Chương 1, tác giả đã giới thiệu tổng quan về dé tài nghiên cứu. Chương 2, tác giả trình bày những nội dung cơ bản về lý thuyết liên quan đến các khái niệm để làm nên tảng cho nghiên cứu này, bao gồm các khái niệm như: dự án, dự án xây dựng sử dụng nguồn vốn Nhà nước, chủ đầu tư xây dựng công trình, nhà thầu trong hoạt động xây dựng, tư vẫn xây dựng, từ đó xây dựng mô hình phục vụ cho việc nghiên cứu va đặt ra các giả thuyét nghiên cứu.2 CÁC KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA 2.1 Dự án Dự án (DA) là một nhóm các công việc được thực hiện theo một quy trình nhất định để đạt được mục tiêu để ra, có thời diém bat đầu và kết thúc được an định trước, và sử dụng tài nguyên có giới hạn. Dự án xây dựng là tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng, hay cải tạo những công trình xây dựng. Một dự án nói chung hay một dự án xây dựng nói riêng bao gồm ba thành tố: quy mô, kinh phí và thời gian [2].
Dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau được thực hiện trong một khoảng thời gian có hạn, với những nguồn lực đã được giới hạn; nhất là nguồn tài chính có giới hạn dé đạt được những mục tiêu cụ thể, rõ ràng, làm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng mà dự án hướng đến.2 Dự án xây dựng sử dung nguôn vốn Nhà nước [3] Bao gồm: - Dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước. - Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. - Dự án sử dụng vốn đầu tu phát triển của doanh nghiệp Nhà nước.3 Chú đầu tư xây dựng công trình [3] Chủ đầu tư xây dựng công trình là người sở hữu vốn hoặc người được giao quản lý và sử dung vốn đầu tư xây dựng công trình bao gồm: a) Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước thì chủ đầu tư xây dựng công trình do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với quy định của Luật ngân sách Nhà nước. - Đối với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư, chủ đầu tư là một trong các cơ quan, tô chức sau: Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, co quan khác ở Trung ương (gọi chung là cơ quan cấp Bộ), Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và doanh nghiệp Nhà nước.
- Đối với dự án do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư, chủ đầu tư là đơn vị quản lý sử dụng công trình. Trường hợp chưa xác định được đơn vi quản lý, su dụng công trình hoặc đơn vi quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì người quyết định đầu tư có thể giao cho đơn vị đủ điều kiện làm chủ đầu tư. Trong trường hợp đơn vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì đơn vị quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm cử người tham gia với chủ đầu tư trong việc tổ chức lập dự án, thiết kế, theo dõi, quan lý, nghiệm thu, tiếp nhận đưa công trình vao khai thác sử dụng. - Trường hợp không xác định được chủ đầu tư theo quy định tại điểm b ở trên thì người quyết định đầu tư có thể ủy thác cho đơn vị khác có đủ điều kiện làm chủ đầu tư hoặc đồng thời làm chủ đầu tư.
b) Đối với các dự án sử dụng vốn tín dụng, người vay vốn là chủ đầu tư. c) Đối với các dự án sử dụng vốn khác, chủ đầu tư là chủ sở hữu vốn hoặc là người đại diện theo quy định của pháp luật.4 Nhà thâu trong hoạt động xây dựng [4] Nhà thầu trong hoạt động xây dựng là tô chức, cá nhân có đủ năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động xây dựng. Tổng thầu xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng trực tiếp với chủ đầu tư xây dựng công trình để nhận thầu toàn bộ một loại công việc hoặc toàn bộ công việc của dự án đầu tư xây dựng công trình. Tổng thầu xây dựng bao gém các hình thức chủ yếu sau: tong thầu thiết kế; tong thầu thi công xây dựng công trình; tong thầu thiết kế và thi công xây dựng công trình; tổng thầu thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình; tổng thầu lập dự án đầu tư xây dựng công trình, thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình.
Nhà thầu chính trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng nhận thầu trực tiếp với chủ đầu tư xây dựng công trình để thực hiện phan viéc chinh cua mot loại công việc của du án đầu tư xây dựng công trình. Nhà thầu phụ trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng với nhà thầu chính hoặc tong thau xay dung dé thực hiện một phan công việc của nha thầu chính hoặc tong thầu xây dung.5 Tư vẫn xây dựng [wikipedia] Tư vấn xây dựng là một loại hình tư vẫn đa dạng trong công nghiệp xây dựng, kiến trúc, quy hoạch đô thi và nông thôn. có quan hệ chat chẽ với tu van đầu tu, thực hiện phan viéc tu van tiép nối sau việc của tu van đầu tư. Tư van xây dựng giúp cho khách hàng - chủ dau tư xây dựng - tô chức việc khảo sát xây dung, thiết kế xây dựng và tổ chức đấu thầu để mua sam thiết bị đầu tư, dau thầu xây lắp công trình, giám sát thi công xây dựng, nghiệm thu công việc đã hoàn thành.
Thông thường, đối với các dự án công trình hạ tầng kỹ thuật, chỉ có một công ty tư van đầu tư và xây dựng đảm nhiệm công việc từ đầu đến cuối. Kỹ sư tư van xây dựng là người có đủ trình độ, chuyên môn dé thực hiện công tác tư vẫn xây dựng. Ở Việt Nam, dé được hành nghề kỹ sư tư vẫn xây dựng cần phải có chứng chỉ hành nghề, phải có tối thiểu 5 năm hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và số lượng công trình đã tham gia phải đủ lớn. Tổ chức tư vẫn xây dựng là những đơn vị chuyên ngành, hoạt động độc lập về mặt pháp lý và phục vụ khách hang theo hợp đồng.
Ở các nước trên thé giới, các tổ chức này phan lớn thuộc Hiệp hội tư van xây dựng.3 SƠ LƯỢC MOT VAI NGHIÊN CỨU TRƯỚC DAY 2.1 Các nghiên cứu trên thế giới Al Barak AA [5] nghiên cứu về những nguyên nhân thất bại của nhà thầu tại A Rập Saudi. Nghiên cứu tập trung khảo sát các nhà thầu thi công xây dựng các công trình nha cao tang và đường cao tốc ở A Rap Saudi (68 nhà thầu) dé tìm ra các nguyên nhân thất bại (34 nguyên nhân) nhằm tiến hành nhận biết và phân tích các nguyên nhân trên, đo lường được mức độ quan trọng của các nguyên nhân. Nghiên cứu đã tìm ra được những nguyên nhân chủ yếu gây ra thất bại của nhà thầu như: thiếu kinh nghiệm, đánh giá chi phí thực tế không day du, sự lỏng lẻo khi tham gia vào lĩnh vực xây dựng (ai cũng có thể trở thành nhà thầu), ảnh hưởng của thị trường kinh tế và thiếu tài chính trong thời gian trước đó, chậm trễ trong chỉ trả, khả năng sản xuất và cải tiễn công việc,. AI Ghafly MA [6] nghiên cứu về những nguyên nhân chậm ché trong xây dựng của các dự án dịch vụ công cộng tại A Rap Saudi.
Dữ liệu nghiên cứu được khảo sát trên 23 nhà thầu, 12 tư van va 10 người có thâm quyền quyết định đầu tư vào các dự án cấp thoát nước công cộng có quy mô vừa va lớn tại tỉnh phía đông A Rap Saudi và Riyadh. Sáu mươi nguyên nhân đã được xác định và phân tích nhằm tìm ra mức độ thường xuyên và mức độ nghiêm trọng của các nguyên nhân. Những lý do quan trọng nhất gây chậm trễ đã được xác định trong nghiên cứu là: van dé tài chính, thay đối trong thiết kế và quy mô của dự án, chậm trễ trong việc ra quyết định của chủ dau tư, khó khăn trong việc phối hợp và liên lạc giữa các bên,. AI Momani AH [7| nghiên cứu phân tích định lượng về chậm trễ xây dựng.
Nghiên cứu điều tra nguyên nhân chậm trễ ở 130 dự án nhà ở, văn phòng, nhà công vụ, trường học, y tế và phương tiện truyền thông tai Jordan nhăm hỗ trợ việc quản lý xây dựng trong việc thiết lập đánh giá đầy đủ trước khi kí kết hợp đồng. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra những nguyên nhân chủ yêu gây cham tre liên quan đền -10- thiết kế, thay đối chủ sở hữu, thời tiết, điều kiện công trường, chậm chỉ trả, điều kiện kinh tế và vượt khối lượng. Assaft SA, Al-Khalil M, Al-Hazmi M [8] nghiên cứu về những nguyên nhân chậm trễ xây dựng trong những dự án xây dựng cao ốc lớn. 24 nhà thâu, 15 đơn vi tư vấn và 9 chủ đầu tư đã được lựa chọn ngẫu nhiên để thực hiện khảo sát.
Nghiên cứu vạch ra những nguyên nhân chính của sự chậm trễ trong các dự án xây dựng lớn ở A Rập Saudi và tầm quan trọng tương đối của các nguyên nhân, sự đồng thuận giữa các bên (nhà thầu — chủ đầu tư, nhà thầu — tư van, chủ đầu tư — tư van) về các nguyên nhân chậm trễ trong xây dựng. Chan DW, Kumaraswamy MM [9] nghiên cứu so sánh về nguyên nhân trễ tiễn độ trong các dự án xây dựng tại Hong Kong. Nghiên cứu trình bày kết quả nghiên cứu xác định và đánh giá tầm quan trọng tương đối của các yếu tố gây chậm trễ trong các dự án xây dựng ở Hong Kong. §3 nguyên nhân chậm trễ đã được xác định trong nghiên cứu.
Những lý do chính cho sự chậm trễ được phân tích và xếp hạng theo các nhóm khác nhau được phân loại trên cơ sở: a) vai trò của các bên trong ngành xây dựng địa phương (tức là khách hàng, tư van hoặc nha thầu) và b) các loại dự án. Kết quả nghiên cứu đưa ra 5 nguyên nhân chính và thường xuyên gây chậm trễ, đó là : quản lý và giám sát công trường kém, địa chất phức tạp, chậm trễ trong VIỆC ra quyết định, sự thay đôi do chủ đầu tư, sự thay đôi cần thiết trong các công tác.