chương 1, tác giả đã trình bày thực trạng từ quá trình hình thành KCX và KCN trên địa bàn thành phố, qua đó phát sinh những vướng mắc gây ảnh hưởng đến tiến độ trong quá trình triển khai, thực hiện dự án xây dựng hạ tầng các KCX và KCN. Trong chương này tác giả liệt kê một số định nghĩa, cơ sở lý thuyết, nghiên cứu các nghiên cứu trước và tham khảo ý kiến chuyên gia để đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ trong quá trình triển khai, thực hiện dự án xây dựng hạ tầng các KCX và KCN và đưa ra mô hình nghiên cứu 2.1 Một số khái niệm Dự án đầu tư xây dựng: là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật: gồm công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa trang và công trình khác.
Hệ thống công trình hạ tầng xã hội: gồm công trình y tế, văn hoá, giáo dục, thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên và công trình khác. Khu công nghiệp: là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định số: 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 [3]. Khu chế xuất: là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định số: 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 [3].2 Trình tự thực hiện đầu tư xây dựng công trình Theo Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 [11] về trình tự thực hiện đầu tư xây dựng công trình như sau: a) Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án; b) Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác; c) Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo hành công trình xây dựng.3 Trình tự thực hiện đầu tư xây dựng công trình tại KCX – KCN TP Hồ Chí Minh Hình 2.1 Các giai đoạn quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Chủ đầu tư lập quy hoạch dự án Xin thỏa thuận của Hepza Chuyển sở quy hoạch kiến trúc và các sở liên quan Trình UBND TP phê duyệt Lấy ý kiến bộ xây dựng Triển khai thực hiện dự án 13 Chủ đầu tư lập quy hoạch dự án: Chủ đầu tư có năng lực tự thực hiện hoặc thuê đơn vị tư vấn để lập quy hoạch dự án. Các dự án được định hướng theo nhu cầu khai thác khu công nghiệp của chủ đầu tư.
Xin thỏa thuận của Hepza: Sau khi chủ đầu tư hoàn chỉnh đồ án quy hoạch dự án, phải xin thỏa thuận phương án quy hoạch ở Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp TP Hồ Chí Minh. Quy trình thông thường khoảng 20 ngày làm việc. Chuyển sở Quy hoạch – Kiến trúc và các Sở liên quan thẩm định: Khi được Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp TP Hồ Chí Minh ban hành văn bản thỏa thuận, chủ đầu tư nộp hồ sơ tại sở Quy hoạch – Kiến trúc và các Sở liên quan để thẩm định các nội dung liên quan đến hạ tầng kỹ thuật như: Điện, cấp nước, thoát nước mưa, thoát nước thải, đường giao thông nội bộ, viễn thông, PCCC, môi trường, hành lang bảo vệ kênh rạch…Quy trình thường trên 6 tháng đến 1 năm. Trình Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt: Sở Quy hoạch – Kiến trúc tập hợp hoàn chỉnh hồ sơ quy hoạch dự án và ý kiến đồng thuận của các sở ngành liên quan trình lên Ủy ban thành phố phê duyệt.
Quy trình là 40 ngày làm việc. Lấy ý kiến của Bộ xây dựng: Một mặt khi nhận được quyết định phê duyệt dự án của Ủy ban thành phố, chủ đầu tư lập hồ sơ trình Bộ xây dựng thẩm định thiết kế cơ sở. Quy trình là 20 ngày làm việc. Mặt khác chủ đầu tư thực hiện các thủ tục liên quan đến bàn giao đất trên thực địa với Sở tài nguyên và môi trường và giải quyết các vấn đề về giải tỏa, đền bù và giải phóng mặt bằng.
Triển khai thực hiện dự án: Khi bộ Xây dựng có ý kiến về thẩm định thiết kế cơ sở thì chủ đầu tư mới tiến hành triển khai thực hiện dự án Như vậy để triển khai thực hiện một dự án hạ tầng tại KCX – KCN chủ đầu tư phải qua rất nhiều khâu, thủ tục pháp lý rườm rà, nếu hồ sơ phù hợp với các quy định hiện hành thì chủ đầu tư mất khoảng 1 năm, nếu hồ sơ không phù hợp ở bất kì khâu nào thì phải thực hiện lại.4 Tiến độ thực hiện dự án 2.1 Khái niệm tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình vừa là một nghệ thuật vừa là một 14 sự phối hợp có khoa học giữa thiết bị, vật tư, con người, kinh phí nhằm hoàn thành công trình xây dựng đạt chất lượng , đảm bảo thời gian và sử dụng kinh phí hợp lý. Do vậy quản lý dự án trở thành yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại của dự án. Để thực hiện mục tiêu của dự án, chủ đầu tư phải lên kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, điều hành, khống chế và định giá toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án. Muốn vậy thì cần phải quản lý chặc chẽ các vấn đề liên quan trực tiếp đến công trình đầu tư xây dựng bao gồm: 2.1 Quản lý tiến độ thi công xây dựng: Công trình xây dựng trước khi triển khai phải được lập tiến độ thi công xây dựng.
Tiến độ thi công xây dựng phải phù hợp với tổng tiến độ của dự án đã được phê duyệt. Đối với công trình xây dựng có quy mô lớn và thời gian thi công kéo dài thì tiến độ xây dựng công trình phải được lập cho từng giai đoạn theo tháng, quý, năm. Nhà thầu thi công xây dựng công trình có nghĩa vụ lập tiến độ thi công xây dựng chi tiết, bố trí xen kẽ kết hợp các công việc cần thực hiện nhưng phải đảm bảo phù hợp với tổng tiến độ dự án. Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát và các bên có liên quan có trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng công trình và điều chỉnh tiến độ trong trường hợp tiến độ thi công xây dựng ở một số giai đoạn bị kéo dài nhưng không được làm ảnh hưởng đến tổng tiến độ dự án.
Trường hợp xét thấy tổng tiến độ dự án bị kéo dài thì chủ đầu tư phải báo cáo người quyết định đầu tư để đưa ra quyết định việc điều chỉnh tổng tiến độ của dự án [11].2 Quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình Việc thi công xây dựng công trình phải được thực hiện theo khối lượng của thiết kế được duyệt. Khối lượng thi công xây dựng được tính toán, xác nhận giữa chủ đầu tư , nhà thầu thi công xây dựng , tư vấn giám sát theo thời gian hoặc giai đoạn thi công và 15 được đối chiếu với khối lượng thiết kế được duyệt để làm cơ sở nghiệm thu , thanh toán theo hợp đồng. Khi có khối lượng phát sinh ngoài thiết kế, dự toán xây dựng phải xem xét xử lý. Riêng đối với công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước, khi có khối lượng phát sinh ngoài thiết kế, dự toán xây dựng công trình làm vượt mức đầu tư thì chủ đầu tư phải báo cáo người quyết định đầu tư để xem xét, quyết định.
Khối lượng phát sinh được chủ đầu tư hoặc người quyết định đầu tư chấp thuận phê duyệt là cơ sở để thanh toán, quyết toán công trình [11].3 Quản lý chất lượng công trình : Hiện nay đã có rất nhiều văn bản được ban hành để đảm bảo quản lý chất lượng công trình .Tuy nhiên, đa số chất lượng công trình hiện nay đều không đảm bảo, nhiều công trình vừa đưa vào sử dụng đã xuống cấp nghiêm trọng. Do vậy công tác quản lý chất lượng công trình phải được đảm bảo từ khi bắt đầu đến khi kết thúc dự án, xuyên suốt các giai đoạn của quá trình đầu tư dự án. Để nâng cao chất lượng công trình CĐT cần phải phối hợp chặt chẽ với các bên liên quan [11].4 Quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng: Nhà thầu thi công xây dựng phải lập các biện pháp an toàn cho người và công trình trên công trình, công trường đang xây dựng. Trường hợp các biện pháp an toàn liên quan đến nhiều bên thì phải được các bên thỏa thuận.