (Illocutionary act): Hành động ở lời là hành động mà người nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng là những tác động thuộc ngôn ngữ, nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. Dấu hiệu của hiệu quả ở lời là sự hồi đáp của người nghe khi tiếp nhận hành động ở lời.
Khác với hành động mượn lời, hành động ở lời có ý định hay có đích, quy ước và có thể chế quy ước dù rằng quy ước và thể chế của chúng không hiển ngôn mà luan an 20 quy tắc vận hành của chúng được mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách tự giác. Trong ba loại hành động này thì hành động ở lời chính là đối tượng nghiên cứu của ngữ dụng học.