chương 1 trình bày về tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Với định hướng trên, và kết hợp với tình hình thực hiện các dự án do Sở Xây dựng Long An làm chủ đầu tư giai đoạn 2010-2014, học viên sẽ chọn lọc cơ sở lý thuyết và các bài nghiên cứu trước để trình bày tiếp trong chương 2. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chương 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Khung khái niệm 2.
Dự án đầu tư “Dự án là nỗ lực của con người, (hoặc máy móc), nguồn lực tài chính và vật chất được tổ chức theo một cách mới để tiến hành một công việc đặc thù với đặc điểm kỹ thuật cho trước, trong điều kiện ràng buột về thời gian và chi phí để đưa ra một thay đổi có ích được xác định bởi mục tiêu định tính và định lượng” (Tunner, 1996). Viện quản lý dự án (PMI) định nghĩa: “Dự án là một nổ lực tạm thời để tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ đặc thù. Trong đó, “Tạm thời” có nghĩa là mỗi một dự án có một kết thúc xác định và “Đặc thù” có nghĩa là sản phẩm, dịch vụ đó khác biệt ở một cách khác so với tất cả sản phẩm hoặc dịch vụ cùng loại (PMI, 2000) Luật Xây dựng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18 tháng 06 năm 2014 xác định: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời gian và chi phí xác định”. Trong báo cáo luận văn này, khái niệm dự án đầu tư được hiểu như quy định của Luật Xây dựng năm 2014 do đã bao gồm ý nghĩa của các nghiên cứu trước đó và là chuẩn mực bắt buột mà các bên liên quan đến thực hiện dự án đầu tư công tại Việt Nam phải tuân thủ 2.2 Đặc điểm dự án đầu tư công Dự án đầu tư công là những dự án do Chính phủ tài trợ (cấp vốn) toán bộ hay một phần hoặc do dân chúng tự nguyện đóng góp bằng tiền hay bằng ngày công nhằm đáp ứng mọi nhu cầu mang tính cộng đồng.
Nếu mở rộng hơn nữa, dự án công còn bao gồm những dự án mà chính phủ hoặc chính quyền địa phương đề xuất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 kêu gọi tài trợ quốc tế. Dự án do một đơn vị kinh doanh thực hiện cũng được xem là dự án công nếu nó hướng đến việc nâng cao phúc lợi công cộng. Như vậy nhận diện tính chất công của một dự án ở mục đích của nó - hướng đến việc tạo ra những lợi ích cộng đồng. Có thể khái quát mô hình về mối quan hệ giữa chính sách chương trình và dự án công như sau: Hình 2.1 Mô hình về mối quan hệ giữa chính sách chương trình và dự án công Chính sách, chiến lược phát triển quốc gia và vùng lãnh thổ Chương Chương trình quốc Chương trình quốc gia.
trình quốc gia. Dự Dự Dự Dự Dự Dự Dự Dự án án án án án án án án (Nguồn: Nguyễn Hồng Thắng và Nguyễn Thị Huyền, 2010) Ngoài sự khác biệt về mục đích và mục tiêu của dự án như đã nêu trên, ở nước ta dự án đầu tư công còn có những khác biệt so với dự án khu vực tư như sau: - Về chủ đầu tư: Luật đầu tư công quy định, chủ đầu tư là cơ quan, tổ chức được giao quản lý dự án đầu tư công. Do đó, có rất nhiều chủ thể khác nhau được giao làm chủ đầu tư dự án đầu tư công. Ngoài các ban quản lý dự án chuyên ngành, còn có các cơ quan hành chánh, cơ quan sự nghiệp tiếp nhận, quản lý tài sản sau đầu tư được giao làm chủ đầu tư, chẳng hạn như Sở Y tế Long An làm chủ đầu tư Bệnh viện đa khoa Long An,….
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Về kế hoạch, nguồn vốn: chủ đầu tư chỉ được nhà nước giao vốn theo kế hoạch hằng năm phụ thuộc vào dự toán ngân sách dành cho đầu tư hàng năm của tỉnh Long An. Trong khi đó đối với dự án tư thì nguồn vốn của dự án được xác định rõ rang, cụ thể ngay từ đầu và thường không bị giới hạn giải ngân theo năm. - Về thẩm quyền của chủ đầu tư: thẩm quyền của chủ đầu tư dự án công bị giới hạn hơn so với thẩm quyền của chủ đầu tư dự án tư nhân. Trong quá trình triển khai thực hiện dự án, chủ đầu tư dự án đầu tư công phải xin ý kiến thẩm định từ các cơ quan chuyên môn của tỉnh như: Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Tài chính, Sở giáo dục,….; xin ý kiến của cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư (thường là UBND tỉnh).
Còn chủ đầu tư dự án tư nhân thì tự mình quyết định trên cơ sở kết quả do đơn vị tư vấn (thiết kế, thẩm tra, quản lý,.) cung cấp - Về khung pháp lý: chủ đầu tư dự án đầu tư công phải tuân thủ nghiêm ngặt hàng loạt các quy định của Luật Ngân sách, Luật Xây dựng, Luật đầu tư công, Luật Đấu thầu. Trong khi chủ đầu tư dự án khu vực tư nhân chỉ phải tuân thủ một số điều của Luật Xây dựng liên quan đến quy hoạch và cấp phép xây dựng. - Về chi phí đầu tư: chi phí đầu tư dự án đầu tư công phải được xác định theo đúng các quy định do Bộ Xây dựng ban hành. Trong khi chủ đầu tư dự án khu vực tư nhân có toàn quyền xác định chi phí đầu tư phù hợp với thực tế phát sinh và đảm bảo hiệu quả đầu tư của dự án.
Chu trình và lý thuyết về quản lý dự án “Quản lý dự án là một quá trình kết nối các công tác, nhiệm vụ (đặc biệt là sử dụng những phương pháp quản lý dự án mang tính kỹ thuật) thông qua từng giai đoạn hoạt động của dự án (từ khi còn là ý tưởng cho đến khi chuyển giao) để đạt được mục đích của dự án” (Morris, 1994) PMI (2000) định nghĩa: “Quản lý dự án là việc áp dụng kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động của dự án để đáp ứng yêu cầu của dự án” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Hình 2.2 Chu trình quản lý dự án Lập kế hoạch - thiết lập mục tiêu - điều tra nguồn lực - xây dựng kế hoạch Giám sát Điều phối thực hiện - đo lường kết quả - điều phối tiến độ thời gian - so sánh với mục tiêu - phân phối các nguồn lực - báo cáo - phối hợp các nỗ lực - giải quyết các vấn đề - khuyến khích và động viên (Nguồn: Bùi Ngọc Toàn, 2008) Bùi Ngọc Toàn (2008) định nghĩa: “Chu trình quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, dịch vụ bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép” Lập kế hoạch: bao gồm việc xây dựng mục tiêu, xác định những công việc cần được hoàn thành, nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển kế hoạch hành động theo một trình tự logic nhất định. Điều phối thực hiện dự án: đây là quá trình phân phối các nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, máy móc thiết bị và đặc biệt là điều phối và quản lý tiến độ thời gian. Giám sát: là quá trình theo dõi, kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình hoàn thành, giải quyết những vấn đề liên quan và thực hiện báo cáo hiện trạng. Mục tiêu cơ bản của chu trình quản lý dự án nhằm làm cho các công việc phải được hoàn thành theo yêu cầu, đảm bảo chất lượng, trong phạm vi chí phí được duyệt và đúng thời gian đã được đề ra, trong đó ba yếu tố: thời gian, chi phí và chất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 lượng là những mục tiêu cơ bản và giữa chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo sơ đồ dưới đây Hình 2.3 Mô hình về mối liên hệ giữa các thành tố trong quản lý dự án Chất lượng Mục tiêu Chi Thời phí gian 2.
Lý thuyết về mối quan hệ giữa thời gian và chi phí thực hiện dự án Mặc dù sự thành công của một dự án bao gồm nhiều yếu tố, nhưng thời gian hoàn thành của dự án vẫn thường được coi là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của dự án và hiệu quả hoạt động của tổ chức thực hiện dự án. Theo đó, dự án được hoàn thành kịp thời là một trong những mục tiêu không những của khách hàng/chủ đầu tư mà còn của nhà thầu bởi vì mỗi bên sẽ phải chịu thêm gánh nặng chi phí và mất đi doanh thu tiềm năng một khi dự án hoàn thành chậm (Thomas và cộng sự, 1995). Một dự án thường được coi là thành công nếu nó được hoàn thành đúng hạn, trong phạm vi ngân sách và đảm bảo về chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật, an toàn lao động và vệ sinh môi trường Dự đoán được thời gian và chi phí thực hiện dự án luôn được các nhà nghiên cứu và quản lý dự án quan tâm, bởi đó là ưu tiên hàng đầu trong việc quản lý thực hiện dự án theo hiệu quả thời gian. Bromilow (1969) đã tiên phong thiết lập một mô hình thể hiện mối quan hệ giữa thời gian và chi phí dựa trên việc khảo sát của 329 dự án xây dựng tại các thành phố lớn của Úc (bao gồm Canberra, Melbourne và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Sydney), từ đó phát triển thành mô hình dự báo thời gian xây dựng dựa trên chi phí của dự án: T = K.CB, trong đó: T: Thời gian xây dựng tính bằng ngày làm việc kể từ ngày nhận bàn giao mặt bằng đến ngày hoàn thành thực tế.