Chương 1 tập trung vào việc xác định vấn đề, mục tiêu, câu hỏi và giới hạn phạm vi nghiên cứu. Tiếp đến trong Chương 2 là phần tổng hợp các cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến luận văn. Chương 3 là phần đề xuất khung phân tích dựa trên phần tổng quan cơ sở lý thuyết trong Chương 2 và trình bày cụ thể phương pháp và các bước tiến hành nghiên cứu để đạt được mục tiêu đề ra. Các kết quả nghiên cứu chính rút ra được trình bày trong Chương 4 và cuối cùng là phần kết luận cũng như giải pháp để cải thiện việc chậm trễ tiến độ được trình bày trong Chương 5.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Một số khái niệm liên quan Dự án đầu tư xây dựng Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng, Luật Xây dựng (2014).
Tiến độ dự án và sự chậm trễ tiến độ dự án Tiến độ dự án là khoảng thời gian thực hiện dự án từ khi bàn giao mặt bằng thi côngđến khi kết thúc hoàn thành dự án bàn giao đưa vào sử dụng. Chậm tiến độ trong dự án xây dựng có thể được định nghĩa là sự vượt quá thời gian so với thời gian hoàn thành đã được xác định trong hợp đồng hay vượt quá thời gian mà các bên liên quan đã đồng ý với nhau về thời gian hoàn thành dự án, Assaf (1995). Xét về tính chất, có thể chia làm 2 loại chậm tiến độ nghiêm trọng và chậm tiến độ không nghiêm trọng (Critical và Non-Critical delay). Độ nghiêm trọng của chậm tiến độ được xét dựa trên chậm tiến độ có hay không ảnh hưởng đến toàn bộ tiến độ của dự án.
Thực tế, có nhiều chậm tiến độ không ảnh hưởng đến đến sự hoàn thành của toàn bộ dự án hay các mốc quan trọng, các chậm tiến độ này được xem là chậm tiến độ không quan trọng. Chậm tiến độ có thể gây ảnh hưởng đến tiến độ của toàn dự án được xem là chậm tiến độ nghiêm trọng. Xét về chủ thể gây ra chậm tiến độ, có 3 loại trễ tiến độ, Alaghbari (2005). Thứ nhất, trễ tiến độ do chủ đầu tư (Compensable delays): các nguyên nhân chủ yếu liên quan đến việc thay đổi trong thiết kế hoặc cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến bản vẽ thiết kế,.Đối với hình thức này, giải pháp đề xuất là nên đền bù 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chi phí phát sinh cho nhà thầu và tăng thời hạn hoàn thành hợp đồng.
Thứ hai, trễ tiến độ không thể bỏ qua (Non-excusable delays): nguyên nhân chính gây nên sự chậm trễ là do các nhà thầu chính hoặc nhà thầu phụ. Trong trường hợp này, nhà thầu sẽ không nhận được đền bù hay gia hạn thời gian hoàn thành hợp đồng từ chủ đầu tư, thay vào đó, nhà thầu phải bố trí, tăng mật độ làm việc theo đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng. Thứ ba, là các tình huống trễ tiến độ bất khả kháng (Excusable delays): nguyên nhân chính trong trường hợp này đến từ các vấn đề phát sinh không lường trước do các yếu tố bên ngoài gây ra như điều kiện thời tiết, thiên tai,. Trong trường hợp này, giải pháp được đề xuất là nên gia hạn thời gian hoàn thành dự án nhưng không có sự hỗ trợ thêm kinh phí từ bên nào, giải pháp tương tự như đề xuất của Ahmed và cộng sự (2003).
Trong một quan điểm khác về các chủ thể gây ra nguyên nhân làm chậm tiến độ, Tumi và cộng sự (2009) phân chia thành 2 dạng chậm tiến độ cơ bản là chậm tiến độ có thể tha thứ được và chậm tiến độ không thể tha thứ được. Chậm tiến độ không thể tha thứ được là dạng chậm tiến độ gây ra do nhà thầu không tuân thủ hợp đồng đã được thỏa thuận hoặc do các bên cung cấp dịch vụ cho nhà thầu gây ra chậm tiến độ. Nhà thầu thường phải chịu trách nhiệm chính và phải đền bù khoảng thời gian chậm trễ cho chủ đầu tư. Nguyên nhân gây ra chậm tiến độ loại này có thể là do thầu phụ chậm tiến độ, nhà thầu quản lý công trình không hiệu quả, tài chính của nhà thầu không đáp ứng được yêu cầu, thiếu lao động, không đáp ứng được kế hoạch thi công đề ra và các nguyên nhân khác.
Chậm tiến độ có thể tha thứ được là chậm tiến độ gây ra bởi việc hành động hay không hành động của chủ đầu tư. Khi nhà thầu gặp dạng nhân tố gây ra chậm tiến độ loại này, họ có thể kéo dài thời gian thi công hoặc được đền bù do sự chậm tiến độ vì dạng chậm tiến độ này làm nhà thầu phát sinh các chi phí thêm. Sự chậm tiến độ này thường được gây ra bởi các tình huống không lường được và không phải là lỗi của nhà thầu như: thiên tai, động đất, dịch bệnh, lũ lụt,… 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chủ đầu tư Chủ đầu tư là cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu vốn, vay vốn hoặc được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tư xây dựng dự án, Luật Xây dựng (2014). Trong phạm vi của nghiên cứu này, chủ đầu tư chủ yếu là Sở Xây dựng tỉnh Long An.
Nhà thầu xây dựng bao gồm: Nhà thầu trong hoạt động đầu tư xây dựng (sau đây gọi là nhà thầu) là các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động đầu tư xây dựng, Luật Xây dựng (2014). Trong phạm vi của nghiên cứu này, đối tượng nhà thầu quan tâm là những đối tượng đã từng tham gia ít nhất một dự án đầu tư xây dựng do Sở Xây dựng Long An làm chủ đầu tư trong giai đoạn 2010 - 2015. Nhà thầu chính là nhà thầu chịu trách nhiệm tham dự thầu, đứng tên dự thầu và trực tiếp ký, thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn. Nhà thầu chính có thể là nhà thầu độc lập hoặc thành viên của nhà thầu liên danh.
Nhà thầu phụ là nhà thầu tham gia thực hiện gói thầu theo hợp đồng được ký với nhà thầu chính. Nhà thầu phụ đặc biệt là nhà thầu phụ thực hiện công việc quan trọng của gói thầu do nhà thầu chính đề xuất trong hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất trên cơ sở yêu cầu ghi trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu. Nhà thầu tư vấn Nhà thầu tư vấn là nhà thầu tham gia đấu thầu cung cấp các sản phẩm đáp ứng yêu cầu về kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn, Luật Xây dựng (2014). Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Mansfield và ctg (1994) cho thấy nguyên nhân trễ tiến độ gồm: vốn tài trợ cho dự án (tức năng lực tài chính), vấn đề thanh toán, năng lực quản lý của các bên, thay đổi điều kiện môi trường tại điểm thi công, thiếu hụt nguồn nguyên liệu và phương án triển khai thiếu hiệu quả.
Nghiên cứu của Chan và Kumaraswamy (1998) cũng cho kết luận tương tự. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiên cứu của Assaf và ctg (1995) cho thấy các nguyên nhân chính dẫn đến chậm trễ tiến độ gồm: sự chậm trễ của nhà thầu xây dựng trong việc ra quyết định, thiếu hụt lao động và thiếu lao động có kỹ năng hay thay đổi thiết kế của chủ đầu tư. Ogunlana và Promkuntong (1996) chỉ ra nguyên nhân chậm trễ gồm thiếu hụt máy móc thiết bị tại địa điểm thi công và một số nguyên nhân khác do cả phía chủ đầu tư và các đơn vị nhà thầu. Mezher và Tawil (1998) thì phát hiện rằng: Chủ đầu tư thì cho rằng nguyên nhân nằm ở vấn đề tài chính; Nhà thầu thi công thì cho rằng nguyên nhân là do vấn đề của hợp đồng; Đơn vị tư vấn thì cho rằng vấn đề quản lý dự án là nguyên nhân chính.
Al-Moumani (2000) nghiên cứu các dự án đầu tư xây dựng trong khu vực công và cho thấy nguyên nhân chính là do vấn đề thay đổi thiết kế của đơn vị thụ hưởng, điều kiện thời tiết, điều kiện nơi thi công, khả năng cung ứng nguyên vật liệu cần thiết chậm trể và điều kiện phát triển của nền kinh tế. Frimpong và Oluwoye (2003) thì cho thấy 4 nhóm nguyên nhân chính gồm năng lực tài chính của nhà thầu, điều kiện nền kinh tế (tức năng lực tài chính của chủ đầu tư), điều kiện thời tiết, tự nhiên tại nơi dự án và khả năng cung ứng nguồn nguyên liệu. Trong khi đó, yếu tố do năng lực của người lao động là không đáng kể. Alaghbari (2007) cho thấy các nguyên nhân chính dẫn đến chậm trễ tiến độ dự án xây dựng tại Malaysia có thể chia thành 4 nhóm gồm: Chủ đầu tư, nhà thầu thi công, đơn vị tư vấn và nhóm các yếu tố bên ngoài (thời tiết, thị trường cung ứng nguyên liệu, giao thông kết nối đến dự án,.) Adel Al-Kharashi và Martin Skitmore (2009) nghiên cứu nguyên nhân gây chậm trễ tiến độ các dự án công tại Arap Saudi cho nguyên nhân chính là vấn đề chậm trễ trong việc thanh toán cho nhà thầu và các nguyên nhân khác,.
Hemanta Doloi và ctg (2011) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến trễ tiến độ tại Ấn Độ và cho thấy có một nhân tố chính ảnh hưởng đến chậm trễ tiến độ gồm: sự thiếu cam kết của các bên trong việc thực thi các quy định của hợp đồng; kế 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạch triển khai và phương án thi công kém hiệu quả; thiếu các nhân tố chủ chốt có chuyên môn tại hiện trường để xử lý và đưa ra các phương án kịp thời; thiếu sự liên lạc trao đổi giữa các bên trong quá trình triển khai; hợp đồng thiếu chặt chẽ,.