Tài liệu: Nghiên cứu can thiệp nâng cao kiến thức thực hành an toàn vệ

Nghiên cứu can thiệp nâng cao kiến thức thực hành an toàn vệ sinh lao động, phòng ngừa vấn đề sức khỏe tại Hà Nội giai đoạn 2017-2019.

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sỹ

2021

203
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của Can thiệp nâng cao kiến thức thực hành

Can thiệp nâng cao kiến thức thực hành là một phương pháp can thiệp quan trọng trong lĩnh vực y tế công cộngan toàn vệ sinh lao động. Đây là quá trình áp dụng các biện pháp giáo dục, đào tạo và hướng dẫn để nâng cao nhận thức và kỹ năng thực hành của công nhân, đặc biệt là những lao động trong ngành thu gom chất thải rắn đô thị. Can thiệp này giúp công nhân hiểu rõ hơn về những nguy hiểm tiềm tàng trong công việc, cách bảo vệ sức khỏe và phòng ngừa các bệnh nghề nghiệp. Tầm quan trọng của can thiệp kiến thức thực hành nằm ở khả năng giảm thiểu tai nạn lao động, cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động.

1.1. Định nghĩa can thiệp nâng cao kiến thức

Can thiệp nâng cao kiến thức là những hoạt động giáo dục, đào tạo và tuyên truyền nhằm truyền đạt thông tin, kỹ năng và kinh nghiệm về an toàn vệ sinh lao động cho công nhân. Các can thiệp này được thiết kế dựa trên nhu cầu thực tế, kiến thức hiện tại và hành vi của đối tượng mục tiêu, nhằm tạo ra những thay đổi tích cực trong nhận thức và thực hành.

1.2. Mục đích chính của can thiệp

Mục đích chính là nâng cao kiến thức về an toàn vệ sinh lao động, giúp công nhân hiểu được các nguy hiểm trong công việc, cách sử dụng thiết bị bảo vệ đúng cách, và phòng ngừa các vấn đề sức khỏe thường gặp như rối loạn cơ xương. Qua đó, cải thiện thực hành an toàn lao động và nâng cao sức khỏe tổng thể.

II. Các vấn đề sức khỏe thường gặp ở công nhân thu gom chất thải rắn

Công nhân thu gom chất thải rắn đô thị đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng do điều kiện làm việc khó khăn và tiếp xúc với các yếu tố nguy hiểm. Những vấn đề sức khỏe phổ biến bao gồm các bệnh về hệ thống hô hấp, bệnh da liễu, chấn thương cơ xương, và tiếp xúc với chất độc hại. Ngoài ra, công nhân còn gặp phải stress, mệt mỏi và các vấn đề về sức khỏe tinh thần do tính chất công việc. Rối loạn cơ xương là một trong những vấn đề phổ biến nhất, liên quan đến các hoạt động nâng, vác nặng hàng ngày. Hiểu rõ những vấn đề sức khỏe này là nền tảng để xây dựng các chương trình can thiệp hiệu quả.

2.1. Các bệnh về hô hấp và da liễu

Công nhân thu gom rác thải dễ mắc các bệnh hô hấp do tiếp xúc với bụi, vi sinh vật và hóa chất độc hại. Bệnh da liễu cũng thường gặp do tiếp xúc trực tiếp với chất thải, côn trùng và các vi khuẩn. Cần thực hiện các biện pháp bảo vệ cá nhân như đeo mặt nạ, quần áo bảo vệ để giảm thiểu nguy hiểm.

2.2. Rối loạn cơ xương và chấn thương lao động

Rối loạn cơ xương là hậu quả của các hoạt động nâng, vác nặng liên tục, gấp người không đúng cách. Các chấn thương như lệch đốt sống, thoát vị đĩa đệm, đau lưng mãn tính rất phổ biến. Can thiệp phòng chống rối loạn cơ xương qua giáo dục thực hành đúng cách là cần thiết để bảo vệ sức khỏe lâu dài.

III. Thực trạng kiến thức và thực hành an toàn vệ sinh lao động

Trước khi thực hiện can thiệp nâng cao kiến thức, cần đánh giá thực trạng hiện tại về kiến thức và thực hành an toàn vệ sinh lao động của công nhân. Hầu hết công nhân thu gom chất thải có kiến thức hạn chế về nguy hiểm tiền tàng, cách phòng ngừa bệnh và sử dụng thiết bị bảo vệ cá nhân. Thực hành an toàn còn nhiều hạn chế vì công nhân chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng, thiếu thiết bị bảo vệ hoặc chưa được đào tạo đúng cách. Những khoảng trống này trong kiến thức và thực hành là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Do đó, can thiệp giáo dục là giải pháp hữu hiệu để cải thiện tình trạng này.

3.1. Khoảng cách kiến thức hiện tại

Các nghiên cứu cho thấy công nhân thu gom rác thiếu kiến thức cơ bản về an toàn lao động, nguy hiểm của hóa chất, cách sử dụng thiết bị bảo vệ cá nhân. Khoảng cách kiến thức này tạo ra những hành vi không an toàn, dễ dẫn đến tai nạn và bệnh nghề nghiệp.

3.2. Hạn chế trong thực hành hiện tại

Thực hành không an toàn bao gồm không đeo thiết bị bảo vệ, tư thế làm việc sai, không tuân thủ quy định về vệ sinh lao động. Nguyên nhân là do thiếu nhận thức, thiếu nhu cầi dụng cụ hoặc thiếu giám sát từ nhà quản lý. Can thiệp giáo dục cần kết hợp với cải thiện điều kiện làm việc để hiệu quả.

IV. Chiến lược và phương pháp can thiệp nâng cao kiến thức thực hành

Để nâng cao kiến thức và thực hành hiệu quả, cần xây dựng chiến lược can thiệp toàn diện dựa trên các lý thuyết hành vi sức khỏe. Phương pháp can thiệp bao gồm: giáo dục sức khỏe thông qua hội thảo, đào tạo, tài liệu tuyên truyền; thiết lập quy chuẩn an toàn tại nơi làm việc; hỗ trợ cung cấp thiết bị bảo vệ cá nhân; xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá định kỳ. Giáo dục thực hành đặc biệt quan trọng - công nhân cần học cách nâng vác đúng, tư thế làm việc hợp lý, vệ sinh cá nhân. Can thiệp cần được lặp lại nhiều lần để tạo thói quen lâu dài. Sự tham gia của các bên liên quan - nhà quản lý, chuyên gia y tế - cũng rất cần thiết để đảm bảo hiệu quả và bền vững.

4.1. Phương pháp giáo dục và đào tạo

Giáo dục sức khỏe thông qua các hình thức: hội thảo, lớp đào tạo, tài liệu in, video hướng dẫn. Nội dung tập trung vào an toàn vệ sinh lao động, phòng chống rối loạn cơ xương, sử dụng thiết bị bảo vệ cá nhân đúng cách. Giáo dục thực hành là chủ yếu - công nhân được hướng dẫn và tập luyện trực tiếp các kỹ năng an toàn.

4.2. Giám sát đánh giá và duy trì kết quả can thiệp

Giám sát định kỳ kiến thức và thực hành của công nhân qua kiểm tra, khảo sát. Đánh giá hiệu quả can thiệp bằng so sánh trước-sau, theo dõi tai nạn lao động. Duy trì kết quả qua các buổi tái giáo dục định kỳ, cập nhật kiến thức, khuyến khích tuân thủ các quy định an toàn vệ sinh.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm, thuật ngữ “Công nhân thu gom chất thải đô thị”: là “người thực hiện nhiệm vụ thu gom rác thải đô thị bao gồm quét, thu gom và vận chuyển rác đến nơi tập kết”. “Lượng rác thải thu gom biến động theo thời điểm trong ngày, trong tuần và mùa vụ”. “Môi trường lao động”: là “không gian nơi con người lao động bao gồm các yếu tố môi trường tự nhiên và các yếu tố môi trường phát sinh trong môi trường lao động, có quan hệ mật thiết và ảnh hưởng đến sự phát triển của con người lao động và quá trình lao động, sản xuất”.

“Điều kiện lao động” (ĐKLĐ): là “tổng thể các yếu tố về kinh tế, xã hội, tổ chức, kỹ thuật, tự nhiên thể hiện qua quá trình công nghệ, dụng cụ lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, con người lao động và sự tác động qua lại giữa chúng trong không gian và thời gian nhất định tạo nên những điều kiện cần thiết cho hoạt động của con người trong quá trình sản xuất” .“An toàn lao động”: là “giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động”. “Vệ sinh lao động”: là “giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động”. “Yếu tố tác hại nghề nghiệp”: gồm yếu tố nguy hiểm và yếu tố có hại.“Yếu tố nguy hiểm là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động”. “Yếu tố có hại là yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động”.

“Tâm lý lao động”: là “nhu cầu của công việc về khía cạnh tâm lý, tinh thần và nghiên cứu cách đánh giá khả năng tinh thần của các cá nhân để có thể tuyển chọn thích hợp về phương diện sức khỏe”. “Sinh lý lao động”: là các biến đổi sinh lý của các cơ quan chức năng của cơ thể trong điều kiện lao động. 5 “Ecgônômi” là “lĩnh vực kiến thức, nghiên cứu tổng hợp hoạt động của con người trong mối liên quan với kỹ thuật máy móc và môi trường nhằm mục đích đảm bảo hiệu quả lao động, sức khỏe an toàn và sự thoải mái”. “Bệnh nghề nghiệp” (BNN) là “bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động (NLĐ)”.

“Chất thải” là “vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác. Hay nói cách khác, chất thải là sản phẩm được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, thương mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các hộ gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn”. “Chất thải rắn” (CTR) là “chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”. Theo Bộ Tài nguyên và môi trường, “Có nhiều cách phân loại CTR.

Nếu phân chia theo nguồn gốc phát sinh, có thể chia CTR sinh hoạt đô thị, CTR xây dựng, CTR nông thôn, nông nghiệp và làng nghề, CTR công nghiệp, CTR y tế. Mặt khác, nếu phân chia theo tính chất độc hại của CTR thì chia ra làm 2 loại: CTR nguy hại và CTR thông thường”. Các nguồn phát sinh và hình thức thu gom, phân loại chất thải rắn đô thị 1. Các nguồn phát sinh chất thải rắn đô thị Quá trình phát sinh CTR luôn đi đôi với quá trình sản xuất và sinh hoạt của con người.

Theo Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2011 về chất thải rắn thì các nguồn phát sinh CTR ở đô thị chủ yếu là CTR sinh hoạt chiếm khoảng 60 - 70%, còn lại là các loại CTR khác như CTR công nghiệp, CTR y tế, CTR điện tử…. CTR sinh hoạt phát sinh chủ yếu từ các hộ gia đình, các khu tập thể, chất thải đường phố, chợ, các trung tâm thương mại, văn phòng, các cơ sở nghiên cứu, trường học,. CTR công nghiệp phát sinh từ các cơ sở công nghiệp nằm trong đô thị, hoặc từ các khu công nghiệp. CTR y tế phát sinh từ các bệnh viện, các cơ sở khám chữa bệnh, … Trong đó tỷ trọng nguồn phát sinh rác từ các hộ dân chiếm 57,91%, rác đường phố chiếm 14,29%, rác công sở chiếm 2,8%, rác chợ chiếm 13%, rác thương nghiệp chiếm 12%.

6 Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Nông, “mỗi nguồn thải khác nhau lại có thành phần chất thải khác nhau như: Khu dân cư và thương mại có thành phần chất thải đặc trưng là chất thải thực phẩm, giấy, carton, nhựa, vải, cao su, rác vườn, gỗ, nhôm.; Chất thải từ dịch vụ như rửa đường và hẻm phố chứa bụi, rác, xác động vật, xe máy hỏng, can sữa, nhựa hỗn hợp. Theo Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2011, “thành phần chủ yếu trong CTR đô thị là chất hữu cơ (rác thực phẩm), chiếm tỷ lệ khá cao từ 60 - 75% trên tổng khối lượng chất thải. Các hình thức thu gom và phân loại chất thải rắn đô thị 1. Trên thế giới Trên thế giới, các nước phát triển đã hoàn thiện và đưa vào hoạt động rất hiệu quả hệ thống phân loại, thu gom rác thải và các chính sách về chi phí đi kèm.

Thu gom rác thải sinh hoạt là nhiệm vụ cần nhiều nhân công và có chi phí cao. Quy trình thu gom thường được thực hiệnbằng xe tải, một công nhân điều khiển xe và 2 - 3 công nhân thu gom rác thải trên các tuyến phố và các hộ gia đình. Tại một số quốc gia, rác được phân loại ngay tại nguồn nhằm tạo điều kiện cho việc tái chế và xử lý rác thải thuận lợi hơn. Tại Nhật Bản, các hộ gia đình đã phân loại chất thải thành 3 loại riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc khác nhau theo quy định (rác hữu cơ, rác vô cơ và rác kim loại) sau đó sẽ được tập hợp tại trạm thu gom, trung chuyển bằng các xe tải chở rác cỡ nhỏ để chuyển sang xe chuyên chở lớn và được vận chuyển đến nơi xử lý.

Tại Mỹ, việc tham gia và tuân thủ phân loại rác thải tại nguồn không cao do đây chỉ là quy ước của một số nhóm dân cư. Xe tải đi qua các con phố để thu gom rác. Mỗi xe thu gom có 1 nhóm công nhân làm nhiệm vụ gom rác từ các thùng đựng rác được cấp sẵn hoặc đặt bên lề đườnghoặc tại các địa điểm quy định. Singapore là đất nước đô thị hóa 100% và là đô thị sạch nhất trên thế giới.

Để có được kết quả như vậy, bên cạnh việc đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý, Singapore đã hoàn thiện xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắc cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn. Hai thành phần chính tham gia vào thu gom và xử lý các rác thải sinh hoạt ở Singapore là các hộ dân và các công ty tư nhân. Tất cả các công ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát trực tiếp của Sở 7 Khoa học công nghệ và môi trường. Các hộ dân được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác đến khu vực tập kết của khu dân cư hoặc các công ty.

Tại Việt Nam Tại Việt Nam, việc thu gom và phân loại CTRĐT có các hình thức sau: Thu gom tại nhà: Hình thức này chỉ được áp dụng cho loại chất thải sinh hoạt hộ gia đình. Công nhân thu gom rác đi đến từng hộ, dọc các đường phố lớn, khu tập thể và mang những thùng rác, túi rác từ mỗi hộ gia đình ra đổ vào xe thu gom của mình và trả lại thùng cho gia đình. Hệ thống thu gom này mất nhiều thời gian và chi phí lao động cao. Hình thức thu gom này được tóm tắt trong hình sau: CTR từ các hộ Xe thu gom Xe vận Khu xử lý gia đình thủ công chuyển cơ giới CTR tập trung Hình 1.

Sơ đồ thu gom chất thải tại nhà Thu gom theo khối: Xe cơ giới thu gom CTRĐT chạy theo lịch đã được đặt ra từ trước, có thể hàng ngày hoặc vài ba ngày/lần, tuỳ theo khối lượng CTR phát sinh. Các xe thu gom cơ giới dừng tại những điểm quy định và rung chuông. Các hộ gia đình, cơ quan,. ở các khu phố xung quanh đó mang túi rác đến đổ vào xe.

Hình thức thu gom này được tóm tắt trong hình sau: Khu xử lý CTR CTR từ các hộ tập trung Xe thu gom cơ giới gia đình Thùng rác Xe vận chuyển tập trung Hình 1. Sơ đồ thu gom chất thải theo khối Thu gom bên lề đường Các hộ gia đình đặt các túi rác đã buộc kín trước của nhà hoặc cổng trước thời gian quy định. Xe thu gom cơ giới đến thu gom theo lịch đã định, tuỳ theo khối lượng CTR để thu gom tất cả các túi rác trong địa bàn. 8 Tại các con phố chật hẹp, quanh co, ngõ, ngách, xe thu gom cơ giới loại nhỏ khó hoạt động, các hộ gia đình, các cơ sở kinh doanh sẽ tập kết các túi rác ra một địa điểm đã được quy định trong khoảng thời gian nhất dịnh.

Tại điểm này, có một xe cơ giới chờ sẵn để thu gom. Đây này còn gọi là điểm tập kết rác lưu động. Điều kiện lao động của công nhân thu gom chất thải rắn đô thị 1. Các yếu tố có hại trong môi trường lao động Do tính chất của công việc, công nhân TGCTRĐT phải làm việc ngoài trời nên chịu ảnh hưởng trực tiếp khí hậu tự nhiên.

Theo số liệu khí tượng thì ở miền Bắc Việt Nam, hàng năm trung bình có khoảng 60-70 ngày không khí lạnh dưới 20°C chiếm khoảng 16%-18% thời gian trong năm, vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) từ 1-5°C, khoảng 65-75 ngày không khí nóng từ 32°C -37°C và trên 37°C chiếm khoảng 17-19% thời gian trong năm (vượt TCCP từ 2°C -7°C)”. Như vậy, hàng năm công nhân TGCTRĐT ở Hà Nội phải làm việc trong điều kiện nhiệt độ vượt TCCP khoảng 33%-37% thời gian trong năm, chưa kể đến những đợt Gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ xuống 5°C -10°C hay mưa bão, công nhân vẫn phải làm việc đến 1-2 giờ sáng hôm sau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ