CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH.1 Du lịch: Luật du lịch được Quốc hội thông qua năm 2005 đã đưa ra khái niệm: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Từ những khái niệm trên, có thể rút ra những luận điểm cơ bản về du lịch sau: - Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên. - Chuyến du lịch ở nơi đến mang tính tạm thời, trong một thời gian ngắn. - Mục đích của chuyến du lịch là thoả mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng hoặc kết hợp đi du lịch với giải quyết những công việc của cơ quan và nghiên cứu thị trường, nhưng không vì mục đích định cư hoặc tìm kiếm việc làm để nhận thu nhập nơi đến viếng thăm.
- Du lịch là thiết lập các quan hệ giữa khách du lịch với nhà cung ứng các dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương và dân cư ở địa phương.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: 1.1 Khái niệm: - Theo nghĩa rộng, CSVCKTDL là toàn bộ các phương tiện kỹ thuật được huy động tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ và hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu của du khách trong các chuyến hành trình của họ. đây chính là các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng xã hội đảm bảo điều kiện chung cho việc phát triển du lịch. Bao gồm các yếu tố CSVC của ngành du lịch và CSVCKT của các ngành khác trong nền kinh tế tham gia vào việc khai thác các tiềm năng du lịch như: hệ thống đường sá, cầu cống, bưu chính viễn thông, điện, nước,. - Theo nghĩa hẹp, CSVCKTDL được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng du 5 lịch, tạo ra các sản phẩm dịch vụ và hàng hoá cung cấp và làm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch.
Bao gồm: Hệ thống nhà hàng, khách sạn, các khu vui chơi giải trí, các phương tiện vận chuyển,. bao gồm cả các công trình kiến trúc bổ trợ. Đây là các yếu tố đặc trưng trong hệ thống CSVCKT của ngành du lịch, là yếu tố trực tiếp đảm bảo điều kiện cho các dịch vụ du lịch được tạo ra và cung ứng cho du khách. Việc phân chia theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp chỉ có tính chất tương đối vì đôi khi các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng cũng được tạo ra ngay trong các khu du lịch, và thậm chí ngay trong một khách sạn.2 Cơ cấu cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: a.
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ các hoạt động trung gian: Là hệ thống CSVCKT của các đại lý, văn phòng và công ty lữ hành du lịch - Các văn phòng. - Các trang thiết bị văn phòng. - Các phương tiện thông tin liên lạc. - Các phần mềm hệ thống hỗ trợ tác nghiệp kinh doanh và quản lý.
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ vẩn chuyển du lịch - Các phương tiện vận chuyển - Các CSVCKT phục vụ quản lý, điều hành, bán vé,các hoạt động khác. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ lưu trú - Đây là phần đặc trưng nhất trong hệ thống cơ sở vật chất-kỹ thuật du lịch. Bao gồm: các khách sạn, motel, nhà trọ, biệt thự, bungalow,. - Thành phần chính của hệ thống này là các toà nhà với các phòng nghỉ và trang thiết bị tiện nghi đảm bảo điều kiện sinh hoạt hằng ngày cho khách hàng sử dụng dịch vụ.
- Các công trình đặc biệt bổ trợ tham gia vào việc tạo khung cảnh môi trường: các khuôn viên, hệ thống giao thông nội bộ. 6 Các loại hình phục vụ lưu trú tồn tại khá phong phú và đa dạng về quy mô, thể loại, hình thức. Tuy nhiên chúng đều được tạo ra trên cơ sở những quy định nghiêm ngặt của các chuẩn mực dịch vụ được xây dựng thành những tiêu thức hết sức cụ thể. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ ăn uống - CSVCKT Phục vụ ăn uống có thể nằm trong hệ thống phục vụ lưu trú cũng có thể tồn tại độc lập.
Bao gồm: - CSVCKT của khu chế biến và bảo quản thức ăn (Bộ phận bếp) - CSVCKT của bộ phận phục vụ ăn (Phòng tiệc, quầy bar) e. Cơ sở vật chất kỹ thuật của dịch vụ bổ sung: - Là các công trình, thiết bị nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách trong việc tiêu dùng các dịch vụ và sử dụng triệt để các yếu tố tài nguyên, nó thường gắn liền với các cơ sở lưu trú và quy mô của nó phụ thuộc vào quy mô của bộ phận lưu trú. Bao gồm: Khu vực giặt là, sân tenis, bể bơi, vật lý trị liệu, cắt tóc,. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ vui chơi giải trí: - Cơ sở này bao gồm các trung tâm thể thao, phòng tập, bể bơi, sân tenis, các công viên, khu vui chới giải trí.
Cũng có thể tồn tại độc lập hoặc gắn liền với các cơ sở lưu trú.3 Đặc điểm cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch a. CSVCKTDL có mối quan hệ mật thiết với tài nguyên du lịch. • Mối quan hệ thống nhất: - Muốn khai thác tài nguyên du lịch thì phải có CSVCKTDL đi kèm, vì: CSVCKTDL là yếu tố đảm bảo điều kiện thuận lợi cho du khách trong quá trình tham quan tìm hiểu về tài nguyên du lịch. - Việc đầu tư CSVCKTDL phải gắn với vấn đề quy hoạch khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch, nếu đầu tư ở những nơi không có tài nguyên 7 du lịch thì nó chỉ là hệ thống cơ sở vật chất thông thường mà không phải là hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch.
Như vậy, tài nguyên du lịch có vai trò quyết định quy định CSVCKTDL, ngược lại, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cũng có những tác động tích cực đến tài nguyên du lịch. Nếu đầu tư phù hợp, CSVCKTDL sẽ góp phân tô điểm cho tài nguyên du lịch, đôi khi cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được xây dựng độc đáo, đẹp và hấp dẫn lại trở thành tài nguyên du lịch. • Mối quan hệ mâu thuẫn Mối quan hệ mâu thuẫn được thể hiện ở những tác động tiêu cực từ hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật nếu như việc đầu tư không hợp lý, kể cả giai đoạn hình thành ý tưởng dự án, giai đoạ giải phóng mặt bằng, thi công xây dựng cho đến khi khai thác sử dụng,. Những điều đó có thể làm giảm tính hấp dẫn của tài nguyên du lịch hoặc gây ra những hậu quả khác về môi trường và những chi phí không nhỏ cho việc khắc phục.
CSVCKTDL có tính đồng bộ cao trong xây dựng và sử dụng. • Xuất phát điểm: Nhu cầu du lịch là nhu cầu mang tính chất tổng hợp bao gồm cả nhu cầu thiết yếu, nhu cầu đặc trưng và nhu cầu bổ sung, các nhu cầu này đòi hỏi phải được thoả mãn đồng thời, vì vậy CSVCKTDL cũng phải mang tính đồng bộ cao. • Biểu hiện: - Phải đầy đủ các thành phần theo quy định của một hệ thống, công trình phải được xây dựng đồng thời, cần hạn chế tối đa việc xây dựng nhiều lần , nhiều giai đoạn. - Phải đảm bảo sự hài hoà cân đối giữa các khu vực trong một tổng thể theo một yếu tố trung tâm.
Như sự hài hoà giữa khu vực buồng ngủ với nhà hàng, giữa các khu vực chính với các công trình bổ trợ. - Phải đảm bảo sự đồng bộ về mặt thiết kế và xây dựng, chẳng hạn về màu sắc, diện tích, kiểu dáng,. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch có giá trị một đơn vị công suất sử dụng cao. Giá trị một đơn vị công suất sử dụng là tổng vốn đầu tư chia cho công suất thiết kế.
Chẳng hạn: Giá trị một đơn vị công suất sử dụng của Tổng vốn đầu tư XD khách sạn = K.Sạn (Vốn đầu tư cho một phòng) Số lượng phòng KS theo thiết kế Theo thống kê, giá trị một đơn vị công suất sử dụng được xác định: Khách sạn 3 *: 60.000USD Khách sạn 4 *: 90.000USD Khách sạn 5 *: 120.000USD Nguyên nhân: - Nhu cầu du lịch là nhu cầu đa dạng và tổng hợp, đòi hỏi những tiện nghi đầy đủ, sang trọng và chất lượng - Khách du lịch đòi hỏi cao về cảnh quan, môi trường (Thường chiếm 60% diện tích và chi phí không nhỏ về hệ thống giao thông nội bộ, khuôn viên, đài phun nước,.) - Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đòi hỏi tính đồng bộ chất lượng cao trong xây dựng và sử dụng - Tính thời vụ trong du lịch (phải tính cho khoảng thời gian không sử dụng và chi phí cho hoạt động duy tu, bảo dưỡng). Thời gian hao mòn thành phần chính của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tương đối dài - Thành phần chính của CSVCKTDL là các công trình kiến trúc kiên cố, tồn tại trong thời gian dài: 10 – 20 năm, thậm chí lâu hơn. - Chi phí cho dịch vụ tiêu dùng của khách chủ yếu là nguyên vật liệu và nhân công, vì vậy giá trị hao mòn tài sản cố định trong giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch là rất thấp. 9 - Việc đầu tư xây dựng CSVCKTDL phải đảm bảo sự phù hợp lâu dài, tránh tình trạng thường xuyên cải tạo, nâng cấp, vừa tốn kém chi phí vừa thiếu ổn định và đồng bộ trong hoạt động kinh doanh.
Một số thành phân của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được sử dụng không cân đối - Tính không cân đối theo thời gian do tính thời vụ trong du lịch. - Tính không cân đối theo thành phần của sản phẩm do nhu cầu của các loại khách khác nhau thì khác nhau. Từ các đặc điểm trên mà trong nghiên cứu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch phải được xem xét một cách toàn diện từ nhiều góc độ khác nhau và phải được đặt trong mối quan hệ với môi trường và tài nguyên du lịch.4 Yêu cầu đối với cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hiện nay a. Mức độ tiện nghi - CSVCKTDL đòi hỏi mức độ cao về điều kiện tiện nghi, hiện đại và thuận tiện cả về mặt lượng, mặt chất và sự liên tục, nó sẽ đem lại cảm giác thoải mái, dễ chịu cho du khách.
Mặt khác, tính nghi, hiện đại và tiện lợi cũng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện dịch vụ của người lao động.