MỞ ĐẦU Chăn nuôi gà đẻ trứng có vai trò rất quan trọng trong ngành sản xuất nông nghiệp, cung cấp thực phẩm, tạo ra việc làm và lợi nhuận cho người nuôi. Trong trứng gà có một lượng lớn vitamin A, D, E, B1, B6, B12, … Ngoài ra, còn phải kể đến canxi, mangiê, sắt, kẽm, protein; lòng đỏ trứng gà có 13,6% đạm, 29,8% béo và 1,6% chất khoáng. Theo công bố của Tạp chí chăn nuôi, năm 2018, Việt Nam sản xuất trên 11,6 tỷ quả trứng, trong đó trứng gà chiếm 60%; trứng gà công nghiệp chiếm 63,8% tổng số trứng gà. Thị trường trứng gà trong năm 2019 có nhiều biến động; điều này, đòi hỏi các nhà chăn nuôi cần có nhiều hơn kiến thức về thị trường và khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi, hạ giá thành, giảm chi phí; giúp vượt qua giai đoạn khó khăn, hướng tới chăn nuôi an toàn, bền vững và hiệu quả.
Trong chăn nuôi truyền thống, việc đảm bảo sức khỏe vật nuôi và phòng chống bệnh phụ thuộc rất nhiều vào liệu pháp kháng sinh. Càng phát triển theo hướng chăn nuôi quy mô công nghiệp, thì các nhà chăn nuôi lại càng lệ thuộc vào kháng sinh như một yếu tố kích thích sinh trưởng, phòng bệnh và nâng cao sức khỏe cho vật nuôi. Tuy nhiên, việc lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi dẫn đến dư thừa lượng kháng sinh trong thịt và trứng của vật nuôi cũng làm giảm giá trị của các sản phẩm chăn nuôi, khó thâm nhập vào thị trường xuất khẩu. Trước tình hình đó, thế giới đang dần từng bước hạn chế tiến tới cấm hoàn toàn việc sử dụng kháng sinh bổ sung trong thức ăn chăn nuôi.
Ngày 01/01/2006 EU cấm hoàn toàn việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi. Tại Việt Nam, để phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về sản xuất thức ăn chăn nuôi, ngày 04/09/2014 Bộ NN và PTNT đã ban hành quyết định số 28/2014/QĐ/BNN về việc cấm nhập khẩu và sản xuất 24 loại kháng sinh trong nhập khẩu và sản xuất thức ăn chăn nuôi. Giải pháp an toàn, hiệu quả thay thế cho kháng sinh đó là sử dụng các sản phẩm vi sinh. Các yếu tố về dinh dưỡng trong khẩu phần ăn và môi trường trong chuồng nuôi như nhiệt độ, độ ẩm, độ thông thoáng là những yếu tố trực tiếp ảnh hưởng lên năng suất sinh sản, sức khỏe của gà và sản lượng trứng.
Các khí thải tích tụ lại trong chuồng có thể làm ô nhiễm và gây độc cho gà, công nhân và môi trường xung quanh nếu như công tác xử lý chất thải không được chú trọng. Chất lượng không khí kém có thể làm giảm sức đề kháng, tăng sự mẫn cảm của gà với vi sinh vật như Escherichia coli, cầu trùng và các mầm 2 bệnh khác. Trong đó, amonia là loại khí độc phổ biến trong chuồng nuôi, nồng độ NH3 lớn hơn 20 ppm có thể gây bệnh đường hô hấp cho gà. Nồng độ NH3 tăng khi mật độ đàn cao, thức ăn nhiều protein, lượng phân tích tụ trong chuồng nhiều và hệ thống thông thoáng kém.
Trong những thập kỷ gần đây, xu hướng chuyển đổi sang chăn nuôi gà quy mô công nghiệp đang dần thay thế quy mô nhỏ lẻ nông hộ. Với quy mô chuồng nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng bán tự động dần được đưa vào thay thế chuồng nuôi nền truyền thống. Việc chuyển đổi sang các hệ thống trang trại chăn nuôi chuyên môn hóa cao, giúp tăng lợi nhuận cũng như giảm chi phí trong chăn nuôi. Tuy nhiên, khi lượng vật nuôi tăng cao vấn nạn về chất thải chăn nuôi và chất lượng của sản phẩm chăn nuôi lại là một thách thức lớn đặt ra đối với các nhà chăn nuôi.
Sự ô nhiễm môi trường do các chất thải chăn nuôi đã làm ảnh hưởng trực tiếp tới hệ sinh thái, chuỗi thức ăn và sức khỏe con người cũng như sức khỏe vật nuôi dẫn đến các sản phẩm chăn nuôi có chất lượng kém. Vì vậy, ứng dụng bộ chế phẩm probiotic trong chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm là cần thiết và đáp ứng được xu thế chung. Nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường chăn nuôi, công ty TNHH Dược Hanvet đã cho ra đời sản phẩm Elac-Grow bổ sung thức ăn (synbiotic) bổ sung thức ăn và Han-Proway (probiotic) dùng để xử lý mùi hôi chuồng trại giúp cải thiện thể trạng và môi trường sống của vật nuôi. Nhận thấy, trên thị trường các sản phẩm sinh học dành riêng cho đối tượng gà đẻ trứng không nhiều mặc dù đây là đối tượng có tiềm năng thị trường lớn.
Sau một thời gian nghiên cứu và lưu hành trên thị trường, với mong muốn định hướng kết hợp hai sản phẩm để xây dựng bộ sản phẩm dành riêng cho đối tượng gà đẻ trứng thương phẩm chúng tôi dự kiến cải tiến hai sản phẩm đã thương mại hóa này đề phù hợp hơn với đối tượng sử dụng là gà đẻ trứng thương phẩm. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, chủng vi khuẩn Bacillus indicus là nhóm vi khuẩn có khả năng sản sinh sắc tố carotenoid, giúp tăng khả năng tổng hợp carotenoid tự nhiên trong đường ruột gà, từ đó tăng cường màu sắc lòng đỏ trứng (tăng cường chất lượng trứng), cũng như cải thiện chất lượng thịt gà. Ngoài ra, nhóm nấm men Saccharomyces cerevisiae cũng được nhiều nghiên cứu đề cập đến khả năng giúp cải thiện sức khỏe đường ruột và đặc biệt tế bào nấm men có hàm lượng dinh dưỡng cao, là nhân tố phù hợp để bổ sung vào các sản phẩm cho ăn. Nhóm vi khuẩn Bacillus subtilis là nhóm vi khuẩn được biết 3 đến với khả năng sinh trưởng mạnh ở nhiều điều kiện môi trường khác nhau và có khả năng sản sinh ra các enzyme ngoại bào giúp phân hủy các chất hữu cơ dư thừa trong môi trường chăn nuôi.
Để phù hợp với mục đích này, tôi xây dựng đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu cải tiến bộ chế phẩm vi sinh ELAC- GROW và HAN-PROWAY nhằm ứng dụng trong chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm.’’ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Nghiên cứu cải tiến công thức sản phẩm Elac-Grow giúp tăng sản lượng và chất lượng trứng. - Nghiên cứu cải tiến công thức Han-Proway giúp xử lý chất thải chuồng nuôi. - Đánh giá hiệu quả sử dụng bộ sản phẩm cải tiến Elac-Grow và Han- Proway trên quy mô trang trại. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU - Nghiên cứu một số điều kiện tối ưu để sản xuất nguyên liệu B.
- Xây dựng công thức cải tiến Elac-Grow và Han-Proway. - Đánh giá và theo dõi nhiệt độ, độ ẩm, khí thải trong chuồng nuôi sử dụng chế phẩm. - Theo dõi, đánh giá sản lượng và chất lượng trứng gà. - Phân tích biến động của vi sinh vật trong mẫu phân tươi và lớp phân chuồng.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Ngành chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm trên thế giới Theo thống kê của Shahbandeh trên trang statista.com ngày 5 tháng 2 năm 2021 về số lượng gà toàn cầu 1990-2019, số lượng gà trên toàn thế giới năm 2019 đã tăng hơn gấp đôi kể từ năm 1990 (Hình 1. Năm 2019, có khoảng 25,9 tỷ con gà trên thế giới tăng 14,38 tỷ con so với thống kê của năm 2000. - Đối với chăn nuôi gà đẻ trứng: thống kê năm 2019 cho thấy Trung Quốc có số lượng sản xuất trứng cao nhất với 661 tỷ quả, đứng thứ hai là Hoa Kỳ với sản lượng trứng chỉ đạt khoảng 113 tỷ quả.
- Đối với chăn nuôi gà thịt: Trong vài năm gần đây, thịt gia cầm đã vượt qua thịt lợn để trở thành loại thịt được sản xuất nhiều nhất trên toàn thế giới. Hoa Kỳ là quốc gia có sản lượng chăn nuôi gà thịt cao nhất khoảng 20,5 triệu tấn vào năm 2020. Trung Quốc và Brazil đứng thứ hai và thứ ba về sản lượng chăn nuôi gà thịt, lần lượt là 15 triệu và 13,7 triệu tấn. 1 Thống kê số lượng gà toàn cầu năm 1990 đến năm 2019 [1] Theo dự báo của FAO, mức tiêu thụ trứng toàn cầu sẽ tăng từ 6,5 kg/người/năm trong năm 2000 lên 8,9 kg (khoảng 148 quả) /người/năm vào năm 2030 tại các nước đang phát triển.
Ở các nước công nghiệp, tiêu thụ trứng được dự báo sẽ tăng từ 13,5 kg (khoảng 225 quả)/người/năm vào năm 2020 lên 14,8 kg (khoảng 247 quả)/người/năm vào năm 2030. Hơn 67% mức tiêu thụ trứng toàn cầu thuộc về các nước châu Á. Ở Trung Quốc, nơi tiêu thụ trứng cao hơn gấp đôi mức trung bình của các nước đang phát triển, mức tăng 5 tiêu thụ từ 15 kg/người/năm (250 quả) trong năm 2000 lên 20 kg (333 quả)/người/năm vào năm 2030 [2]. Thực trạng chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm ở Việt Nam Việt Nam là nước nông nghiệp với 70% dân số sống ở nông thôn.
Chín mươi phần trăm trong số hộ gia đình (khoảng 8 triệu hộ gia đình) chăn nuôi gia cầm. Như vậy, chăn nuôi gia cầm đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế hộ gia đình bằng cách đóng góp 19% thu nhập cho hộ gia đình, xếp thứ hai sau chăn nuôi lợn. Theo số liệu từ điều tra chăn nuôi của Tổng cục Thống kê ngày 1/1/2021, tổng đàn gà của Việt Nam năm 2021 có hơn 409 triệu con, tăng 7,03% so với năm 2020. Trong đó, đàn gà thịt có mức tăng tốt hơn so với gà lấy trứng (mức tăng của gà lấy thịt là 7,29%, còn lại là gà lấy trứng 5,99%).
Năm 2021, số lượng gà đẻ trứng là 81,688 triệu con, tăng 4,618 so với thống kê cùng kỳ năm 2020. Số lượng trứng gà năm 2021 đạt trên 11 tỷ quả trứng, tăng hơn 9,4% so với thống kê tháng 1 năm 2020. Thống kê chăn nuôi gà ngày 01/01/2021 của tổng cục thống kê (04/2021) Tăng, giảm So sánh (%) Đơn 1.2021 1/1/2020 1/1/2021 vị tính với với 1.2020 Số lượng gà 1000 con 382,597 409,500 26,903 107.03 Gà thịt 1000 con 305,527 327,812 22,285 107.29 Trong đó gà công nghiệp 1000 con 71,420 75,602 4,182 105.85 Gà đẻ trứng 1000 con 77,070 81,688 4,618 105.99 Trong đó gà công nghiệp 1000 con 32,041 34,083 2,042 106.37 Số trứng gà 1000 quả 10,118,872 11,070,205 951,333 109.40 Trong đó gà công nghiệp 1000 quả 6,024,813 6,592,989 568,176 109. Thách thức của ngành chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm tại Việt Nam Trứng gà là sản phẩm phổ biến và tiện lợi trong cách nấu nướng, cũng như có giá trị dinh dưỡng cao, do đó nhu cầu sử dụng trứng gà ngày càng tăng.
Đặc biệt, trứng gà dễ chế biến, được bảo quản tốt hơn các sản phẩm làm từ động vật khác như sữa bò, dễ vận chuyển và đa dạng về ứng dụng sản phẩm, do đó có nhu cầu tiêu thụ cao. Theo thống kê của Bộ NN&PTNT năm 2016, tính bình quân đầu người tiêu thụ trứng ở Việt Nam là 89 quả trứng/ 6 người, tăng 21 quả trứng so với năm 2013.